VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG THỦY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG THỦY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số:
60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
gian qua..........................................................................................................................37
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG ...........................................................................................................63
3.1. Quan điểm và mục tiêu bảo vệ môi trường quận Ngũ Hành Sơn ..........................63
3.2. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn
quận Ngũ Hành Sơn trong thời gian tới ........................................................................65
KẾT LUẬN ..................................................................................................................76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT
Bảo vệ môi trường
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
HĐND
Hội đồng nhân dân
MT
Môi trường
Tình hình xử phạt hành chính các vi phạm về thực hiện chính
2.3.
sách bảo vệ môi trường tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà
58
Nẵng giai đoạn 2011-2015
2.4.
Diễn biến lượng khách du lịch đến quận Ngũ Hành Sơn,
thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2015
59
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
hình
Trang
1.1.
Hệ thống quản lý nhà nước về môi trường hiện nay ở nước ta
tồn tại, phát triển của các thế hệ trong hiện tại và tương lai.
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của môi trường và những tác hại
do ô nhiễm môi trường đem lại, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành
nhiều chủ trương, chính sách về bảo vệ môi trường, điển hình là Nghị quyết số 41NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Luật Bảo vệ môi trường
năm 1993, năm 2005 và mới đây nhất là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Nghị
định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ qui định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường …
Việc tổ chức thực hiện các chính sách về bảo vệ môi trường đã đem lại kết
quả nhất định, giúp cho môi trường đỡ bị ô nhiễm, chất lượng môi trường được cải
thiện cũng như ngăn chặn, phòng ngừa sự suy giảm chất lượng môi trường. Tuy
vậy, ở nhiều nơi môi trường vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, có lúc đã đến
mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy giảm
mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; khối lượng phát sinh
và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên trong nhiều
trường hợp bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng; điều
kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm. Trong đó,
đặc biệt là vấn đề ô nhiễm do chất thải thải ra môi trường ít qua xử lý ở hầu hết các
địa phương nước ta đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng. Sự cố môi trường
biển miền Trung tháng 4 năm 2016 vừa qua diễn ra trên diện rộng (4 tỉnh miền
1
trung) do việc vi phạm trong hoạt động xả thải của Công ty TNHH Gang Thép
Hưng Nghiệp Formosa (Khu kinh tế Vũng Áng), đã gây ra hậu quả lớn về kinh tế,
xã hội, môi trường trước mắt và lâu dài; ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành đánh
bắt, nuôi trồng, chế biến thuỷ, hải sản, làm muối, dịch vụ hậu cần nghề cá, du lịch;
làm xáo trộn, gây mất an ninh trật tự, tâm lý bức xúc, bất an trong nhân dân. Vụ
việc đang được Chính phủ tập trung chỉ đạo xử lý đối với tổ chức, cá nhân vi phạm
và khắc phục hậu quả nhưng đây là cái giá quá đắt phải trả cho việc buông lỏng
đầy bụi và tiếng ồn, một số dự án triển khai nhưng tiến độ chậm dẫn đến tình trạng
ngập úng cục bộ, phát sinh ruồi muỗi gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường
tại các cơ sở sản xuất đá mỹ nghệ xen lẫn trong khu dân cư, tình trạng ô nhiễm tại
các lô đất trống, nguồn rác thải trong sinh hoạt ngày càng gia tăng,… ảnh hưởng
tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khỏe và đời sống nhân dân.
Để xây dựng quận Ngũ Hành Sơn trở thành quận môi trường, đô thị du lịch,
dịch vụ kiểu mẫu và là trung tâm dịch vụ nghỉ dưỡng, giáo dục - đào tạo, y tế chất
lượng cao, phát triển kinh tế tri thức công nghệ cao, phát huy thế mạnh phát triển
Làng nghề đá mỹ nghệ truyền thống; có môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
lành mạnh theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ quận Ngũ Hành Sơn lần thứ
V, nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra, góp phần cùng thành phố Đà Nẵng xây dựng
thương hiệu “Thành phố môi trường” cần phải rà soát, đánh giá lại tình hình thực
hiện các chính sách bảo vệ môi trường trong thời gian qua, những thành tựu cũng
như những tồn tại, hạn chế chưa khắc phục được, từ đó đề ra các giải pháp nhằm
thực hiện có hiệu quả các chính sách bảo vệ môi trường trên địa bàn quận Ngũ
Hành Sơn.
Xuất phát từ yêu cầu đó, cùng với những kiến thức đã học, bản thân tôi chọn
đề tài “Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn,
thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng
ô nhiễm môi trường, góp phần xây dựng quận Ngũ Hành Sơn trở thành quận du
lịch, quận môi trường trong thời gian đến.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay đang là chủ đề nóng, được các cấp, các
ngành và người dân đặc biệt quan tâm. Đã có rất nhiều bài viết liên quan đến vấn đề
ô nhiễm môi trường và việc thực hiện các chính sách về bảo vệ môi trường trên các
báo, tạp chí, thậm chí đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến chủ đề môi
3
trường và bảo vệ môi trường, cụ thể như:
đưa ra một số các giải pháp khống chế và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình
đô thị hóa và công nghiệp hóa ở thành phố Đà Nẵng;
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hồ Thị Ngọc Quyên tại Đại học Đà Nẵng
“Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm môi trường và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô
nhiễm môi trường tại Làng nghề thủ công đá mỹ nghệ Non Nước, quận Ngũ Hành
Sơn, thành phố Đà Nẵng”; trên cơ sở đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường, tác
giả đã đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường tại
Làng nghề thủ công đá mỹ nghệ Non Nước.
Các nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích. Tuy nhiên, các
nghiên cứu trên chỉ mới đề cập tới các lĩnh vực riêng, chưa có đề tài nào đánh giá một
cách toàn diện về tình hình thực hiện các chính sách về bảo vệ môi trường trên cơ sở
thực tiễn của một địa phương cụ thể là quận Ngũ Hành Sơn. Do đó, tôi chọn đề tài
“Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành
phố Đà Nẵng” cho luận văn thạc sĩ của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách
bảo vệ môi trường;
- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách bảo vệ môi trường tại quận Ngũ
Hành Sơn;
- Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ
môi trường từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo
vệ môi trường.
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, từ đó xác định những mặt được,
điểm đen về ô nhiễm môi trường, gồm quan sát tại chỗ kết hợp với gặp gỡ, trao đổi và
phỏng vấn nhanh, đánh giá nhanh thực tế.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là phương pháp được dùng
khá phổ biến trong nghiên cứu xã hội học, đó là phương pháp đối thoại trực tiếp
với đối tượng nhằm thu thập thông tin và kiểm tra các giả định, theo đó tác giả
6
tiếp xúc với một số cán bộ phụ trách quản lý môi trường, một số tổ chức, đoàn
thể và người dân địa phương để tìm hiểu, phỏng vấn sâu về một số vấn đề trọng
yếu của thực hiện chính sách bảo vệ môi trường với các câu hỏi đã được chuẩn
bị trước.
- Phương pháp phân tích chính sách: Là đánh giá tính toàn vẹn, tính
thống nhất, tính khả thi và hiệu quả của chính sách nhằm điều chỉnh cho phù hợp
với mục tiêu và thực tế.
- Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số
liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình
phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định. Phương pháp này được sử dụng chủ
yếu phục vụ cho nội dung về thực trạng và đánh giá thwujc trạng thực hiện chính
sách ở quận Ngũ Hành Sơn (chương 2).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu và vận dụng các
lý thuyết về chính sách công và quy trình phân tích một chính sách công để làm rõ
vấn đề về khoa học và thực tiễn của một chính sách cụ thể.
- Kết quả đánh giá nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các thuyết liên
quan đến chính sách công, từ đó hình thành các tiến trình đề xuất các giải pháp
chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận dụng
Trong tiếng Anh, “environment” có nghĩa là môi trường, từ này có nguồn gốc
từ một từ tiếng Pháp “environner”, có nghĩa là bao quanh một điểm nào đấy, hay tất
cả những gì bao quanh một điểm trung tâm. Theo cách hiểu như vậy, môi trường có
thể được hiểu là toàn bộ điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa bao quanh có ảnh
hưởng đến cuộc sống của một cá nhân hay cộng đồng. Vấn đề môi trường cũng có
thể được coi là bao gồm các vấn đề như tắc nghẽn giao thông, tội phạm, tiếng ồn
v.v.. Xét về mặt địa lý, môi trường có thể hiểu là một khu vực nào đó hoặc là toàn
bộ hành tinh của chúng ta. Môi trường là tổ hợp các thành phần của thế giới vật chất
làm cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của thế giới sinh vật và con người.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2014 định nghĩa
“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối
với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [14, tr.16]. “Môi trường”
cũng có thể được hiểu là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con
người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, sinh vật ấy.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu các thành tố của môi trường bao gồm:
- Môi trường tự nhiên: là những gì vốn có trong tự nhiên, là tập hợp các yếu tố
vật lý, hóa học, sinh học có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành hệ thống tự nhiên
và vận động theo những quy luật của tự nhiên, ví dụ như: đất, nước, không khí,…
- Môi trường nhân tạo: là những gì con người tạo ra đưa vào môi trường như
chất thải (rắn, lỏng, khí) hoặc làm biến đổi, thay đổi các thành phần của môi trường
tự nhiên, làm cho môi trường tự nhiên (ở khu vực nhất định) trở thành một trạng
thái đặc biệt, như môi trường ở khu vực đô thị hay công trường xây dựng, khu công
nghiệp, …
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống
9
và phát triển. Môi trường có 5 chức năng sau:
- Là không gian sống: con người và các sinh vật khác chỉ có thể tồn tại và phát
triển trong môi trường tự nhiên nhất định. Đó là không gian sống, sinh tồn duy nhất.
gia đình và cá nhân.
- Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo
đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó
với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường
trong lành.
- Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu
chất thải.
- Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn
cầu; BVMT bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia.
- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa,
lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên
phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng
lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường
phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp
luật.
1.1.3. Chính sách bảo vệ môi trường
Chính sách là một thành tố, công cụ của quản lý. Chính sách công là thành tố
của quản lý nhà nước, có thể được hiểu “là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá,
mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một
hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng
hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát
triển của một hệ thống xã hội” (Vũ Cao Đàm, Quản lý học đại cương,1996)
Chính sách công cũng có thể được hiểu “là một tập hợp các quyết định chính
trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải
pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” (Đỗ
Phú Hải - Khoa Chính sách công Học Viện Khoa học Xã hội Việt Nam).
Từ quan niệm trên, chính sách công được hiểu theo nghĩa rộng: là kết quả của
bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững.
Chính sách môi trường được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống tổ chức
quản lý môi trường cùng với sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
12
xã hội, tổ chức nghề nghiệp và các cộng đồng trong xã hội.
Các hình thức tổ chức thực hiện chính sách môi trường rất đa dạng, phong
phú, bao gồm từ các hình thức mang tính hành chính của quản lý nhà nước cho đến
tuyên truyền, vận động, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cũng
như các phong trào bảo vệ môi trường mang tính chất định kỳ và không định kỳ. Hệ
thống tổ chức quản lý môi trường của nhà nước và hệ thống các tổ chức, các cộng
đồng được phối kết hợp với nhau trong tổ chức thực hiện chính sách môi trường
dưới nhiều hình thức khác nhau.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách công nói chung và chính sách bảo vệ
môi trường nói riêng có nhiều và được phân chia thành các nhóm khác nhau. Ở đây
sử dụng cách phân chia thành: nhóm yếu tố chủ quan và nhóm yếu tố khách quan.
1.2.1. Các yếu tố chủ quan
1.2.1.1. Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị của mỗi quốc gia sẽ chi phối cả nội dung lẫn hình thức của
việc xây dựng và triển khai chính sách công, nó phản ánh bản chất của chế độ chính
trị xã hội của quốc gia đó. Trong hệ thống chính trị thì có thể chia các yếu tố nhỏ
hơn nữa. Bao gồm các yếu tố về văn hóa chính trị, hiến pháp, thế chế chính trị [7,
tr.90].
- Văn hóa chính trị
Theo GS. Hoàng Chí Bảo: “Văn hóa chính trị là chất lượng tổng hòa của tri
thức, tình cảm, niềm tin chính trị, tạo thành ý thức chính trị của công dân, thúc đẩy
họ hướng tới những hành động tích cực phù hợp với lý tưởng chính trị, xã hội…”
Văn hóa chính trị tác động mạnh mẽ đến chính sách công nói chung và chính
Hệ thống các giá trị xã hội bao gồm sự đa dạng về văn hóa, truyền thống, thói
quen, phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, các nhóm
lợi ích, nhóm xã hội. Chính sách bảo vệ môi trường phải thể hiện sự tồn tại trong sự
đa dạng và thỏa hiệp của hệ thống các giá trị xã hội. Trong điều kiện đất nước đang
đẩy mạnh quá trình CNH - HĐH đòi hỏi phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao
điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải
vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế
chung của từng cá nhân cũng như của cả loài người trong quá trình sống. Giữa môi
trường và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ: Môi trường là địa bàn và đối tượng
14
của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi
trường. Hiện nay, khi đề cập đến bảo vệ môi trường người ta thường nhấn mạnh đến
các phẩm chất văn hóa, đạo đức và truyền thống kinh doanh như một nhân tố cấu
thành quan trọng của sự phát triển bền vững.
Nhận thức xã hội, đặc biệt là của mỗi người dân, về bảo vệ môi trường được
coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, là cơ sở cho các hành động, hành vi cũng như
tuân thủ các quy định pháp luật, chính sách về bảo vệ môi trường.
1.2.1.3. Năng lực của bộ máy quản lý, trong đó năng lực, trình độ nghiệp vụ
của cán bộ quản lý có vai trò quyết định.
Nếu các cấp chính quyền chưa hoặc chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng
mức đối với công tác bảo vệ môi trường thì thường dẫn đến buông lỏng quản lí,
thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường. Trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ môi trường hạn
chế thường dẫn đến không chỉ làm cho các chính sách về bảo vệ môi trường bất cập
so với thực tiễn đòi hỏi mà còn làm cho chính sách chậm hoặc khó đi vào cuộc
sống, thậm chí cản trở thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường.
1.2.2. Các yếu tố khách quan
- Điều kiện tự nhiên
dục...đã đạt được thì việc phát triển nóng của nền kinh tế trong những năm gần đây
đã gây ra không ít tác động tiêu cực đến môi trường như: tài nguyên thiên nhiên bị
cạn kiệt, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường..., điều đó đã và đang ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe và cuộc sống của con người.
Mặt khác, cùng với sự gia tăng dân số mạnh mẽ và sự hình thành, phát triển
vượt bậc của các ngành nghề sản xuất trong thời gian qua, một mặt thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, mặt khác đã làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng
hóa, nguyên vật liệu, năng lượng và cũng làm gia tăng nhanh chóng lượng chất thải
rắn phát sinh. Chất thải rắn tăng nhanh chóng về số lượng, với thành phần ngày
càng phức tạp đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý, xử lý và BVMT.
Tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế "quá nóng",
gây ra lạm phát, hoặc tăng trưởng kinh tế cao làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng
thời cũng có thể làm cho sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội tăng lên vì sự chênh
lệch giữa tốc độ tăng trưởng ở nông thôn và đô thị. Chính điều này là nguy cơ tiềm
ẩn nhiều yếu tố tác động xấu đến đời sống và môi trường sống của người dân. Thời
16
gian qua, để đạt bằng được các mục tiêu phát triển kinh tế tỉnh, các mối liên quan về
môi trường sinh thái đã bị bỏ qua, thiếu sự tôn trọng khi ứng dụng khoa học tự
nhiên và khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, khai thác các nguồn tài
nguyên thiên nhiên một cách quá mức, dẫn đến hệ sinh thái bị mất cân đối nghiêm
trọng, ô nhiễm môi trường có xu hướng gia tăng.
1.3. Các bước tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường thông qua 7 bước cơ bản.
Mỗi một bước trong tổ chức thực hiện điều cần có sự đầu tư nghiêm túc, không coi
trọng bước này hay bước kia, nó có sự liên kết chặt chẻ và tương hỗ lẫn nhau.
1.3.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường là quá trình phức tạp lại diễn
ra trong thời gian dài do đó cần phải xây dựng kế hoạch. Các cơ quan từ trung ương
tập huấn, huấn luyện, họp nhóm, tham quan, khảo sát…hay tiếp cận truyền thông
qua những buổi biểu diễn lưu động, tham gia hội diễn, các chiến dịch, tham gia các
lễ hội, các ngày kỷ niệm... Nội dung tuyên truyền, phổ biến giáo dục phù hợp với
các thành phần, đối tượng tham gia; gắn nghĩa vụ và trách nhiệm của từng đơn vị,
cá nhân trong công tác BVMT nhằm nâng cao nhận thức và giáo dục cộng đồng về
sức khỏe, vệ sinh môi trường và thực hiện nếp sống vệ sinh.Tạo cơ hội cho mọi
thành phần trong xã hội tham gia vào việc bảo vệ môi trường, xã hội hoá công tác
BVMT.
1.3.3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Đa số các chính sách bảo vệ môi trường được triển khai thực hiện trong phạm
vi cả nước và có nhiều đơn vị tham gia, do đó cần phải có sự phân công, phối hợp
chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp để đem lại hiệu quả cao hơn và duy
trì sự ổn định của chính sách.
1.3.4. Duy trì chính sách bảo vệ môi trường
Là hoạt động đảm bảo cho chính sách bảo vệ môi trường tồn tại và phát huy
được tác dụng trong môi trường thực tế. Để duy trì được chính sách bảo vệ môi
trường đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và cán bộ phụ trách môi
trường ở các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở phải hiểu rõ chính sách, tạo điều kiện và môi
trường thuận lợi để chính sách được thực thi tốt. Các tổ chức, cá nhân (chủ thể chấp
hành chính sách) phải có trách nhiệm tham gia thực thi chính sách một cách tích cực
để duy trì chính sách. Trường hợp gặp phải khó khăn do môi trường biến động, các
18