VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH
BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số:
834 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN DANH SƠN
HÀ NỘI, năm 2018
1
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quận Ngũ Hành Sơn nằm về phía Đông Nam của thành phố Đà Đẵng và
được đánh giá là quận có tiềm năng du lịch to lớn, thể hiện qua những điều kiện
thuận lợi do hệ thống sản phẩm du lịch phong phú như các di tích lịch sử cách
xác định góp phần cùng thành phố Đà Nẵng xây dựng thương hiệu “Thành phố
đáng sống”, thành phố du lịch, thành phố thông minh.
Sự phát triển du lịch đã giúp diện mạo quận phát triển, chất lượng cuộc sống
của người dân được nâng cao. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách để phát triển du
lịch ở quận Ngũ Hành Sơn vẫn còn nhiều tồn tại và thách thức lớn.
Xuất phát từ thực tiễn thiết thực và tính cấp bách của vấn đề, tôi chọn đề
tài “Thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn quận Ngũ Hành
Sơn, Thành phố Đà Nẵng” cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu được công bố trên các sách báo, tạp chí,
luận văn, đề tài khoa học về phát triển và chính sách phát triển du lịch bền vững,
như:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2010) “Các giải pháp phát triển bền
vững du lịch sinh thái tại Thừa Thiên Huế và Thành phố Đà Nẵng” do TS Nguyễn
Thị Mỹ Thanh làm chủ nhiệm đề tài [26]. Đề tài đã nhận diện những tác động tiêu
cực đến môi trường ở các điểm du lịch sinh thái và các tác nhân gây ra trên địa bàn.
Nguyễn Đức Tuy (2014), “Giải pháp phát triển du lịch bền vững Tây
Nguyên”, Luận án Tiến sĩ, Học viện khoa học xã hội [25]. Luận án đã có một số
đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn: Luận án đã đưa ra định nghĩa phát triển du
lịch bền vững, trên 4 trụ cột kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường. Nhận định mức
độ phát triển du lịch bền vững của vùng Tây Nguyên; đề xuất các giải pháp nhằm
phát triển vùng du lịch Tây Nguyên theo hướng bền vững, đề xuất các cơ chế chính
sách đặc thù để du lịch bền vững Tây Nguyên phát triền mạnh.
Ở Thành phố Đà Nẵng, có một số công trình nghiên cứu về phát triển du lịch,
như :
Hồ Kỳ Minh (2011), “Phát triển bền vững ngành du lịch trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ [23]. Đề tài tập trung vào các nội
dung như : phát triển du lịch theo hướng bền vững ; đánh giá tiềm năng và thực
2
3
- Nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch bền vững trên địa bàn
quận Ngũ Hành Sơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu là thực hiện chính sách phát triển du lịch bền
vững ở cấp địa phương (quận).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
- Về thời gian: từ năm 2011 đến 2017
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công, trong đó chú ý
nhiều đến tiếp cận thực hiện chính sách có sự tham dự, tham gia của các chủ thể
chính sách.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên
cứu lý thuyết và thực tế.
- Phương pháp thu thập thông tin: Là thu thập thông tin từ các tài liệu của các
tổ chức và học giả trong và ngoài nước có liên qua; phân tích, tổng hợp, thu thập các
văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ, ngành ở Trung ương
và địa phương; các công trình nghiên cứu, báo cáo, tài liệu thống kê của các ban ngnhf
đoàn thể liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chính sách phát triển du lịch bền vững ở
nước ta nói chung và quận Ngũ Hành Sơn nói riêng.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Nhằm quan sát và thu thập thông tin ở các các
địa phương về chính sách phát triển du lịch bền vững, gồm theo dõi tại các điểm kết
hợp với gặp gỡ, trao đổi và phỏng vấn nhanh, đánh giá nhanh thực tế.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Là được dùng khá phổ biến trong nghiên
quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
- Chương 3: Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du
lịch bền vững từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁTTRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
5
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Chính sách và chính sách công
Chính sách là một thành tố, công cụ của quản lý. Chính sách công là thành tố
của quản lý nhà nước, theo Vũ Cao Đàm (1996) có thể được hiểu “là một tập hợp
biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa
ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ
hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu
tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.
B. Guy Peter (1990) cho rằng: “ Chính sách công là những hoạt động của
nhà nước có ảnh hưởng một cách gián tiếp hay trực tiếp đến cuộc sống của mọi
công dân”.
Theo PGS.TS Đỗ Phú Hải trong giáo trình Những vấn đề cơ bản của chính
sách công, Học viện KHXH (2012) thì “chính sách công là một tập hợp các quyết
định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ
thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã
xác định” [15] .
Chính sách công là kết quả của việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của
Đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị với mục
tiêu, giải pháp, công cụ nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của
+ Phát triển du lịch tạo điều kiện cho kinh tế của các địa phương phát triển
nhưng phải đảm bảo ảnh hưởng đến môi trường sống của cộng đồng dân cư
+ Thường xuyên tham khảo ý kiến cộng đồng dân cư tại địa phương và các cơ
quan đảm bảo các vấn đề hoạt động du lịch.
+ Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nguồn nhân lực đảm bảo yêu cầu
cho hoạt động du lịch, qua đó quảng báo du lịch của địa phương đến với khách
trong nước và quốc tê, giới thiệu các sản phẩm đặc trưng du lịch.
+ Triển khai các hoạt động nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp nhằm giải
quyết các vấn đề đảm bảo lợi ích cho các chủ thể liên quan. Hiện nay, việc thực
hiện chính sách phát triển du lịch bền vững vẫn còn mới mẻ ở nước ta. Do đó chúng
ta rất cần một chính sách phát triển du lịch bền vững phù hợp, phải lồng ghép nội
dung tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức của du khách và người dân trong việc
tham gia vào công cuộc phát triển du lịch bền vững.
Thông qua việc so sánh, một bản danh mục các yếu tố đánh giá sự phát triển
bền vững và không bền vững trong phát triển du lịch được hình thành (Bảng 1.1).
Bảng 1.1. So sánh phát triển du lịch bền vững và phát triển du lịch không bền vững
Các yếu tố đánh giá
Tốc độ phát triển
Du lịch bền vững
Chậm
8
Du lịch
không bền vững
Nhanh
Các yếu tố đánh giá
Phương thức
Tìm kiếm sự cân bằng
Tìm kiếm sự tối đa
Đối tượng tham gia kiểm soát
Địa phương
Trung ương
Chiến lược
Quy hoạch trước,
triển khai sau
Kế hoạch
Theo quan điểm
Theo dự án
Mức độ quan tâm
Toàn bộ
Vùng trọng điểm
Áp lực và lợi ích
Sử dụng nguồn lực
Vừa phải, tiết kiệm
Lãng phí
Tái sinh nguồn lực
Có
Không
Hàng hóa
Sản xuất tại địa
phương
Nhập khẩu
Nguồn nhân lực
Có chất lượng
Kém chất lượng
Du khách
Số lượng ít
Nguồn: Machado (2003)
Như vậy, du lịch bền vững có thể hiểu là du lịch giảm thiểu các chi phí và
9
nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa
phương và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi
mà nó phụ thuộc vào.
Gần đây, cùng với du lịch bền vững người ta thường nói nhiều về du lịch sinh
thái. Du lịch sinh thái, về bản chất, cũng là du lịch bền vững nhưng được nhấn
mạnh nhiều hơn tới khía cạnh bảo vệ thiên nhiên và môi trường như là nền tảng cơ
bản cho phát triển du lịch bền vững. Luật Du lịch (2017) của nước ta định nghĩa
“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá
địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi
trường” (Điều 3) [19].
1.1.3. Chính sách phát triển du lịch bền vững và thực hiện chính sách phát
triển du lịch bền vững
Chính sách phát triển du lịch bền vững được Nhà nước ra quyết định được
cụ thể hóa bằng đường lối, chủ trường của Đảng gắn với các mục tiêu và giải pháp
để giải quyết các vấn đề phát triển du lịch bền vững ở các địa phương trong nước.
Thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững là việc đưa chính sách này
vào thực hiện trong cuộc sống với kết quả, hiệu quả cụ thể. Kết quả được thể hiện
quan hoạt động phát triển du lịch đáp ứng được về kinh tế - xã hội và môi trường.
Ở nước ta, chính sách và thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững
được thể hiện trong Luật Du lịch Việt Nam (2017) tại Điều 5 với các nguyên tắc
phát triển du lịch theo hướng bền vững là (Điều 4) [21]:
- Phát triển du lịch bền vững, theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, có trọng
tâm, trọng điểm.
ảnh hưởng của du khách đối với sự phát triển bền vững du lịch thể hiện thông qua ý
thức, thái độ, trình độ và khả năng cảm nhận của du khách đối với nơi tham gia du
lịch.
- Cộng đồng dân cư địa phương: Những hiểu biết về du lịch, nhận thức của
cộng đồng dân cư, người dân, sự tham gia giám sát vào quá trình phát triển du lịch
của địa phương ra sao là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển du lịch
bền vững của một địa phương.
- Các tổ chức xã hội: Tham gia tích cực vào sự kiện du lịch ở tầm khu vực và
quốc gia.
- Hiệp hội du lịch: Tuyên truyền, phổ biến về nội dung chính sách phát triển
du lịch đến hội viên và cộng đồng doanh nghiệp. Chủ động hình thành tổ chức phát
11
triển du lịch vùng để điều phối và tư vấn các vùng, liên kết phát triển, tổ chức xúc
tiến quảng bá du lịch chung của vùng.
1.2.2. Các yếu tố tác động, ảnh hưởng
a. Yếu tố chủ quan
Thứ nhất, nhận thức, ý thức trong phát triển du lịch.
Nhận thức, ý thức là yếu tố quan trọng hàng đầu trong phát triển du lịch bền
vững nói chung và thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững nói riêng, bởi lẽ
nhận thức, ý thức quyết định và chi phối hành vi của con người, đặc biệt là liên
quan tới hành vi ứng xử với tự nhiên là tài nguyên cơ bản để phát triển du lịch.
Nhận thức, ý thức về du lịch bền vững tốt, đầy đủ sẽ tạo các hành vi ứng xử tốt,
thân thiện với tự nhiên và môi trường trong khi vẫn thỏa mãn được các nhu cầu phát
triển của các bên liên quan.
Thứ hai, chính sách, cơ chế và bộ máy tổ chức thực hiện phát triển du lịch.
Như mọi hoạt động phát triển khác, hoạt động phát triển du lịch cần có chính
sách, cơ chế và bộ máy tổ chức thực hiện. Chính sách, cơ chế phát triển du lịch bền
trực tiếp tới duy trì các điều kiện cơ bản cho phát triển du lịch lâu dài hay không lâu
dài.
b. Yếu tố khách quan
Các yếu tố khách quan trong phát triển du lịch bền vững là các yếu tố bên
ngoài con người, như sự hấp dẫn của địa điểm du lịch; thương hiệu du lịch; cơ sở hạ
tầng du lịch; an ninh, an toàn cho khách du lịch, … Các yếu tố này càng được đảm
bảo thì càng làm tăng cường các điều kiện cho phát triển du lịch bền vững. Việc
phấn đấu có được sự công nhận quốc tế về địa điểm du lịch hay tạo dựng thương
hiệu du lịch cũng như môi trường ăn nghỉ an toàn, thân thiện cho du khách hưởng
thụ các sản phẩm du lịch luôn được coi trọng trong chính sách và thực hiện chính
sách phát triển du lịch bền vững.
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra và thực
hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ các tiềm năng du lịch nhằm thỏa
mãn nhu cầu của du khách, quyết định mức độ hài lòng của du khách đối với hoạt
động du lịch của địa phương.
Hệ thống cơ sở lưu trú, ăn uống, các cửa hàng thương nghiệp, cơ sở văn hóa
thể thao, thông tin văn hóa. . . Cơ sở vật chất để phục vụ du lịch là các phương tiện
cho việc ăn nghỉ của du khách được đảm bảo.
Ngoài ra, các dịch vụ hỗ trợ khác như giao thông, điện nước, thông tin liên lạc,
13
y tế ngân hàng . . . thường xuyên được đảm bảo.
Bên cạnh đó sự ổn định chính trị của quốc gia, chính sách ngoại giao mở rộng
đã nhận được sự hợp tác, hỗ trợ tích cực của cộng đồng quốc tế để đầu tư vào du
lịch phát triển.Việc đảm bảo cho du khách được an tâm khi đến du lịch nghĩ dưỡng
tại các địa phương trong nước nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng.
1.3. Các bước thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững
1.3.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính
quyền địa phương.
Việc thành công của một chính sách do nhiều yếu tố cấu thành, nhân tố cấu
thành. Do đó, để cho việc thực thi chính sách thực hiện được đúng mục tiêu quản lý
thì cần phải phối hợp các yếu tố, bộ phận, đối tượng tác động và liên quan.
Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước về du lịch giúp Thủ tướng Chính
phủ chỉ đạo các hoạt động du lịch trong phạm vi cả nước; phối hợp với các Bộ, ngành
và địa phương trong việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện về phát triển du lịch
phù hợp với mục tiêu phát triền kinh tế-xã hội của đất nước. Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch là cơ quan chủ trì, tham mưu cho Đảng, Nhà nước về xây dựng và tổ chức thực
hiện chính sách.
1.3.4. Duy trì thực hiện chính sách
Duy trì thực hiện chính sách theo những giải pháp, biện pháp bảo đảm duy
trì, tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường quốc tế.
Trong quá trình thực hiện chính sách nếu không duy trì và phát triển thì hiệu
quả thực hiện chính sách thấp, gây lãng phí không đáp ứng được yêu cầu. Do vậy,
để duy trì chính sách cần phải đảm bảo đầy đủ yêu cầu về nguồn nhân lực, tài chính,
cơ sở vật chất kỷ thuật để thực thi chính sách.
1.3.5. Điều chỉnh trong tổ chức thực hiện chính sách
Việc điều chỉnh thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững là hoạt
động diễn ra thường xuyên. Về nguyên tắc, thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính
sách là của cơ quan, tổ chức ban hành chính sách. Do đó các bên tham gia thực thi
chính sách cần phải thường xuyên đề xuất điều chỉnh về giải pháp, biện pháp, cơ
chế để thực hiện chính sách có hiệu quả, bảo đảm mục tiêu chính sách đã đề ra.
Việc điều chỉnh chính sách phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo các
nguyên tắc nhất định, tức là chỉ thực hiện điều chỉnh về các biện pháp, giải pháp, cơ
chế thực hiện mục tiêu hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu chính sách theo yêu cầu
15
Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa nhân loại (vật thể, phi vật thể).
16
Đây cũng là địa phương có tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú với đầy đủ các
dạng địa hình núi, gò đồi, đồng bằng, đầm phá và biển, có thành phố Festival - Huế.
Do vậy, việc phát triển du lịch bền vững ở Thành phố Huế càng được đầu tư phát
triển.
Giai đoạn 2017 - 2020, Thành phố Huế phát triển đồng bộ, bền vững, chất
lượng cao và chuyên nghiệp; xứng tầm là trung tâm du lịch của cả nước và khu vực.
Thành phố Huế tập trung kêu gọi các nhà đầu tư lớn, có thương hiệu, tạo điểm nhấn
và có sức ảnh hưởng lớn đối với du lịch toàn tỉnh, tăng cường xã hội hóa các dự án
đầu tư. Đồng thời, tỉnh hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch hiện có,
chú trọng các sản phẩm du lịch văn hóa - di sản, xây dựng sản phẩm mới có tính
cạnh tranh cao.
Bên cạnh tập trung phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, dịch vụ
chủ lực như văn hóa di sản, phát triển các loại hình sản phẩm mới dựa trên tiềm
năng thế mạnh của địa phương, Thành phố Huế đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng
bá du lịch theo hướng phù hợp với thực tế, tập trung ở các trung tâm du lịch đầu
mối. Thành phố Huế sẽ hoàn chỉnh kế hoạch marketing giai đoạn 2017 - 2020 trên
cơ sở chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao, hoàn
thiện môi trường du lịch và cải cách, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động du lịch dịch vụ.
Năm 2017, Tỉnh Thừa Thiên - Huế đón 3,78 triệu lượt khách, tăng 16% so
với năm trước, doanh thu từ du lịch đạt khoảng 3.800 tỷ đồng.
- Thành phố Nha Trang
TP. Nha Trang đã và đang được đầu tư để trở thành một thành phố du lịch
sinh thái biển, trung tâm du lịch mang tầm quốc gia, quốc tế… Dù trong tương lai,
Khánh Hòa sẽ có thêm nhiều hệ thống tuyến điểm du lịch ở Cam Lâm, Cam Ranh,
cao. Những nơi khác có tài nguyên thiên nhiên nhưng không đủ hấp dẫn về văn hóa,
xã hội. Thiên nhiên đơn thuần không đi kèm với tài nguyên nhân văn sẽ không đủ
hấp dẫn du khách nên không thể trở thành trung tâm du lịch lớn. Mặt khác, nếu chỉ
tập trung khai thác sẽ mang lại hiệu suất thấp nhưng nguy cơ tàn phá môi trường lại
rất cao. Chính vì thế, về du lịch, trước mắt tập trung khai thác khu vực Nha Trang
và các vùng phụ cận. Đối với Nha Trang, cần xác định ngành chính là du lịch, đồng
thời phải xác định rõ, nếu muốn phát triển du lịch ở tầm cỡ quốc tế thì phải hạn chế
các ngành nghề có nguy cơ xung đột khác, tập trung vào một lĩnh vực, không đầu tư
dàn trải. Theo kinh nghiệm thế giới, chỉ riêng du lịch và dịch vụ thừa sức “nuôi
18
sống” những đô thị tầm vừa và nhỏ. Những đô thị du lịch nổi tiếng như Edinburgh,
Venice… có thu nhập cao vào loại nhất thế giới mà không cần đến công nghiệp.
Hiện nay, du lịch Nha Trang chủ yếu dựa vào tham quan vịnh. Tuy nhiên,
môi trường sinh thái vùng vịnh rất nhạy cảm, nhất là những vùng sinh thái đặc biệt
như rạn san hô, hang yến. Vì thế, việc phát triển du lịch vịnh đại trà là không nên.
Ngoài ra, ngành nuôi trồng thủy sản cũng bị ảnh hưởng nhiều khi môi trường vịnh ô
nhiễm.
Trong điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng TP. Nha Trang đến năm 2020
và tầm nhìn ngoài 2030, các nhà tư vấn Viện Kiến trúc, quy hoạch đô thị và nông
thôn đã đề xuất: Để có thể phát triển du lịch Nha Trang, quan trọng là phải bảo tồn
và tôn tạo những tiềm năng du lịch chứ không chỉ khai thác chúng; tập trung dịch
vụ lưu trú tại TP. Nha Trang, không dàn trải ra nhiều vùng khác, biến Nha Trang
thành trung tâm du lịch chính của cả tỉnh. Những điểm du lịch khác của tỉnh cần tạo
ra những không gian thiên nhiên, bổ trợ cho không gian du lịch đô thị tại Nha
Trang. Bên cạnh đó, địa phương phải bảo tồn và phát huy giá trị di sản vịnh Nha
Trang; khai thác hợp lý và hiệu quả dải đô thị ven biển; phát huy tối đa tính hướng
biển của TP. Nha Trang để tạo ra một bản sắc chung là Nha Trang - thành phố biển;
Chàm và một số trò chơi thể thao bãi biển ở thôn An Bàng (Cẩm An), Bãi Ông (Tân
Hiệp)… Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tiếp tục được đầu tư, nâng cao chất lượng
phục vụ du khách ngày càng đông như: bãi đỗ xe, các điểm dừng chân, hệ thống
nhà vệ sinh công cộng, hạ tầng phục vụ tại cảng Cửa Đại, Cù Lao Chàm…
Theo hướng phát triển, chính quyền thành phố còn chủ trương đẩy mạnh du
lịch cộng đồng, tạo điều kiện để người dân được hưởng lợi ngay trên chính di sản
của mình.Thành phố đã cho phát triển nhiều loại hình dịch vụ lưu trú trong dân.
Loại hình homestay hiện nay rất phát triển, kể cả các biệt thự du lịch ở các vùng
ven. Sắp tới, thành phố sẽ mở rộng hơn nữa những quy định để tạo điều kiện tối đa
cho các chủ hộ kinh doanh cũng như các doanh nghiệp có điều kiện đầu tư phát
triển mạnh hơn nữa loại hình này nhằm đem lại lợi ích cho nhiều người dân”. Trong
năm, đã có 217 cơ sở với gần 890 phòng lưu trú được đưa vào hoạt động, nâng tổng
số cơ sở hiện có lên hơn 430 cơ sở với gần 7.600 phòng. Công tác quản lý trên lĩnh
vực này luôn được chỉ đạo thường xuyên, kịp thời điều chỉnh hướng không gian
phát triển phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.
Năm 2017, Hội An tiếp tục mở rộng không gian du lịch cộng đồng tại các
vùng quê, làng nghề các khu vực nông thôn, hải đảo cùng với sự đa dạng và làm
20
phong phú thêm các sản phẩm du lịch văn hóa, sinh thái. Trong bối cảnh cạnh tranh
ngày càng cao, du lịch Hội An sẽ gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng
bền vững, chất lượng.Ngành du lịch được xác định lấy chất lượng phục vụ là một
yếu tố cạnh tranh, lấy tính thân thiện, hiếu khách, chu đáo của con người phố Hội
thuần hậu truyền thống để làm một trong những nhu cầu đáp ứng hoạt động của du
khách. Ngoài ra, việc liên kết liên vùng đối với những địa phương có di sản trên
“Con đường di sản miền Trung”, đối với một số huyện có điểm tham quan trong
tỉnh cũng cần tăng cường sự kết nối để phát triển. Hằng năm, Hội An phấn đấu tăng
giá trị sản xuất ngành du lịch - dịch vụ - thương mại khoảng 16,20% và đón khoảng
triển du lịch.
22
Tiểu kết Chương 1
Thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững, trong những năm qua, du
lịch đã có những bước phát triển nhanh nhưng chưa toàn diện. Trong quá trình phát
triển đã nảy sinh những vấn đề cần quan tâm tiềm năng; nguồn tài nguyên du lịch
chưa bền vững trong quá trình khai thác ngành du lịch chưa được quan tâm đúng
mức. Công tác quản lý nhà nước đối với dịch vụ du lịch còn nhiều bất cập. Hiệu quả
kinh tế đem lại chưa cao…Với mục tiêu đưa ngành du lịch trở thành thế mạnh của
cả nước thì yêu cầu giải quyết các vấn đề trên;
Chương 1 cũng đã bàn đến các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển
du lịch bền vững, trong đó, nhân tố con người được coi là nhân tố quan trọng. Bên
cạnh đó, trong kinh nghiệm của một số địa phương trong cả nước cũng đã nêu lên
những bài học cho quận Ngũ Hành Sơn trong phát triển du lịch bền vững. Đây là
những nội dung cơ bản triển khai ở những chương sau.
23