Thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn huyện mỹ đức, thành phố hà nội - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN NGỌC CỬ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH
BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN MỸ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành

: Chính sách công

Mã số

: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐỖ PHÚ HẢI

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ
Chính sách công về "Thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực
tiễn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội" là hoàn toàn trung thực và không trùng

3.3. Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về du lịch và liên quan đến du lịch;
nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật Du lịch tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho phát
triển du lịch.
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 82


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN:

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

APEC:

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương

ACMECS:

Khuôn khổ hợp tác kinh tế gồm 5 nước Campuchia, Lào,
Myanmar, Thái Lan và Việt Nam

TPP:

Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương

FDI:

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài


vai trò quan trọng của mình bởi tỷ trọng GDP ngành du lịch trong tổng GDP của
nền kinh tế quốc dân đang tăng dần, nguồn thu ngoại tệ cho đất nước tăng, tạo ra
khối lượng việc làm cho đông đảo các tầng lớp nhân dân đồng thời thúc đẩy các
ngành kinh tế khác phát triển. Điều này thể hiện rõ trước xu thế toàn cầu hóa, khu
vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Nghị quyết 08-NQ-TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn. Nghị quyết đề ra 8 giải pháp lớn như sau: Giải pháp quan trọng đầu tiên
được đưa ra là đổi mới nhận thức, tư duy về phát triển du lịch, cần “Nhận thức rõ
du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa
cao và nội dung văn hóa sâu sắc. Thứ hai là cơ cấu lại ngành Du lịch bảo đảm tính
chuyên nghiệp, hiện đại và phát triển bền vững theo quy luật của kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế. Thứ ba, về nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, chính
sách, Nghị quyết xác định nhiệm vụ xây dựng “Cơ chế, chính sách phù hợp và đột
phá để phát triển du lịch thành kinh tế mũi nhọn, đáp ứng yêu cầu, tính chất của
ngành kinh tế tổng hợp, hoạt động theo cơ chế thị trường”. Thứ tư, Nghị quyết
khẳng định cần đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ngành
du lịch. Thứ năm, về tăng cường xúc tiến quảng bá du lịch, cần đổi mới cách thức,
nội dung, nâng cao hiệu quả xúc tiến quảng bá du lịch trong và ngoài nước. Thứ
sáu, Nghị quyết nhấn mạnh cần đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường
cạnh tranh lành mạnh, minh bạch, bình đẳng, thuận lợi cho doanh nghiệp kinh
doanh du lịch. Thứ bảy, về phát triển nguồn nhân lực du lịch. Thứ tám, Nghị
quyết nêu nhóm giải pháp về tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước
về du lịch.
Du lịch bền vững là một chủ đề được thảo luận rất nhiều ở các diễn đàn và
các hội nghị lớn nhỏ trên toàn thế giới. Mục đích chính của phát triển bền vững là

1


để 3 trụ cột của du lịch bền vững Môi trường, Văn hóa-Xã hội và kinh tế được



Huyện Mỹ Đức nằm phía tây nam thành phố Hà Nội, phía đông giáp huyện
Ứng Hòa, phía bắc giáp huyện Chương Mỹ, phía tây giáp các huyện Lương Sơn,
huyện Kim Bôi, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Phía đông nam giáp huyện Kim
Bảng tỉnh Hà Nam. Là vùng bán sơn địa, nằm ở phía nam của đồng bằng Bắc Bộ.
Phía nam là vùng núi đá vôi với nhiều hang động, có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng
được thiên nhiên nhiên ban tặng nhiều tiềm năng và điều kiện phát triển du lịch:
có 5 điểm du lịch như (Tùng lâm Hương tích, Quan Sơn được ví như là Vịnh Hạ
Long thu nhỏ, Chùa Hàm Long, Chùa Cao và Đền Vân Mộng. Ngoài ra, Mỹ Đức,
còn có thế núi, thế sông, thế đồng, thế bãi; các điểm du lịch đều nằm trong bán
kính 50 km từ trung tâm Thành phố; có quần thể du lịch tâm linh được mệnh danh
là “Nam thiên đệ nhất động” đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng của cả nước. Có
thể nhận thấy, du lịch là một ngành kinh tế phát triển nhanh và hiện nay là một
trong những ngành kinh tế quan trọng của thế giới. Đối với nước ta Đảng và Nhà
nước đã xác định “Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang lại nội
dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng, và xã hội hóa cao”. Chất
lượng của hoạt động du lịch phụ thuộc vào yếu tố như tiềm năng tài nguyên du
lịch, chất lượng của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch của Nhà nước,
tình hình an ninh chính trị của đất nước, mức độ mở cửa và hội nhập của nền kinh
tế. Phát triển du lịch nhanh và bền vững, thu hẹp dần khoảng cách với các quốc
gia có ngành du lịch phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và toàn diện là
yêu cầu cấp bách đặt ra cho ngành du lịch Việt Nam.
Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện Mỹ Đức việc
đa dạng các loại hình, sản phẩm du lịch của huyện Mỹ Đức là việc làm cần thiết.
Du lịch đẩy nhanh mục tiêu phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời
sống cho người dân. Để thực hiện được chức năng này, việc tổ chức đào tạo cho
những người cung cấp sản phẩm du lịch, hướng dẫn viên và xây dựng cơ chế
chính sách nhằm huy động mọi quyền lực, huy động sự tham gia của cộng đồng
vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử phải được xem là một

Quốc gia Hà Nội.
Lưu Đức Hải (2009), Phát triển các ngành du lịch trong quá trình phát
triển và hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí số 8 về Tổng quan kinh tế xã hội Việt
Nam số 4-2009, Hà Nội.
Và có một số nghiên cứu về phát triển du lịch của các địa phương như:

4


Hoàng Thị Thu Hương (2013), Phát triển du lịch Quảng Nam theo hướng
bền vững, Luận văn thạc sĩ, Viện khoa học xã hội Vùng Trung Bộ.
Nguyễn Thị Vinh (2013), Chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực
tiễn thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội.
Trần Quốc Nhật (1996), Phát triển du lịch ở Bà Rịa-Vũng Tàu, Luận văn
Thạc sỹ Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
Nguyễn Ngọc Tấn (2009), Bảo vệ cảnh quan môi trường Du lịch.
PGS.TS. Trần Đức Thanh (2005), Nhập môn khoa học du lịch, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Thích Viên Thành (2002), Kỷ niệm Chùa Hương, Nhà xuất bản văn hoá
thông tin.
Uỷ ban nhân dân huyện Mỹ Đức, Báo cáo tổng kết công tác tổ chức quản lý
lễ hội Chùa Hương từ năm 2010 đến năm 2015;
- Luận văn thạc sỹ về đề tài “Một số giải pháp chiến lược phát triển dịch vụ du
lịch tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đến năm 2020” của tác giả Nguyễn Trung
Thành bảo vệ tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2013; Công trình mới chỉ
nghiên cứu nội dung về phát triển dịch vụ du lịch và phân tích dữ liệu hết năm 2012.
- Luận văn thạc sỹ về đề tài “Thực trạng và giải pháp công tác quản lý của
du lịch huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đến năm 2020” của tác giả Mai Thành
Công bảo vệ tại trường Đại học Kinh doanh và công nghệ Hà Nội năm 2014. Công
trình nghiên cứu nội dung về quản lý của khu di tích và phân tích, xử lý dữ liệu chỉ

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu
thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà
nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo
cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách phát triển, khai thác tiềm năng du
lịch tâm linh huyện Mỹ Đức. Đồng thời, thu thập các số liệu của các tổ chức và học
giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua.
Thu thập, tìm hiểu và vận dụng các lý thuyết của ngành chính sách văn hóa
xã hội liên quan đến chính sách phát triển du lịch bền vững.
Phương pháp đánh giá: Đề tài đã sử dụng phương pháp chính sách công, văn
hóa học; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích tổng hợp và phương pháp
tổng kết thực tiễn để đánh giá phát triển bền vững du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn
trên địa bàn huyện Mỹ Đức.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa lý luận văn:

7


Trên cơ sở lý luận về chính sách phát triển du lịch bền vững; xuất phát từ
thực tiễn tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội góp phần làm rõ thêm nhận thức
chung về nội dung, hình thức thực hiện chính sách của Nhà nước về du lịch. Bước
đầu luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề cấp bách đang đặt ra trong thực hiện chính
sách phát triển du lịch bền vững tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội; đề xuất
một số giải pháp cơ bản có tính khả thi góp phần nâng cao hiệu quả phát triển du
lịch tác động đến phát triển kinh tế, VH-XH, ANQP ở huyện Mỹ Đức hiện nay.
* Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn có thể được dùng làm cơ sở thực tiễn trong công tác hoạch định

Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of
Official Travel Oragnization: IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến
một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải
để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống,…
Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày
14/6/2005: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm
hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. [21]
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong
những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một
nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc.
Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ
phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các
hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao
gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa
mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội.
Phát triển du lịch bền vững được Tổ chức Du lịch thế giới (United National
World Tourist Organization; UNWTO) định nghĩa như sau: “Sự phát triển bền vững
của ngành du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và của địa phương du
lịch, đồng thời bảo vệ và thúc đẩy cơ hội phát triển cho tương lai. Sự quản lý của

10


ngành phải cân bằng và đáp ứng được nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ mà vẫn
duy trì được các giá trị của sinh thái, văn hóa và môi sinh”.
Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày
14/6/2005: Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện
tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai.

chính sách phát triển bền vững; có chính sách ưu đãi đối với phát triển du lịch sinh
thái, du lịch “Xanh”, du lịch cộng đồng, du lịch có trách nhiệm”
Việc thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững nêu trên góp phần tăng
trưởng kinh tế quốc gia, địa phương, đảm bảo lợi ích cho các chủ thể tham gia hoạt
động du lịch. Bên cạnh đó, giữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc cũng như góp phần
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường du lịch. Hạn chế những tác động tiêu cực
của thiên nhiên đối với ngành du lịch đồng thời đảm bảo ngành du lịch có thể kiểm
soát được những nguy cơ tiềm ẩn của hoạt động phát triển du lịch trong tương lai.
Tuy nhiên, thực trạng phát triển du lịch Việt Nam trong thời gian qua chưa
phát huy được tối đa tiềm năng thế mạnh về văn hóa và sinh thái với những giá trị
độc đáo của đất nước-con người Việt Nam để định vị điểm đến bằng chất lượng,
hiệu quả, thương hiệu và sức cạnh tranh. Những xu hướng và yếu tố tác động toàn
cầu đang đặt du lịch Việt Nam trước những cơ hội và thách thức trong tiến trình đưa
du lịch thực sự phát triển bền vững trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo mục tiêu
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đề
ra, mà trong đó có nguyên nhân thực trạng chính sách phát triển du lịch bền vững ở
nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chính sách chưa theo kịp thời đại, có lúc
chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế.
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã
hội hóa cao. Vì vậy, hệ thống cơ chế, chính sách phát triển du lịch đòi hỏi sự đồng
bộ và kết dính, nhưng hiện nay việc xây dựng các chính sách, cơ chế để vận hành
mối liên kết giữa ngành Du lịch với các bộ, ngành liên quan, giữa cơ quan quản lý ở
Trung ương và cơ quan quản lý ở địa phương, giữa Nhà nước và doanh nghiệp, giữa
địa phương và địa phương, giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp, giữa cộng đồng và
doanh nghiệp… Chưa được quan tâm đúng mức. Trong quá trình thực hiện chính
sách, vấn đề đầu tư, triển khai các dự án phát triển du lịch đôi khi được áp đặt từ bên
ngoài hoặc từ trên xuống, tức là vấn đề “Áp đặt chính sách” và điều này thường gây
rủi ro trong thực thi chính sách do không tính được một cách toàn diện đến nguồn tài
nguyên tự nhiên và văn hóa cũng như mối quan tâm của cộng đồng địa phương.


quảng bá chưa cao, nguồn khách quốc tế còn phụ thuộc vào một số thị trường.
Mục tiêu chính sách phát triển du lịch bền vững
- Mục tiêu tổng quát

13


Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ trọng
ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm;
chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định
thương hiệu và khả năng cạnh tranh. Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi
trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.
- Mục tiêu cụ thể
- Tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch bình quân thời kỳ 2011 - 2020 đạt
11,5 - 12%/năm.
- Năm 2015: Việt Nam đón 7 - 7,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 36 - 37
triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 10 - 11 tỷ USD, đóng
góp 5,5 - 6% vào GDP cả nước; có tổng số 390.000 buồng lưu trú với 30 - 35% đạt
chuẩn từ 3 đến 5 sao; tạo ra 2,2 triệu việc làm trong đó có 620.000 lao động trực
tiếp du lịch.
- Năm 2020: Việt Nam đón 10 - 10,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 47 48 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 18 - 19 tỷ USD,
đóng góp 6,5 - 7% GDP cả nước; có tổng số 580.000 buồng lưu trú với 35 - 40%
đạt chuẩn từ 3 đến 5; tạo ra 3 triệu việc làm trong đó có 870.000 lao động trực tiếp
du lịch.
- Năm 2030: Tổng thu từ khách du lịch tăng gấp 2 lần năm 2020.
Giải pháp và công cụ chính sách phát triển du lịch bền vững
Từ những vấn đề chính sách nêu trên có thể thấy chính sách phát triển du lịch
bền vững hướng đến một số nhóm giải pháp cơ bản như sau:

trung đầu tư cho thương hiệu du lịch quốc gia và các thương hiệu du lịch quan trọng
có ý nghĩa quyết định đến hình ảnh du lịch Việt Nam; tăng cường đầu tư theo
chương trình, chiến dịch xúc tiến quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam. Đầu tư
phát triển các khu, điểm du lịch trọng điểm; thu hút đầu tư vào các khu du lịch nghỉ
dưỡng và thể thao biển; đầu tư các khu nghỉ dưỡng núi cho các địa bàn vùng sâu,
vùng xa và thu hút đầu tư những khu du lịch tổng hợp, giải trí chuyên đề, kết hợp
trung tâm thương mại, mua sắm, hội nghị hội thảo tại các trung tâm đô thị.
- Nhóm giải pháp quản lý Nhà nước về du lịch: Tăng cường năng lực cơ quan
quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương đủ mạnh đáp ứng yêu cầu

15


phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. Xây dựng năng lực tập trung
cho cơ quan xúc tiến du lịch quốc gia; phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về
du lịch với chức năng tổ chức thực hiện hoạt động xúc tiến du lịch quốc gia.
1.3. Tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững
1.3.1. Việc ban hành các văn bản thực hiện chính sách
Việc ban hành các văn bản thực hiện chính sách là một khâu cấu thành trong
chu trình chính sách, là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành
hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Chính sách công ở Việt Nam nói chung hay chính sách phát triển du lịch bền
vững nói riêng thường được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm
tạo căn cứ pháp lý cho việc thi hành, trong đó có thể bao gồm những phương án hành
động không mang tính bắt buộc, mà có tính định hướng, kích thích phát triển.
Để thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững, Chính phủ, các bộ
ngành, địa phương cần có hệ thống văn bản thực hiện chính sách phù hợp bao gồm
chính sách dài hạn và chính sách cấp bách và thể hiện trong chiến lược, quy hoạch,
các chương trình, đề án phát triển du lịch. Chính sách phải đảm bảo khuyến khích,
huy động tập trung nguồn lực, khai thác tối ưu tiềm năng, thế mạnh của đất nước;

thống nêu trên, còn có phương pháp tiếp cận “Từ dưới lên” tuy khắc phục được
những nhược điểm của phương pháp tiếp cận “Từ trên xuống” nhưng vẫn có một số
hạn chế nhất định khi thực hiện bởi vì chịu ảnh hưởng mang tính chủ quan của các
cơ quan, cán bộ trong quá trình thực hiện chính sách. Ngoài ra, phương pháp này
chưa thật sự huy động được sự tham gia của người dân.
Do đó, để đảm bảo phù hợp với tình hình mới cũng như mục tiêu hướng đến
cộng đồng, địa phương phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính sách
là tiếp cận theo chiều dọc (Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch, Bộ Văn hoá, Thể thao
và Du lịch, UBND các cấp, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp tỉnh, thành phố),
theo chiều ngang (có sự phối hợp giữa các Bộ, UBND tỉnh, thành, các cơ quan, ban,
ngành) và sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng, người dân, các tổ chức
trong nước và quốc tế.
Như vậy, có thể thấy cách tiếp cận đối với chính sách phát triển du lịch bền
vững của nước ta là do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức
chính trị - xã hội thông qua cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách.
Quốc Hội thực hiện vai trò giám sát tối cao các hoạt động của Nhà nước trong thực
thi chính sách. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các Bộ,

17


ngành, Mặt trận, Đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội, chính quyền địa phương
trong công tác tuyên truyền, tổ chức và thực thi chính sách phát triển du lịch bền
vững của quốc gia.
1.3.3. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững
Kế hoạch thực hiện chính sách là cơ sở, công cụ quan trọng triển khai đưa
chính sách vào thực tiễn cuộc sống. Trong xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách
phải xác định được chính xác, cụ thể các nội dung, nhiệm vụ trong kế hoạch tổ chức
điều hành, kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực cho việc thực hiện chính sách, kế
hoạch kiểm tra đôn đốc thực thi chính sách và trong việc xác định hợp lý thời gian

định và về tính khả thi của chính sách. Qua đó để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu
quản lý của nhà nước. Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách
nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính
sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho
việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ
chức thực hiện chính sách được giao.
Do vậy, cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chủ
trương của Đảng và Nhà nước về vai trò, vị trí động lực của ngành Du lịch trong hệ
thống ngành kinh tế quốc dân đối với doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân để tạo sự
đồng thuận xã hội về phát triển kinh tế du lịch trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng. Phải xác định, lựa chọn các kỹ năng, phương pháp phổ biến, tuyên
truyền chính sách phù hợp cho từng loại đối tượng. Tùy từng đối tượng mà tổ chức
các hình thức phổ biến, tuyên truyền và quán triệt thực hiện chính sách phù hợp.
1.3.5. Trách nhiệm giải trình và phân công phối hợp thực hiện chính sách phát
triển du lịch bền vững
Chính sách phát triển du lịch bền vững được thực thi trên phạm vi không
gian rộng lớn vì thế số lượng các đối tượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi
chính sách là rất lớn. Vì vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả phải tiến
hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa
phương, quá trình, phân công, phối hợp thực hiện chính sách cần thực hiện chặt chẽ,
khoa học và hợp lý, hạn chế tình trạng trùng chéo nhiệm vụ và không rõ trách
nhiệm. Việc thành công của một chính sách do nhiều yếu tố cấu thành, nhân tố cấu
thành. Do đó, để cho việc thực thi chính sách thực hiện được đúng mục tiêu quản lý
thì cần phải phối hợp các yếu tố, bộ phận, đối tượng tác động và liên quan. Hoạt

19


động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách một cách chủ
động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực,


sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách. Nếu việc thực thi chính
sách gặp phải những khó khăn do môi trường thực tế biến động, thì các cơ quan nhà
nước sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi
cho việc thực thi chính sách. Đồng thời chủ động điều chỉnh chính sách cho phù
hợp với hoàn cảnh mới. Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ích chung
của xã hội, các cơ quan nhà nước có thể kết hợp sử dụng các biện pháp hành chính
để duy trì chính sách.
1.3.7. Điều chỉnh chính sách phát triển du lịch bền vững
Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững việc điều
chỉnh chính sách là hoạt động diễn ra thường xuyên nếu gặp khó khăn do môi
trường thực tế thay đổi hay do chính sách còn những bất cập, hạn chế chưa phù hợp
với thực tiễn thì cần phải có những điều chỉnh nhất định để đáp ứng yêu cầu quản lý
và phù hợp với tình hình thực tế. Về nguyên tắc, thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung
chính sách là của cơ quan, tổ chức ban hành chính sách. Nhưng trên thực tế việc
điều chỉnh các biện pháp, các cơ chế chính sách diễn ra rất năng động và linh hoạt
trong thực hiện chính sách. Do đó, các bên tham gia thực thi chính sách cần phải có
những đề xuất điều chỉnh về giải pháp, biện pháp, cơ chế để chính sách thực hiện có
hiệu quả, bảo đảm mục tiêu chính sách đã đề ra.
Việc điều chỉnh chính sách phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo các
nguyên tắc nhất định, tức là chỉ thực hiện điều chỉnh về các biện pháp, giải pháp, cơ
chế thực hiện mục tiêu hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu chính sách theo yêu cầu
thực tế của bộ, nghành, địa phương, các bên tham gia. Nếu việc điều chỉnh làm thay
đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách thì coi như chính sách đó bị thất bại.
1.3.8. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc chính sách phát triển du lịch bền vững
Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra là một nhiệm vụ, một khâu quan trọng trong thực
hiện chính sách phát triển du lịch bền vững. Việc tổ chức theo dõi, kiểm tra, đôn đốc
chính sách chủ yếu được thực hiện với các nội dung cơ bản như: Kết quả thực hiện
mục tiêu của chính sách, đối tượng chính sách và các quy định, các công cụ, các giải
pháp thực hiện, trách nhiệm của các bên tham gia. Trên cơ sở đó, phân tích xử lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status