VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG BÌNH PHƯƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành
Mã số
: Chính sách công
: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐỖ PHÚ HẢI
HÀ NỘI, năm 2017
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy, cô đang công tác,
giảng dạy tại Học viện Khoa học xã hội đã quan tâm hướng dẫn tận tình trong
suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này. Đặc biệt, tôi xin gửi lời
cảm ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS. Đỗ Phú Hải, người đã trực tiếp hướng dẫn
Luận văn cho tôi với tất cả lòng nhiệt tình, tâm huyết và trách nhiệm.
Bên cạnh đó, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo các cơ quan, đơn vị ,
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............. 35
2.1. Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách phát triển du lịch bền vững ........ 35
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững ..... 40
2.3. Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách phát triển du
lịch bền vững của thành phố Đà Nẵng ............................................................ 58
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY ................................................................................................................ 66
3.1. Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững ..................... 66
3.2. Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững. 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
APEC
Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dƣơng
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
GMS
UNESCO
Tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
1.1.
So sánh phát triển du lịch bền vững và phát triển du lịch
không bền vững
Trang
12
2.1.
Chỉ tiêu khách du lịch giai đoạn 2011-2015
37
Những năm qua, du lịch Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đóng
góp vào sự phát triển kinh tế cũng như có những tác động tích cực về văn hóa và xã
hội của nước ta. Đảng và Nhà nước xác định du lịch là một ngành kinh tế có vị trí
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với
yêu cầu và xu thế phát triển của thời đại.
Từ Đại hội lần thứ VII của Đảng năm 1991 đến nay, Đảng ta luôn quan tâm
đến phát triển du lịch. Năm 1994, khi Việt Nam bắt đầu quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW về phát triển du lịch trong
tình hình mới nhằm tập trung chỉ đạo phát triển du lịch. Năm 1998, trước xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Bộ Chính trị họp chuyên đề về du lịch và
ban hành Thông báo Kết luận số 179-TB/BCT, trong đó nêu rõ ý kiến chỉ đạo về tập
trung đẩy mạnh phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng của đất nước. Nghị
quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng năm 2016 tiếp tục khẳng định rõ chủ trương
“Có chính sách phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; Khuyến khích
các thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch với hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện
đại, sản phẩm đa dạng và tính chuyên nghiệp cao” [12].
Có thể thấy, Đảng và Chính phủ luôn không ngừng quan tâm đến phát triển du
lịch Việt Nam, đã và đang có những chỉ đạo, chính sách đột phá để tạo động lực cho
ngành du lịch phát triển. Chất lượng du lịch Việt Nam đang dần tốt lên, hình ảnh du
lịch quốc gia ngày càng được nâng cao. Hệ thống di sản văn hóa và thiên nhiên thế
giới của Việt Nam được UNESCO công nhận ngày càng phong phú. Nhiều điểm du
lịch được các tổ chức uy tín bình chọn là địa chỉ yêu thích của đông đảo du khách
quốc tế. Du lịch đang ngày càng nhận được sự quan tâm của toàn xã hội.
Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch trong giai đoạn qua cũng
đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan môi trường và văn hóa, xã hội.
Chính vì vậy những năm gần đây, phát triển du lịch xanh, du lịch thân thiện với môi
trường đã trở thành xu hướng chính trong việc phát triển du lịch trên thế giới, góp
1
2
sự phát triển vẫn còn nhiều tồn tại và thách thức cần khắc phục, cụ thể:
Chưa có được những sản phẩm du lịch chủ lực đặc thù; chất lượng sản phẩm
du lịch chưa cao, khả năng cạnh tranh hạn chế; nhiều khu du lịch, điểm du lịch phát
triển tự phát, chưa được đầu tư đúng tầm gây ảnh hưởng, ô nhiễm môi trường tự
nhiên; thiếu các khu vui chơi giải trí có quy mô lớn và sức hấp dẫn đáp ứng nhu cầu
đa dạng và ngày càng cao của du khách; nhiều chương trình du lịch còn đơn điệu,
trùng lặp, đội ngũ nhân lực còn thiếu; sức hấp dẫn của du lịch Đà Nẵng trên thị
trường du lịch quốc tế còn hạn chế.
Những hạn chế nêu trên đã làm cho ngành du lịch thành phố Đà Nẵng đang
đứng trước thách thức về sự phát triển thiếu bền vững.
Xuất phát từ thực tiễn thiết thực và tính cấp bách của vấn đề, tôi chọn đề tài:
"Thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Phát triển bền vững nói chung hay phát triển du lịch bền vững nói riêng, ngày
nay trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của quốc gia, của các cấp ngành, địa
phương, đã có rất nhiều tác giả tham gia nghiên cứu và viết bài trên các sách báo,
tạp chí, bài luận văn, đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về chính sách phát triển
du lịch bền vững, tiêu biểu như:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước "Cơ sở khoa học và giải pháp phát
triển du lịch bền vững ở Việt Nam" do PGS.TS Phạm Trung Lương – Viện Nghiên
cứu phát triển Du lịch làm chủ nhiệm đề tài, năm 2002 [21]. Đề tài đã nghiên cứu
và xác định được những vấn đề cơ bản liên quan đến phát triển du lịch bền vững ở
Việt Nam bao gồm: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam và những vấn đề đặt ra
đối với phát triển du lịch bền vững; tài nguyên và môi trường du lịch và những vấn
đề đặt ra đối với phát triển du lịch bền vững; văn hoá - xã hội và những vấn đề đặt
ra đối với phát triển du lịch bền vững.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Các giải pháp phát triển bền vững du lịch
tiêu biểu như:
Hồ Kỳ Minh (2011), “Phát triển bền vững ngành du lịch trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ [23]. Đề tài tập trung vào các nội
dung như: phát triển Du lịch theo hướng bền vững; Đánh giá tiềm năng và thực
trạng phát triển du lịch Đà Nẵng những năm qua; Phân tích cạnh tranh về du lịch Đà
Nẵng trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế; Phân tích và dự báo nguồn
4
khách du lịch đến Đà Nẵng; Xác lập quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển du
lịch theo hướng bền vững; Xây dựng mô hình phát triển du lịch bền vững TP Đà
Nẵng; Đề xuất các nhóm giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững trên địa
bàn TP Đà Nẵng đến năm 2020 về kinh tế, văn hóa - xã hội và tài nguyên - môi
trường, cùng các kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước.
Ngoài ra còn một số luận văn, đề tài nghiên cứu về phát triển du lịch khác
như:
Phạm Trung Lương (2007), “Phát triển du lịch biển bền vững từ góc độ môi
trường”; Tạp chí Du lịch số 7/2007.
Nguyễn Thị Như Liêm & Hoàng Thanh Hiền (2010) “Thực trạng và một số
giải pháp nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng”; Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại
học Đà Nẵng, Số 5/2010
Nguyễn Xuân Vinh (2010) ”Xây dựng chiến lược thương hiệu du lịch thành
phố Đà Nẵng”; Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà Nẵng.
Nguyễn Thị Thu Hiệp (2012) “Phát triển loại hình dịch vụ sinh thái tại khu du
lịch bán đảo Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng’’ Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà
Nẵng.
Nguyễn Thị Ái Vân (2015) “Phát triển bền vững thương hiệu du lịch Đà
Nẵng”; Tạp chí phát triển Kinh tế-Xã hội Đà Nẵng, Số 63/2015.
Qua việc tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài có thể nhận
thấy đã có các công trình nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch
của thành phố Đà Nẵng như thế nào? Từ đó thấy được những thành tựu và hạn chế
chính sách phát triển du lịch bền vững của thành phố.
Nhiệm vụ thứ ba: Cần có những giải pháp nào nhằm tăng cường thực hiện
chính sách phát triển du lịch bền vững ở nước ta ?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách phát triển du lịch
bền vững.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn nghiên cứu lĩnh vực du lịch của thành phố Đà Nẵng.
Thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công đa ngành, liên
ngành khoa học xã hội và áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính sách công từ
lý luận đến thực tiễn và rút ra các bài học và giải pháp tăng cường thực hiện chính
sách. Các quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây
dựng và thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính
sách. Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công
giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành chính sách phát triển du lịch
bền vững.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên
cứu định lượng và nghiên cứu định tính, cụ thể như sau:
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, thống kê và so
sách được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có
sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết,
phố Đà Nẵng, luận văn đã chỉ ra được những khó khăn, hạn chế trong việc hoạch
định và thực thi chính sách, đồng thời kết quả nghiên cứu giúp cho cơ quan quản lý,
doanh nghiệp, các sở, ban, ngành có liên quan, các nhà hoạch định chính sách có cơ
sở khoa học và thực tiễn để vận dụng, điều chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện
chính sách phát triển du lịch bền vững một cách hiệu quả hơn.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển du lịch
bền vững.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững của
thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch bền
vững ở nước ta hiện nay
8
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
1.1. Khái niệm về chính sách phát triển du lịch bền vững
1.1.1. Khái niệm chính sách
Mặc dù trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu về chính sách. Tuy
nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất chung về khái niệm chính sách. Theo
Peter Aucoin (1971) thì: “Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính
phủ tiến hành”
William Jenkin (1978) định nghĩa: “Chính sách công là một tập hợp các quyết
định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn
liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó”
nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục
đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.
Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization): Du lịch bao
gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham
quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư
giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên
tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ
các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.
Theo I. I. Pirogionic (1985): Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong
thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú
thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao
trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự
nhiên, kinh tế và văn hóa.
Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày
14/6/2005: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm
hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [19].
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong
những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một
nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc.
10
Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ
phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các
hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao
gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa
mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội.
1.1.3. Khái niệm phát triển du lịch bền vững
Bảng 1.1. So sánh phát triển du lịch bền vững và phát triển du lịch không bền vững
Các yếu tố đánh giá
Du lịch bền vững
Du lịch không bền vững
Tốc độ phát triển
Chậm
Nhanh
Mức độ kiểm soát
Có
Không
Quy mô
Phù hợp
Không phù hợp
Mục tiêu
Dài hạn
Ngắn hạn
Theo dự án
Mức độ quan tâm
Toàn bộ
Vùng trọng điểm
Áp lực và lợi ích
Phân tán
Tập trung
Quản lý
Quanh năm, cân bằng
Thời vụ, cao điểm
Nhân lực sử dụng
Địa phương
Bên ngoài
Quy hoạch kiến trúc
Bản địa
Kém chất lượng
Du khách
Số lượng ít
Số lượng nhiều
Học tiếng địa phương
Có
Không
Du lịch tình dục
Không
Có
Thái độ du khách
Thông cảm và lịch thiệp
Không ý tứ
Sự trung thành của du khách
Trở lại tham quan
nguyên, môi trường nhằm phục vụ cho mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam công
nghiệp hóa, hiện đại hóa để đời sống người dân không ngừng được cải thiện với nền
văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc.
Chính sách phát triển du lịch bền vững được đề cập ở đây là các quyết định
của Nhà nước nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển bền
vững với các mục tiêu và giải pháp thực hiện.
Căn cứ lý thuyết về khoa học chính sách công và khái niệm về phát triển du
lịch bền vững, có thể đưa ra khái niệm chính sách phát triển du lịch bền vững như
sau: “Chính sách phát triển du lịch bền vững là tập hợp các quyết định của Nhà
nước nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển bền vững với
13
các mục tiêu và giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề phát triển du lịch bền vững
của đất nước cũng như ở các địa phương.”
Sự tăng trưởng của Du lịch Việt Nam giai đoạn vừa qua có đóng góp tích cực
vào phát triển kinh tế xã hội nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức không
nhỏ về đảm bảo cân đối các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường đối với
phát triển bền vững. Thách thức từ tăng trưởng du lịch đặt ra yêu cầu cần có chính
sách đảm bảo phát triển bền vững cho ngành du lịch.
Ở nước ta, chính sách phát triển du lịch bền vững được thể hiện trong Luật
Du lịch Việt Nam 2005 tại các khoản mục của Điều 5 [17, tr.3] và Chiến lược phát
triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 chỉ rõ: “Thực hiện
chính sách phát triển bền vững; có chính sách ưu đãi đối với phát triển du lịch sinh
thái, du lịch “xanh”, du lịch cộng đồng, du lịch có trách nhiệm” [30]. Chiến lược
định hướng trách nhiệm về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong tất cả các
lĩnh vực từ hoạch định chính sách đến quy hoạch, khai thác tài nguyên, phát triển
sản phẩm, tổ chức kinh doanh và phục vụ khách du lịch với mục tiêu chính của
chính sách phát triển bền vững là để 3 trụ cột của du lịch bền vững là Môi trường,
Văn hóa xã hội và Kinh tế được phát triển một cách đồng đều và hài hòa.
doanh nghiệp.. chưa được quan tâm đúng mức.
Trong quá trình thực hiện chính sách, vấn đề đầu tư, triển khai các dự án phát
triển du lịch đôi khi được áp đặt từ bên ngoài hoặc từ trên xuống, nói các khác tức là
vấn đề “áp đặt chính sách” và điều này thường gây rủi ro trong thực thi chính sách
do không tính được một cách toàn diện đến nguồn tài nguyên tự nhiên và văn hóa
cũng như mối quan tâm của cộng đồng địa phương. Trong những trường hợp như
vậy thường nảy sinh mâu thuẫn, thậm chí đối kháng về quyền lợi của cộng đồng địa
phương đối với tổ chức đầu tư. Kết quả là sự phát triển của dự án sẽ không thuận
lợi, thậm chí không thể thực hiện được.
Hoạt động du lịch bền vững cần chú ý tới khả năng chịu tải của khu du lịch,
tuy nhiên trong việc hoạch định và xây dựng chính sách phát triển du lịch hiện nay,
công tác dự báo, đánh giá tác động đến môi trường trong khai thác du lịch chưa
được nghiên cứu một cách toàn diện để có những dự báo kịp thời nhằm điều chỉnh
hoàn thiện chính sách.
1.2.2. Nguyên nhân của vấn đề chính sách
Thứ nhất, là nhận thức về công tác quản lý, đầu tư, khai thác tiềm năng du
15
lịch còn hạn chế: Mặc dù, Việt Nam có tiềm năng về du lịch tuy nhiên việc quy
hoạch khai thác tài nguyên du lịch ở nước ta còn chưa tương xứng với tiềm năng ví
dụ như nhiều khu du lịch đưa vào khai thác không hiệu quả và ngược lại cũng có
nhiều nơi rất có tiềm năng du lịch nhưng chưa được đầu tư, khai thác đúng và đạt
hiệu quả như mong đợi. Nhiều nơi việc khai thác tài nguyên du lịch còn cẩu thả,
bừa bãi và thiếu sự quản lý của cơ quan ban, ngành dẫn đến tình trạng các tài
nguyên du lịch bị hao mòn, suy kiệt và không phát huy được tiềm năng vốn có.
Việc khai thác tài nguyên du lịch vẫn chỉ 1 hướng “cho đi” mà không “nhận lại”,
nghĩa là một số nơi chỉ biết khai thác và tận dụng triệt để nguồn tài nguyên du lịch
mà không có ý thức bảo vệ, phục hồi, tôn tạo. Bên cạnh đó ý thức của một bộ phận
cá nhân trong ngành du lịch chưa cao, chưa quan tâm đến lợi ích chung của cộng
Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn trong kế hoạch nghỉ dưỡng của họ chưa được
đầu tư đúng mức.
1.2.3. Mục tiêu chính sách
- Mục tiêu tổng quát
Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ trọng
ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm;
chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định
thương hiệu và khả năng cạnh tranh. Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi
trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.
- Mục tiêu cụ thể
- Tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch bình quân thời kỳ 2011 - 2020 đạt
11,5 - 12%/năm.
- Năm 2015: Việt Nam đón 7 - 7,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 36 - 37
triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 10 - 11 tỷ USD, đóng
góp 5,5 - 6% vào GDP cả nước; có tổng số 390.000 buồng lưu trú với 30 - 35% đạt
chuẩn từ 3 đến 5 sao; tạo ra 2,2 triệu việc làm trong đó có 620.000 lao động trực
tiếp du lịch.
- Năm 2020: Việt Nam đón 10 - 10,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 47 48 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 18 - 19 tỷ USD,
đóng góp 6,5 - 7% GDP cả nước; có tổng số 580.000 buồng lưu trú với 35 - 40%
17
đạt chuẩn từ 3 đến 5; tạo ra 3 triệu việc làm trong đó có 870.000 lao động trực tiếp
du lịch.
- Năm 2030: Tổng thu từ khách du lịch tăng gấp 2 lần năm 2020.
1.2.4. Giải pháp và công cụ chính sách phát triển du lịch bền vững
Từ những vấn đề chính sách nêu trên có thể thấy chính sách phát triển du lịch
bền vững hướng đến một số nhóm giải pháp cơ bản sau: