Thực hiện chính sách cải cách hành chính từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH ĐỨC THỌ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TỪ THỰC
TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - năm 2018

1


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH ĐỨC THỌ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TỪ THỰC
TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành

: Chính sách công


trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức; đẩy nhanh việc áp
dụng chính phủ điện tử” [13, tr.172, 174, 178]
Ngày nay, trước xu thế toàn cầu hoá kinh tế và văn hoá, CCHC là một
nhu cầu tất yếu của hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhằm xây dựng một
nền hành chính nhà nước hiện đại, năng động, hiệu quả, giảm phiền hà, một
nền hành chính lấy đối tượng phục vụ làm tôn chỉ, mục đích chủ yếu, để từ đó
xây dựng, phát triển và hoàn thiện nền hành chính. Lý do để thực hiện đề tài
vì:Thứ nhất: Ở Việt Nam hiện nay, công cuộc CCHC nhà nước đang là tâm
điểm trong các nỗ lực của Đảng và Nhà nước nhằm tiến tới phát triển, hoàn

3


thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “Nhà nước của dân, do dân, vì
dân”, xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực
hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ và văn minh” và là điều
kiện căn bản để góp phần đạt được các mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh
tế -xã hội quốc gia. Thứ hai: trong quá trình thực hiện chính sách CCHC vẫn
bộc lộ một số nhược điểm: Nhiều cấp, nhiều ngành chưa thực sự quan tâm và
coi việc thực hiện chính sách CCHC là một trong những giải pháp cơ bản
thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Tốc độ thực hiện chính sách
còn chậm, chưa nhất quán, hiệu quả thực hiện còn thấp so với mục tiêu đặt ra.
Hệ thống thể chế còn thiếu đồng bộ, thống nhất, còn chồng chéo, nhiều về số
lượng nhưng chất lượng còn hạn chế. Có sự giảm đầu mối trực thuộc từ
Trung ương đến địa phương, nhưng bộ máy bên trong còn chưa giảm. Công
tác kiểm tra sau phân cấp còn buông lỏng. Chưa xây dựng cơ cấu cán bộ,
công chức trong các cơ quan hành chính và chưa thực hiện tốt việc đào tạo
trước khi bổ nhiệm; cơ chế quy định trách nhiệm của người đứng đầu chưa rõ
ràng và chưa đánh giá được chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; chính sách
cải cách tiền lương triển khai còn chậm, tiền lương chưa thực sự là động lực

vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến TTHC, những vấn đề lý luận đó đã được
minh chứng bằng thực tiễn không chỉ ở nước ta mà cả ở một số nước khác trên
thế giới.
- Học viện Hành chính, Tài liệu bồi dưỡng về quản lý nhà nước,
chương trình chuyên viên cao cấp, Nxb KHKT, Hà Nội 2011. Chuyên đề cải
cách hành chính nhà nước chỉ rõ: Cải cách hành chính được hiểu là những
thay đổi có tính chất hệ thống, lâu dài, có mục đích nhằm làm cho hệ thống
hành chính nhà nước hoạt động tốt hơn, để thực hiện tốt hơn các chức năng,
nhiệm vụ quản lý xã hội.
- Sách chuyên khảo: PGS, TS Nguyễn Hữu Hải (chủ biên), Giáo trình
Hành chính nhà nước, Nxb Giáo dục Việt Nam 2012, Chuyên đề cải cách

5


hành chính nhà nước đã đề cập đến lý luận về hành chính nhà nước; khái
niệm, nội dung và phương hướng, giải pháp cải cách hành chính ở nước ta
- Sách chuyên khảo: "Chính sách công của Hoa Kỳ (giai đoạn 1935 2001)" của tác giả Lê Vinh Danh đã đề cập đến những vấn đề cơ bản như:
Chính sách công và chính quyền; quy trình thiết kế chính sách công; chính
sách công Hoa Kỳ giai đoạn 1935 - 2000; quy trình thiết kế chính sách trong
thực tế [6]
- Sách chuyên khảo: "Chính sách công - Những vấn đề cơ bản" của tác
giả Nguyễn Hữu Hải đã trình bày những nội dung cơ bản về Chính sách công
như: Khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại chính sách công; cấu trúc nội
dung và chu trình chính sách công; hoạch định chính sách công; tổ chức thực
thi chính sách công; đánh giá chính sách công; tổ chức công tác phân tích,
đánh giá chính sách công [19]
-“Giáo trình Đại cương về chính sách công” (2016) của tác giả PGS, TS
Nguyễn Hữu Hải, PGS, TS Lê Văn Đính, TS Đinh Trung Thành, Nxb CTQG,
Hà Nội, đã thể hiện các nội dung cơ bản về chính sách công như: Quan niệm,

- GS.TSKH. Nguyễn Văn Thâm (Học viện Hành chính Quốc gia), Cải
cách hành chính ở Việt Nam: Thành tựu và rào cản, VNH3.TB7.756. Bài viết
đã khái quá thành tựu cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam thời gian qua
và nêu lên những rào cản là: Sức ỳ của bộ máy rất lớn. Nạn quan liêu, tham
nhũng quá nặng nề, đã bám rễ sâu vào nền hành chính Việt Nam, việc loại bỏ
nó cần phải rất kiên trì, phải có thời gian. Sự lạc hậu trong lý luận và trong tư
duy, phương pháp điều hành là quá lớn, cần có thời gian để điều chính từng
bước. Còn nhiều vướng mắc trong quá trình giải quyết vấn đề một cách tổng
thể do cơ chế còn chưa được thiết lập đồng bộ. Còn thiếu những kiến thức,
kinh nghiệm cần thiết cho cải cách hành chính. Trình độ cán bộ lạc hậu so với
yêu cầu chung. Những tồn tại trên chính là những rào cản mà công cuộc cải

7


cách hành chính nhà nước ở Việt Nam đang gặp hiện nay [33]

-

ThS. Phạm Đức Toàn , Mối quan hệ giữa cải cách hành chính và đổi mới
kinh tế là tất yếu trong tổng thể đổi mới đất nước, Tạp chí Tổ chức nhà nước
Online, 11/9/2013. Bài viết chỉ rõ Để tạo động lực cho đổi mới kinh tế, cần
đẩy mạnh CCHC trên ba phương diện chủ yếu: (1) hoàn thiện hệ thống thể
chế, pháp luật nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, hội
nhập kinh tế quốc tế thành công; (2) xây dựng bộ máy hành chính năng động,
cởi mở, hiệu quả, nhạy bén với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và (3) nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.
-TS. Hà Quang Trường, Cải cách hành chính, Tạp chí Tổ chức nhà
nước Online 04/04/2014. Bài viết tập trung bàn về khái niệm và nội dung cải
cách hành chính

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên đề tài có nhiệm vụ
-Thứ nhất, Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về việc thực hiện chính
sách cải cách hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay
-Thứ hai, Phân tích thực trạng thực hiện chính sách cải cách hành chính
giai đoạn 2012-2017 tại quận Ngũ Hành Sơn
-Thứ ba, Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách cải cách hành chính ở quận Ngũ Hành Sơn trong thời gian tới
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động thực hiện cải cách hành chính ở quận Ngũ Hành Sơn, Thành
phố Đà Nẵng
4.2.Phạm vi nghiên cứu
-Không gian: Quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng
-Thời gian: Phân tích thực trạng thực hiện chính sách cải cách hành

9


chính từ năm 2012-2017, đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách cải cách hành chính ở quận Ngũ Hành Sơn trong thời gian tới
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm, chủ trương, chính sách,
pháp luật của Đảng và nhà nước ta về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa nói chung và cải cách hành chính nhà nước nói riêng
5.2.Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau: Phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích và tổng hợp,
thống kê được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các

dung của luận văn bao gồm 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách cải cách hành chính
nhà nước ở nước ta hiện nay
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách cải cách hành chính tại
quận Ngũ Hành Sơn, Thành Phố Đà Nẵng thời gian qua
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách cải
cách hành chính ở quận Ngũ Hành Sơn, Thành Phố Đà Nẵng trong thời gian
tới

11


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. Chính sách công và thực thi chính sách công
1.1.1. Chính sách công và chu trình chính sách công
1.1.1.1.Chính sách công
Chính sách công là một lĩnh vực khoa học xã hội, chính sách công dựa
trên những nguyên tắc kinh tế học, xã hội học, luật học. [19], [20]
Chính sách công là những quy định về ứng xử của Nhà nước với những
hiện tượng nảy sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện dưới những hình
thức khác nhau một cách ổn định nhằm đạt được mục tiêu định hướng.
Việc tổ chức thực thi chính sách (Policy Implementation) là quá trình
biến các chính sách thành những kết quả, trên thực tế là các hoạt động có tổ
chức trong bộ máy nhà nước, nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà chính
sách đã đề ra.
Nhiều người hiểu chính sách công một cách đơn giản là những chủ
trương, chế độ mà Nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nếu
không có việc thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì

với nhau từ khi lựa chọn được vấn đề chính sách công đến khi kết quả của
chính sách được đánh giá.Ở nước ta, giai đoạn hình thành chính sách và ra
quyết định chính sách là thống nhất và chỉ diễn ra trong khu vực nhà nước và
do các cơ quan công quyền thực hiện, vì vậy hai giai đoạn này được ghép lại
thành giai đoạn hoạch định chính sách.Theo mô hình này, có các giai đoạn:
Giai đoạn đầu tiên trong chu trình là hoạch định chính sách: Đây là giai đoạn
hình thành phương án chính sách và ra quyết nghị chính sách. Nội dung quan
trọng trong giai đoạn hoạch định chính sách công là việc xác định mục tiêu
chính sách và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó. Giai đoạn tiếp theo là tổ

13


chức thực thi chính sách. Đây là giai đoạn hiện thực hóa chính sách trong đời
sống xã hội (thực thi chính sách).Giai đoạn cuối cùng là đánh giá chính sách
công. [19], [20]
1.1.2.Thực hiện chính sách công
Tổ chức thực thi chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính
sách, là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể theo mục tiêu đã định
hướng trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý.
1.2. Thực hiện chính sách cải cách hành chính nhà nước
1.2.1. Khái niệm chính sách cải cách hành chính nhà nước, thực
hiện chính sách cải cách hành chính Nhà nước ở nước ta
- Hành chính được hiểu là hoạt động chấp hành và điều hành trong việc
quản lý một hệ thống theo những quy định định trước nhằm giúp cho hệ thống
đó hoàn thành mục tiêu của mình. Trong hoạt động của nhà nước, hoạt động
hành chính nhà nước gắn liền với việc thực hiện một bộ phận quan trọng của
quyền lực nhà nước là quyền hành pháp - thực thi pháp luật. Như vậy, hành
chính nhà nước được hiểu là một bộ phận của quản lý nhà nước [34, tr.9]
- Hành chính nhà nước hay hành chính công (public administration) là

tham mưu, hoạch định… đã dẫn đến tình trạng sai phạm ngay trong văn bản
quy phạm pháp luật, nhiều chính sách vừa ban hành đã phải sửa đổi, hoặc
hiệu lực thực thi không cao. Hệ lụy là sự mất lòng tin của doanh nghiệp và
người dân đối với hệ thống quản lý nhà nước. Tình trạng này có nhiều nguyên
nhân, đội ngũ cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng (thậm chí "bắt
buộc" để hoàn thiện hồ sơ tiêu chuẩn) nhưng nặng về lý luận chung chung,
thiếu thực tiễn nên bằng cấp nhiều nhưng không đủ năng lực thực thi nhiệm
vụ. Nhiều người không hiểu quy trình làm việc, hoặc nếu hiểu thì bớt xén quy
trình. Không có đủ năng lực tự giải quyết công việc, không ý thức được trách
nhiệm công vụ, nhiều cán bộ, công chức làm việc theo kiểu nhìn trước, ngó
sau, đoán ý cấp trên, liên kết thành "nhóm lợi ích" để gây khó dễ, làm chậm

15


lại quá trình thực hiện công việc. Đó là chưa kể kể một bộ phận "không nhỏ"
và "ở các cấp" (nêu trong Nghị quyết Trung ương 4) có tham ô, tham nhũng
gây dư luận xấu trong nhân dân.
1.2.2.2.Nội dung cải cách hành chính nhà nước
Nội dung cải cách hành chính bao gồm: Cải cách thể chế; Cải cách thủ
tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính
công; hiện đại hóa hành chính [5], [14]
1.3.Tính tất yếu khách quan của việc cải cách hành chính nhà nước
ở nước ta hiện nay
Cải cách hành chính được Đảng, Nhà nước xác định là nhiệm vụ
thường xuyên, lâu dài, là một trong ba đột phá chiến lược, quyết định tới sự
thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Cải cách hành chính được coi là một nhiệm vụ trọng tâm của nền hành chính
nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Tính cấp thiết của việc cải cách hành

qua việc hệ thống thể chế, luật pháp tiếp tục được đổi mới và hoàn thiện. [14]
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đánh giá: “Cải cách
hành chính tiếp tục được chú trọng và bước đầu đạt được kết quả tích cực…”,
[13, tr.172]
-Bên cạnh kết quả đạt được nói trên, công cuộc cải cách hành chính
thời gian qua vẫn tồn tại những hạn chế, bất cập. Về vấn đề này; Nghị quyết
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá X về đẩy mạnh cải
cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí của bộ máy nhà nước
(Nghị quyết số 17- NQ/TW ngày 01 tháng 08 năm 2007) đánh giá “Nền hành
chính nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Các thể chế, pháp luật vẫn
còn nhiều vướng mắc, bất cập. Về chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan

17


nhà nước còn trùng lặp, chưa rõ ràng và chưa bao quát các lĩnh vực mà nhà
nước quản lí; cơ cấu tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chưa hợp lý. Chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức còn bộc lộ nhiều yếu kém về năng lực chuyên
môn, đạo đức, lối sống. Các quy định về quản lí tài chính công tuy có nhiều
đổi mới, nhưng còn bất cập. Thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc, gây
phiền hà cho tổ chức và công dân; kỉ luật, kỉ cương cán bộ, công chức chưa
nghiêm; hiệu lực, hiệu quả của quản lí nhà nước còn nhiều yếu kém” [14] và
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết số 18-NQ/TW
Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII… chỉ rõ “Cải
cách hành chính còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu; thủ tục hành
chính còn phức tạp, phiền hà, đang là rào cản lớn đối với việc tạo lập môi
trường xã hội, môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch, hiệu quả cho sự
phát triển” [13, tr.172, 174, 178], “Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ
tục hành chính chuyển biến chậm, không đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu.
Mặc dù đã được quan tâm nhưng hạ tầng, công nghệ vẫn chưa phát huy hết

tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước” [14]
1.3.4.Tóm lại
Tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng
hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm chi thường xuyên và góp
phần cải cách chính sách tiền lương” [15, tr.45, 50]; một trong nhiệm vụ, giải
pháp trọng tâm là cải cách hành chính nhà nước: “Đẩy mạnh thực hiện
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng
nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân
dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã
hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ,
công chức; đẩy nhanh việc áp dụng chính phủ điện tử” [13, tr.178]; “Đẩy
mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính gắn kết chặt
chẽ với việc kiện toàn tổ chức, giảm đầu mối, bỏ cấp trung gian, tinh giản

19


biên chế của các bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, bảo đảm dân chủ, công
khai, minh bạch, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân…. Rà soát, điều chỉnh, sắp
xếp tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động của chính quyền địa phương, góp phần
đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính theo hướng
dân chủ, công khai, minh bạch, chuyên nghiệp; tổ chức thực hiện có hiệu quả
mô hình trung tâm phục vụ hành chính công, cơ chế một cửa, một cửa liên
thông ở các cấp” [15, tr.57, 60]
Kết luận Chương 1
Cải cách hành chính làm cho hệ thống hành chính nhà nước hoạt động
tốt hơn, để thực hiện tốt hơn các chức năng, nhiệm vụ quản lý xã hội. Công
cuộc đổi mới đất nước và sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa
học - công nghệ trên thế giới, nhất là công nghệ thông tin và cuộc cách mạng
4.0, đòi hỏi chúng ta phải đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nói

21


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH HÀNH
CHÍNH Ở QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI
GIAN QUA
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội quận Ngũ Hành
Sơn, thành phố Đà Nẵng
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, dân số
Được đánh giá là có tiềm năng du lịch to lớn, quận Ngũ Hành Sơn thể
hiện qua những điều kiện hết sức thuận lợi do hệ thống sản phẩm du lịch
phong phú các di tích lịch sử, hệ thống chùa chiềng và là điểm giữa của ba di
sản văn hoá thế giới : Huế- Mỹ Sơn- Hội An. Làng nghề đá mỹ nghệ Non
Nước cũng đang được đề nghị công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của
quốc gia.
Về dân số có: 43 084 người với mật độ dân số: 1.171 người/km2. Hiện
nay, dân số tăng lên 61.441 với 16.470 hộ, trong đó số luợng người trong độ
tuổi lao động là 40.765 người, chiếm 66,35% so với tổng dân số của quận.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1.Về kinh tế
Hằng năm, quận ủy ban hành Nghị quyết tập trung lãnh đạo bằng các
chuyên đề, đề án và khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp và hộ dân kinh
doanh vượt qua khó khăn, thách thức, tổ chức sản xuất, kinh doanh. Các
ngành kinh tế của quận dịch chuyển theo đúng định hướng, giảm tỷ trọng
ngành nông nghiệp, công nghiệp và tăng tỷ trọng ngành dịch vụ. Tổng giá trị
sản xuất các ngành thuộc quận quản lý tăng đều qua các năm. Tốc độ tăng
trưởng bình quân là 13,70%. Ngoài ra, với việc tập trung khai thác các lợi thế
phát triển của quận đã thu hút nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước đến tổ



23


luôn được chú trọng, triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng Ngũ Hành Sơn quận môi trường” giai đoạn 2014-2020.
2.1.2.2.Về văn hóa - xã hội
- Về giáo dục-đào tạo: Đã được UBND quận quan tâm đầu tư qua đó,
kết quả, 100% học sinh bậc học mầm non và tiểu học hoàn thành chương
trình cuối cấp; 99,55% học sinh được công nhận tốt nghiệp THCS, 88,24%
học sinh thi đỗ vào lớp 10 các trường công lập; tỷ lệ học sinh đạt giải trong
các kỳ thi học sinh giỏi, năng khiếu do quận và thành phố tổ chức tăng cao so
với năm học trước.
- Về y tế: Hoạt động y tế đảm bảo tốt mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và
nâng cao sức khỏe cho người dân. Được thành phố quan tâm đầu tư xây dựng
Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng hiện đại trên địa bàn quận và khoa Lão đầu
tiên của ngành y tế Đà Nẵng tại trung tâm Y tế quận Ngũ Hành Sơn đã góp
phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. 04 phường của quận
đã đạt Bộ tiêu chí mới về y tế cơ sở. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng hàng năm
giảm 0,3%. Công tác vệ sinh phòng dịch được chú trọng thực hiện, đã xử lý
kịp thời các dịch bệnh xảy ra, không để lây lan trên diện rộng. Quản lý tốt
công tác vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Công tác đền ơn đáp nghĩa chăm lo các đối tượng chính sách và
người có công với cách mạng được thực hiện thường xuyên. Các nghĩa trang
liệt sĩ, nhà truyền thống, khu tưởng niệm… được đầu tư sửa chữa, nâng cấp.
Đa số các hộ gia đình chính sách có nhà ở ổn định và có mức sống khá so với
mặt bằng chung của địa phương.
-Công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo cho nhân dân là nhiệm vụ
cấp thiết. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Quận ủy đã chỉ đạo xây dựng và triển khai
Đề án “Hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề và giải quyết việc làm cho nông dân
thuộc diện di dời giải tỏa, thu hồi đất sản xuất trên địa bàn quận giai đoạn


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status