BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
TIÊU THỊ THU HIỀN
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã ngành: 60340102
TP. HỒ CHÍ MINH, tháng 09 năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
TIÊU THỊ THU HIỀN
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã ngành: 60340102
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ QUANG HÙNG
TP. HỒ CHÍ MINH, tháng 09 năm 2014
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS. LÊ QUANG HÙNG
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP. HCM ngày 08 tháng 11 năm 2014
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
TT
Họ và tên Chức danh Hội đồng
1 TS. LƯU THANH TÂM Chủ tịch
2 TS. NGUYỄN VĂN KHOẢNG Phản biện 1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
của quý Thầy, Cô, Ban lãnh đạo Bảo Hiểm Xã Hội Thành phố Hồ Chí Minh, bạn bè
và các đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn TS. LÊ QUANG HÙNG, người hướng dẫn khoa học
cho luận văn, đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ cho em về mọi mặt để hoàn thành
luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Quản Trị Kinh Doanh, Phòng
Quản Lý Khoa Học – Đào Tạo sau Đại Học đã hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá
trình hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô trong Hội Đồng chấm luận văn đã có
những ý kiến đóng góp để luận văn của em được hoàn thiện hơn.
Cho em cảm ơn sâu sắc đến Quý Thầy Cô trường Đại Học Công Nghệ
Thành Phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua đã truyền đạt cho em những kiến thức
quý báu.
Tác giả luận văn: TIÊU THỊ THU HIỀN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.
i
TP.Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 09 năm 2014
Học viên thực hiện luận văn
TIÊU THỊ THU HIỀN
TÓM TẮT
Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế được bù đắp một phần thu nhập cho
người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một
management, as well as expenditure and fund management. The study sytemized
basic reasons of internal control in aministration agency. Furthermore, analyzing,
evaluating the actual state of internal control of HCMC Social Insurance. From the
analysis, the strengths and weaknesses of the internal control system of HCMC
Social Insurance, this study promoted some solutions for perfecting its operation.
Hoping that the results of this thesis will play a role in perfecting the internal
control work of social insurance in this period and in the future at HCMC Social
Insurance. These suggestions aims to help Vietnamese SI in general and HCMC
Social Insurance in specific to operate more effectively. Also the result of this study
iii
will help to build a network of safe society in Social Insurance.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ HỆ THỐNG KIỂM
SOÁT NỘI BỘ TRONG HỆ THỐNG BẢO HIỂM XÃ HỘI 3
Bảng 1.2: Đối tượng đồng thời tham gia BHXH, BHYT, BHTN 13
Bảng 1.3: Người lao động là phu nhân (phu quân) hưởng lương từ Ngân sách của Nhà nước 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI
TP. HỒ CHÍ MINH 25
2.1.1.1 Lịch sử hình thành 25
2.1.1.2 Vị trí - Dân số - Khí hậu 26
2.1.1.3 Kinh tế - Văn hoá du lịch và dịch vụ giải trí 26
2.1.1.4 Tiềm năng kinh tế 27
Thực trạng kiểm soát nội bộ trong công tác cấp sổ BHXH 37
Bảng 2.1: Tình hình thực hiện công tác cấp sổ BHXH từ 2011- 2013 37
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức BHXH TP. Hồ Chí Minh Error: Reference source not found
Hình 2.2: Quy trình Thu BHXH, BHYT bắt buộc Error: Reference source not found
vii
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một một trong những chính sách xã hội quan
trọng của Đảng và Nhà nước đối với người lao động. Chế độ chính sách BHXH
không những có ý nghĩa đối với cán bộ, công nhân viên làm việc trong khu vực
kinh tế của nhà nước mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với người lao động làm việc
trong các doanh nghiệp. Bởi vì những doanh nghiệp này, nếu chế độ, chính sách
BHXH không được thực hiện thì chủ sử dụng lao động sẽ không bị ràng buộc về
trách nhiệm đối với người lao động khi người lao động bị ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; khi hết tuổi lao động hoặc bị chết; khi sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp bị thua lỗ phải ngừng sản xuất hoặc phá sản, giải thể
Trong những trường hợp trên, nếu các chế độ, chính sách BHXH được thực hiện thì
quyền lợi người lao động theo quy định sẽ được đảm bảo, góp phần ổn định cuộc
sống cho bản thân và gia đình họ. Trường hợp ngược lại, người lao động sẽ được
hưởng các quyền lợi chính đáng, hết sức quan trọng đó.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quá trình đổi mới toàn diện trong tất cả các lĩnh
vực của đất nước đang diễn ra từng ngày. Nền kinh tế đất nước đang phát triển
mạnh mẽ theo định hướng đa thành phần kinh tế. Thực hiện tốt chế độ, chính sách
BHXH trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là yếu tố hết sức quan trong để
đảm bảo sự công bằng giữa những người lao động làm việc trong các thành phần
kinh tế khác nhau. Đó là sự công bằng về nghĩa vụ đóng góp cho đất nước, cho xã
hội cũng như công bằng về các quyền lợi mà họ cần được hưởng từ nhà nước, từ xã
hội. Chính sự bình đẳng này sẽ tạo điều kiện thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Nói cách khác, đó là sự thúc đẩy quá trình sản suất phát triển lên một trình độ mới,
cao hơn.
- Kiểm soát quá trình thực hiện công tác thu – công tác chi – giải quyết chế độ
chính sách BHXH – BHYT – BHTN cho người lao động, người dân trên địa bàn
TP. Hồ Chí Minh.
- Đảm bảo tuân thủ các qui định và luật BHXH hiện hành một cách khoa học
mang lại hiệu quả cao.
- Bảo vệ tài sản, nguồn tiền, nguồn lực để chống thất thoát quỹ, lãng phí
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động của BHXH, trong đó hoạt động kiểm
soát nội bộ:
Quản lý thu – quản lý chi - quản lý phôi thẻ BHXH, quản lý quỹ bảo hiểm xã hội
- Phạm vi nghiên cứu: Bảo Hiểm Xã Hội TP. Hồ Chí Minh.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
2
Luận văn sử dụng các phương pháp:
Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp so sánh; Phương pháp thống kê
toán học; phương pháp phân tích, dự báo.
Các phương pháp này được sử dụng kết hợp hoặc riêng rẽ trong quá trình
nghiên cứu.
4. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có rất nhiều công tình nghiên cứu về lĩnh vực BHXH. Phần
lớn các công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu rộng, tầm bao quát cao ở các
lĩnh vực định hướng chiến lược BHXH, quản lý quỹ BHXH như đề tài luận án tiến
sĩ kinh tế “Hoàn thiện quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” năm 2005 – TS
Đỗ Văn Sinh.
Luận văn thạc sĩ kinh tế - chuyên ngành Kinh tế học: “Hoàn thiện công tác
chi trả chế độ Bảo hiểm xã hội ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” năm 2007 – TS
Lý Thị Tuyết Mai; Tác giả đã nêu được thực trạng hoạt động chi trả các chế độ
BHXH trên các mặt như: Mẫu biểu chi BHXH; về quản lý đối tượng chi trả; quy
trình chi trả các chế độ BHXH; Tác giả đã đánh giá được thực trạng và nêu lên được
những ưu điểm, nhược điểm còn tồn tại trong quản lý công tác chi trả, đã đưa ra các
chỉ rõ đặc trưng riêng của loại bảo hiểm xã hội. Chẳng hạn:
“BHXH là sự đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động và gia đình họ
khi có nguy cơ mất an toàn về kinh tế do bị giảm hoặc mất khả năng lao động thông
qua việc sử dụng nguồn quỹ huy động từ người tham gia và sự tài trợ của Nhà
nước”. Định nghĩa này chỉ rõ mục đích của BHXH là đảm bảo đời sống cho người
lao động và gia đình họ thông qua sử dụng quỹ huy động từ người tham gia và sự
tài trợ của Nhà nước để trợ cấp cho người lao động bị giảm sức lao động hoặc mất
sức lao động.
Bảo hiểm nói chung hay BHXH nói riêng đều mang lại những lợi ích kinh tế
– xã hội thiết thực. Trước hết bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham
gia trước tổn thất do rủi ro gây ra. Bảo hiểm góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất,
giúp cho cuộc sống con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo cho
mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp. Ngoài ra, bảo hiểm góp phần ổn định chi tiêu của
ngân sách Nhà nước.
Với quỹ bảo hiểm do các thành viên tham gia đóng góp, cơ quan, công ty
bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người
tham gia để họ khôi phục đời sống, sản xuất kinh doanh. Như vậy, ngân sách Nhà
nước không phải chi ra để trợ cấp cho các thành viên, các doanh nghiệp khi gặp rủi
ro, tất nhiên trừ trường hợp tổn thất có tính thảm họa, mang tính xã hội rộng lớn.
Bảo hiểm còn là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế xã
4
hội. Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước thông
qua hoạt động tái bảo hiểm. Bảo hiểm thu hút số lượng lao động nhất định của xã
hội, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội, góp phần tạo ra một bộ
phận tổng sản phẩm trong nước của quốc gia. Cuối cùng bảo hiểm là chỗ dựa tinh
thần cho mọi người, mọi tổ chức kinh tế – xã hội; giúp họ yên tâm trong cuôc sống,
sinh hoạt và trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.1.1.2. Sơ lược lịch sử phát triển của bảo hiểm xã hội nói chung
BHXH là nhu cầu khách quan của người lao động, nó đảm bảo thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ gặp phải những sự kiện bảo
Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người
lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này
đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hóa như sau:
- Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu
cầu sinh sống thiết yếu của họ.
- Chăm sóc sức khỏe và chống bệnh tật.
- Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu
đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.
Hầu hết các nước khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH đối
với các viên chức Nhà nước, những người làm công hưởng lương.
BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo đảm xã hội, Ngoài
BHXH, chính sách bảo đảm xã hội còn có cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội.
Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều
kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên của xã hội, trong những trường hợp bị
bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản
thân và gia đình. Sự giúp đỡ này được thực hiện bằng các nguồn quỹ dự phòng của
Nhà nước, bằng tiền hoặc hiện vật, đóng góp của các tổ chức xã hội và những người
hảo tâm.
Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước,
của xã hội nhằm đền đáp công lao đối với những người hay một bộ phận xã hội có
nhiều cống hiến cho xã hội. Chẳng hạn những người có công với đất nước, liệt sỹ
và thân nhân liệt sỹ, thương binh, bệnh binh… đều là những đối tượng được hưởng
sự đãi ngộ của nhà nước, của xã hội.
Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về đối tượng, phạm vi và cách thức thực
hiện, song BHXH, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội đều là những chính sách xã hội
không thể thiếu được của một Quốc gia.
1.1.2.2. Nhà nước quản lý thống nhất chính sách BHXH, tổ chức bộ máy
thực hiện chính sách BHXH
Đối với việc đảm bảo vật chất cho BHXH thì vai trò của Nhà nước phụ
6
Quỹ BHXH là qũy tái chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà
nước. Quỹ có mục đích và chủ thể riêng. Quỹ BHXH ra đời, tồn tại và phát triển
gắn với sự phát triển kinh tế hàng hóa, với các mối quan hệ thuê mướn nhân công.
Mặc dù thu và chi đều được Nhà nước quy định bằng các văn bản pháp luật, nhưng
chủ yếu dựa vào quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích giữa các bên tham gia theo nguyên
tắc có tham gia mới được hưởng quyền lợi BHXH.
7
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các
nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động đóng góp
- Người lao động đóng góp
- Nhà nước đóng góp và hỗ trợ thêm
- Các nguồn khác ( cá nhân, tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư phần quỹ
nhàn rỗi)
Tuy nhiên phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia
BHXH có khác nhau. Về mức đóng góp BHXH thay đổi theo thời gian từ năm 1993
đến nay đã thay đổi mức đóng là 06 lần, một số nước quy định người sử dụng lao
động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động phải chịu toàn bộ chi phí
cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế
độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên
một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ
BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH…
Bảng 1.1: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới
Tên nước Chính phủ
Tỷ lệ đóng góp
của người lao
động so với tiền
lương (%)
Tỷ lệ đóng góp của
người sử dụng lao
- Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam quản lý thu (mức 3,7% tổng lương
của đơn vị) và tổ chức chi các chế độ trợ cấp ngắn hạn như: ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
- Bộ Nội vụ quản lý khoản thu (1% tổng quỹ lương) thông qua hệ thống ngân
sách Nhà nước và thực hiện giải quyết chế độ, tiến hành chi các chế độ trợ cấp dài
hạn: hưu trí, mất sức lao động, tử tuất cấp phát từ ngân sách.
- Quỹ thu về Bộ Tài chính quản lý và tiến hành cấp phát kinh phí chi cho các
chế độ dài hạn hàng năm theo kế hoạch của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
- Công tác kiểm tra
Về nguyên tắc chung, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phải tổ chức thu
đủ và tự cân đối các khoản chi cho các chế độ ngắn hạn theo yêu cầu. Trong những
năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, Chính phủ bổ sung chế
độ nên số thu cho các chế độ ngắn hạn không đủ bù chi, nên đầu những năm 90, Bộ
tài chính đã phải cấp bổ sung một phần kinh phí cho hoạt động này, làm cho tình
hình tài chính quốc gia đang bị thâm hụt lại càng thiếu hụt nghiêm trọng hơn.
Vì chưa xác định rõ vị trí của hoạt động BHXH y tế nên quá trình thực hiện
chính sách y tế ở nước ta đã có lúc các nhà quản lý hoạt động BHYT điều hành cơ
quan BHYT Việt Nam theo kiểu Công ty bảo hiểm thương mại.
Những năm cuối thập niên 60 và thập niên 70, kiểm tra các cấp Công đoàn
tại một số đơn vị Công đoàn cơ sở về công tác quản lý BHXH đã phát hiện thấy có
sự buông lỏng, chưa coi trọng việc kiểm tra, xác nhận các thủ tục thanh toán nghỉ
hưởng BHXH, để một số người xấu lợi dụng chế độ, chính sách BHXH của nhà
nước hưởng không đúng với chế độ quy định.
Cuối những năm 1980 và đầu 1990, Chính phủ ra quyết định số 227/HĐBT
9
ngày 29/12/1987 của Hội đồng Bộ trưởng về việc cho phép các đơn vị kinh tế quốc
doanh áp dụng điều kiện giảm bớt tuổi về hưu và quyết định số 176/HĐBT ngày
9/10/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về giải quyết trợ cấp nghỉ thôi việc một lần cho
người lao động.
Giai đoạn này cũng bộc lộ việc giải quyết chính sách BHXH có nhiều vi
hưu cho người về hưu trước năm 1995 và cho ngân sách vay theo qui định của
Chính phủ.
- Thống nhất về mặt tổ chức bộ máy quản lý sự nghiệp BHXH, khắc phục
tình trạng quản lý phân tán của cơ chế cũ.
BHXH Việt Nam tổ chức theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương
theo 3 cấp gồm có :
1. Ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
2. Ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành
phố trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
3. Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là Bảo hiểm xã hội huyện,
quận, thị xã, thành phố trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh.
Tất cả điều hành, quản lý quỹ BHXH theo kế hoạch thu và dự toán chi trên
nguyên tắc thu đủ, chi đúng qui định. Hàng năm việc thẩm định, xét duyệt quyết
toán thu, chi quỹ BHXH và chi hoạt động bộ máy được thực hiện theo 3 cấp dự
toán, BHXH Việt Nam là đơn vị dự toán cấp I trình Chính phủ phê duyệt quyết toán
của toàn hệ thống.
Công tác kiểm tra
Để khuyến khích phát triển kinh tế đa thành phần ở nước ta, đòi hỏi phải sửa
đổi chính sách BHXH cho phù hợp với tình hình đổi mới về kinh tế xã hội và khắc
phục những tồn tại trong hoạt động BHXH. Chính phủ thực hiện theo nguyên tắc có
đóng có hưởng nhằm giảm việc bao cấp chi ngân sách Nhà nước đồng thời tăng
nguồn thu thông qua việc đóng góp vào Ngân sách Nhà nước về hoạt động BHXH
cho các đối tượng tham gia BHXH, cụ thể từ năm 1993 khi Bộ luật Lao động có
hiệu lực cho đến năm 2014 mức thu đã tăng từ 20% lên đến 32,5%.
Quỹ BHXH được quản lý tập trung thống nhất, hạch toán độc lập và ngày
càng phát triển. Việc hình thành quỹ BHXH tập trung thống nhất và giao cho
BHXH Việt Nam quản lý, đánh dấu một bước ngoặt trong cải cách BHXH ở nước
ta. Mặt khác quỹ còn độc lập với Ngân sách Nhà nước, được thực hiện theo cơ chế
tự quản của ba bên tham gia đóng góp (Nhà nước, chủ sử dụng lao động và người
lao động) là phù hợp với tình hình thực tế ở nước ta. Đương nhiên quỹ hạch toán
đúng quy định của BHXH Việt Nam, chưa đảm bảo đầy đủ cơ sở và căn cứ pháp lý
cho công tác ghi và xác nhận sổ BHXH làm cơ sở cho việc giải quyết các chế độ
chính sách BHXH sau này.
- Đối với đơn vị sử dụng lao động
Không kê khai đầy đủ số lao động phải tham gia BHXH, né tránh thông qua
hợp đồng thử việc, hợp đồng lao động dưới 3 tháng.
Giảm mức đóng BHXH bằng cách đăng ký giảm quỹ lương qua việc kê khai
không đúng mức lương của người lao động.
Nộp chậm không theo thời hạn quy định hoặc trong trường hợp người lao
động được nâng lương thì việc báo cáo chậm nộp để quay vòng vốn kinh doanh
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nơi còn chưa tham gia
12
BHXH cho người lao động hoặc có tham gia thì kê khai không đúng số lao động và
mức lương tham gia BHXH.
Mức đóng BHXH – BHYT – BHTN thay đổi từ năm 1993 đến 2014
- Năm 1993: Mức đóng BHXH là 20% trong đó: Đơn vị sử dụng lao động
đóng 15% BHXH ; Người lao động đóng 5%BHXH .
- Năm 2003: Mức đóng BHXH – BHYT là 23% trong đó: Đơn vị sử dụng lao
động đóng 15% BHXH + 2% BHYT; Người lao động đóng 5% BHXH + 1% BHYT.
(Từ ngày 24-1-2002, Thủ Tướng Chính Phủ có Quyết định số 20/2002/QĐ –
TTg về việc “chuyển BHYT sang BHXH”, nên mức đóng có thay đổi).
- Năm 2009: Mức đóng BHXH – BHYT - BHTN là 25% trong đó: Đơn vị sử
dụng lao động đóng 15% BHXH + 2% BHYT +1% BHTN; Người lao động đóng
5% BHXH + 1% BHYT + 1% BHTN.(đối với đơn vị có từ 10 lao động trở xuống thì
không đóng BHTN)
- Năm 2010: Mức đóng BHXH – BHYT - BHTN là 28.5% trong đó: Đơn vị
sử dụng lao động đóng 16% BHXH + 3% BHYT +1% BHTN; Người lao động đóng
6% BHXH + 1.5% BHYT + 1% BHTN. (đối với đơn vị có từ 10 lao động trở xuống
thì không đóng BHTN)
- Năm 2012: Mức đóng BHXH – BHYT - BHTN là 30.5% trong đó: Đơn vị
Nguồn: Trích từ báo cáo tài chính BHXH TP.HCM (năm 2014)
Theo Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội cho rằng nếu không tăng mức
đóng thì quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt; Theo tính toán của BHXH Việt Nam, nếu giữ
nguyên như mức đóng hiện nay đến năm 2033 quỹ BHXH sẽ thiếu hụt 39.000 tỷ
đồng. Vì vậy phải tăng và mở rộng diện tham gia BHXH và sử dụng quỹ BHXH
một cách có hiệu quả, đầu tư vào những ngành có tính rủi ro thấp tránh thất thoát
quỹ BHXH. Việc này vừa làm tăng giá trị quỹ BHXH, vừa thúc đẩy nền kinh tế
phát triển, tạo việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống xã hội.
Đối tượng chỉ tham gia BHXH
Bảng 1.3: Người lao động là phu nhân (phu quân) hưởng lương từ Ngân sách
của Nhà nước
Năm Người sử dụng lao
động (%)
Người lao
động (%)
Tổng cộng (%)
Từ 01/2007 11 5 16
Từ 01/2010 – 12/2011 12 6 18
Từ 01/2012 – 12/2013 13 7 20
Từ 01/2014 trở đi 14 8 22
Bảng 1.4: Người lao động là phu nhân (phu quân) không phải là cán bộ, công
chức Nhà nước nhưng đã có quá trình tham gia BHXH, BHYT bắt buộc
Năm Người lao động
(%)
Ghi chú
Từ 01/2007 16 Tính theo
mức tiền lương, tiền
công tháng trước khi đi làm việc
Từ 01/2010 – 12/2011 18
Từ 01/2012 – 12/2013 20
1.2.1 Lịch sử phát triển của hệ thống lý luận về KSNB trong hoạt động BHXH
1.2.1.1 Lịch sử phát triển của hệ thống lý luận về KSNB nói chung
Để thực hiện chức năng kiểm soát, nhà quản lý sử dụng công cụ chủ yếu là
KSNB của đơn vị. Trong hơn một thế kỷ qua, khái niệm KSNB đã phát triển từ chỗ
được xem là một phương pháp giúp cho kiểm toán viên độc lập xác định phương
pháp hiệu quả nhất trong việc lập kế hoạch kiểm toán đến chỗ được coi là một bộ
phận chủ yếu của hệ thống quản lý hữu hiệu.
Khái niệm KSNB bắt đầu được sử dụng vào đầu thế kỷ 20 trong các tài liệu
về kiểm toán. Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ Hoa
Kỳ đã xuất bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB
trong các cuộc kiểm toán.
Đến thập niên 1970, kiểm soát nội bộ được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh
vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống
KSNB và vận dụng trong các cục kiểm toán. Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước
ngoài 1977, các báo cáo của Cohen Commission và FEI ( Financial Execituives
15