Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, Việt Nam đang đẩy nhanh quá trình giao
lưu và hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Sự hội
nhập này, một mặt thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển nhưng mặt khác
lại đặt các doanh nghiệp, nhất là các DNNN phải có sự đổi mới để đáp ứng
được nhu cầu đổi mới của đất nước. Trước đây, các doanh nghiệp được Nhà
nước cấp phát vốn, lãi Nhà nước thu, lỗ Nhà nước bù. Do đó, các doanh
nghiệp không có tính tự chủ, không quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, muốn tồn tại và đảm
bảo quá trình hoạt động kinh doanh được diễn ra một cách liên tục, nhịp
nhàng, các doanh nghiệp cần phải có một tiềm lực mạnh mẽ về mặt tài
chính, tức là phải có được một lượng vốn dồi dào. Để khẳng định vai trò của
vốn, Mark đã nói “tư bản đứng vị trí hàng đầu vì tư bản là tương lai”.
1
Các DNNN hiện nay đang có những vị thế tương đối bất lợi, phải đối
đầu với nhiều vấn đề nan giải, trong đó vốn và hiệu quả sử dụng vốn luôn là
một bài toán hóc búa đối với nhiều doanh nghiệp. Sử dụng vốn có hiệu quả
thực sự là một cuộc đấu trí giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường, do đó việc đi tìm lời giải cho bài toán nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn luôn là một vấn đề mang tính cần thiết và cấp bách.
Qua quá trình nghiên cứu và được sự hướng dẫn nhiệt tình của thày
giáo, PGS.TS Mai Văn Bưu, em quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay”.
Do kiến thức còn hạn chế và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên việc
nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong được sự đóng góp
ý kiến quý báu của thày giáo để việc nghiên cứu ngày càng hoàn thiện hơn.
1
Tích tụ và tập trung vốn trong nước- NXB Thống kê,1997
Lê Thanh Hiền - Lớp quản lý kinh tế 47B 1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Khi đã đủ về lượng, tiền phải được vận động với mục đích tạo ra lợi
nhuận. Cách vận động và phương thức vận động của tiền tuỳ thuộc vào từng
phương thức đầu tư sinh lợi.
1.2. Phân loại vốn.
Vốn trong doanh nghiệp được phân chia thành nhiều loại riêng biệt, tuỳ theo
từng căn cứ phân loại.
1.2.1. Căn cứ vào nguồn hình thành.
1.2.1.1. Vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, DNNN
thì có chủ sở hữu là Nhà nuớc. Doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi
phối, định đoạt. Khi doanh nghiệp mới được thành lập, vốn chủ sở hữu do các
thành viên đóng góp và hình thành nên vốn điều lệ. Khi doanh nghiệp đang hoạt
động, ngoài vốn điều lệ còn có một số nguồn vốn khác cùng thuộc nguồn vốn chủ
sở hữu như: lợi nhuận không chia, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính...
1.2.1.2. Các khoản nợ phải trả.
Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp có trách
nhiệm thanh toán cho các tác nhân kinh tế. Đó là số tiền vốn mà doanh nghiệp đi
vay ( ngắn hạn và dài hạn), vốn liên doanh, tín dụng thương mại, tín dụng thuê
mua, các khoản phải thanh toán cho cán bộ công nhân viên, phải nộp ngân sách...
1.2.2. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn.
1.2.2.1. Nguồn vốn thường xuyên
Đây là nguồn vốn từ một năm trở lên, bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và các
khoản vay dài hạn. Nguồn vốn này có tính chất ổn định, doanh nghiệp thường sử
dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu
thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Nguồn vốn tạm thời.
Đây là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà doanh nghiệp thường sử dụng để
đáp ứng tạm thời, bồi thường những phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh
Lê Thanh Hiền - Lớp quản lý kinh tế 47B 3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Ba là: Sau nhiều chu kỳ sản xuất, VCĐ mới hoàn thành một vòng luân
chuyển.
1.2.3.1.3. Cơ cấu vốn cố định.
Việc nghiên cứu cơ cấu VCĐ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý
và sử dụng VCĐ. Khi nghiên cứu cơ cấu VCĐ phải nghiên cứu trên hai góc độ là
nội dung kế hoạch và tỷ trọng từng loại. Quan trọng nhất là phải xây dựng được
một cơ cấu hợp lý phù hợp với tình hình cụ thể của doanh nghiệp. Cơ cấu VCĐ
của doanh nghiệp là một yếu tố động và thay đổi theo không gian và thời gian.
Hiện nay, VCĐ trong doanh nghiệp được biểu hiện bằng hình thái giá trị của
các loại tài sản cố định huy động trong sản xuất.
- Nhà xưởng, vật kiến trúc
- Máy móc, thiết bị.
- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn.
- Thiết bị, dụng cụ quản lý.
- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm.
- Các loại tài sản cố định khác.
Cách phân loại này cho thấy công dụng cụ thể của tài sản cố định trong
doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng tài sản cố định và
tính toán khấu hao tài sản cố định chính xác.
1.2.3.2. Vốn lưu động.
1.2.3.2.1. Khái niệm.
Bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có đối tượng
lao động. Lượng tiền ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về các đối tượng lao động gọi
là vốn lưu động của doanh nghiệp. Biểu hiện dưới hình thái vật chất của VLĐ là tài
sản lưu động. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân
chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh. VLĐ tham gia trực tiếp vào quá trình
sản xuất, qua mỗi chu kỳ, VLĐ chuyển qua nhiều hình thái khác nhau như tiền tệ,
nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và trở lại hình thái tiền tệ sau khi sản phẩm
được tiêu thụ.
dang, bán thành phẩm, chi phí chờ kết chuyển.
Lê Thanh Hiền - Lớp quản lý kinh tế 47B 6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm giá trị của thành phẩm, vốn
bằng tiền (kể cả vàng, bạc, đá, quý..), các khoản đầu tư ngắn hạn và các khoản ký
cược, ký quỹ ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán.
1.3. Vai trò của vốn trong doanh nghiệp.
Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dù ở quy mô nào cũng cần phải có một
lượng vốn nhất định, nó là tiền đề có sự ra đời, tồn tại và phát triển của bất kỳ một
doanh nghiệp nào.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một trong các yếu tố quyết
định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Vốn không những đảm bảo khả
năng mua sắm máy móc trang thiết bị, dây truyền công nghệ để phục vụ cho quá
trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường
xuyên, liên tục.
Vốn là yếu tố quan trọng quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Trong nền kinh tế
thị trường hiện nay, với sự cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp phải không ngừng
cải tiến máy móc thiết bị, đầu tư hiện đại hóa công nghệ... để nâng cao năng lực
cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của mình. Muốn như vậy, doanh nghiệp phải có
một lượng vốn đủ lớn.
Vốn còn là yếu tố quyết định đến viêc mở rộng phạm vi hoạt động của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn đầu tư mở rộng sản xuất, tham gia vào thị
trường mới, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị
trường thì trước hết phải có một lượng vốn dồi dào.
Do vốn có vai trò quan trọng của vốn như vậy, các doanh nghiệp cần phải có
những biện pháp hữu hiệu sao cho có thể sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất.
2. Hiệu quả sử dụng vốn.
2.1. Quan điểm về hiệu quả và hiệu quả sử dụng vốn.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải giải quyết ba vấn
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp chịu tác động của rất nhiều yếu tố
khác nhau. Để có cái nhìn tổng quát ta xem xét lần lượt các yếu tố của môi trường
bên ngoài và môi trường bên trong doanh nghiệp.
Lê Thanh Hiền - Lớp quản lý kinh tế 47B 8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2.2.1.Các nhân tố chủ quan.
2.2.1.1.Các nhân tố về quản lý.
Một là : Trình độ quản lý của doanh nghiệp. Đây là yếu tố tác động mạnh
nhất đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Trong một môi trường ổn định
thì có lẽ đây là yếu tố quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Một bộ
máy quản lý tốt với trình độ cao sẽ giúp cho hoạt động doanh nghiệp đạt kết quả
cao và ngược lại. Do đó doanh nghiệp cần nâng cao trình độ quản lý, đặc biệt là
đối với cán bộ quản lý tài chính.
Hai là : Lựa chọn chiến lược kinh doanh thích hợp. Trong nền kinh tế thị
trường, quy mô và tính chất sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là do thị
trường quyết định. Khả năng nhận biết, dự đoán thị trường và nắm bắt thời cơ là
những nhân tố quyết định đến thành công hay thất bại trong kinh doanh. Vì vậy,
việc lựa chọn một chiến lược kinh doanh hợp lý, đúng đắn có ảnh hưởng lớn hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Các chiến lược kinh doanh phải được xây dựng
trên cơ sở tiếp cận thị trường, có như vậy, sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra
mới có khả năng tiêu thụ được, vốn sẽ được luân chuyển một cách đều đặn, tài sản
cố định mới có khả năng phát huy được hết công suất, hiệu quả sử dụng vốn sẽ
cao.
Ba là : Lựa chọn ngành nghề kinh doanh. Một doanh nghiệp khi thành lập
phải xác định trước cho mình một loại ngành nghề kinh doanh nhất định. Những
ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động của
doanh nghiệp. Để lựa chọn được loại hình kinh doanh thích hợp đòi hỏi doanh
nghiệp phải tiến hành nghiên cứu phân tích môi trường, phân tích điểm mạnh,
điểm yếu của mình, đánh giá các đối thủ cạnh tranh cùng ngành... Với những lĩnh
vực kinh doanh rủi ro thấp, lợi nhuận cao, ít có doanh nghiệp có khả năng tham gia
nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh theo những ngành nghề mà doanh nghiệp
đã lựa chọn và hướng các hoạt động đó theo chính sách quản lý kinh tế vĩ mô.
Vì vậy, chỉ một thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý và chính sách của Nhà nước
Lê Thanh Hiền - Lớp quản lý kinh tế 47B 10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cũng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, ví dụ như: việc quy định trích
khấu hao, tỷ lệ trích lập các quỹ, các văn bản chính sách về thuế suất...Nói
chung, việc thay đổi cơ chế và chính sách của Nhà nước có thể gây rất nhiều
khó khăn cho doanh nghiệp. Song, nếu doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được
những thay đổi và thích nghi thì sẽ đứng vững trên thị trường.
2.2.2.2.Các yếu tố của thị trường.
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng những cơ hội thách thức trên thị trường sẽ
tác động lớn đến sự thành bại của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực ít có đối thủ cạnh tranh hoặc có ưu thế vượt trội so với đối thủ
cạnh tranh thì khả năng thu lợi nhuận lớn của doanh nghiệp đó là lớn. Điều này
thể hiện rất rõ trong các doanh nghiệp hoạt động trong ngành độc quyền của
Nhà nước. Ngược lại với những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ít có cơ
hội phát triển và gặp sự cạnh tranh gay gắt của đối thủ cạnh tranh thì hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp đó sẽ thấp. Môi trường cạnh tranh không chỉ tác
động đến hiệu quả của doanh nghiệp trong hiện tại mà còn trong tương lai. Bởi
vì nếu doanh nghiệp có được thắng lợi ban đầu trong cuộc cạnh tranh thì sẽ tạo
được ưu thế về vốn, về uy tín, từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh trong tương
lai.
2.3. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
2.3.1. Nhóm các chỉ tiêu phán ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
2.3.1.1.Hệ số sinh lời tài sản (ROA).
Hệ số sinh lời tài sản.
(ROA)
=
Lợi nhuận sau thuế.
Số vòng quay của VLĐ =
Tổng doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân
Chỉ số này cho biết số vòng quay của VLĐ trong một kỳ sản xuất kinh
doanh. Số vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ tăng và ngược lại.
2.3.3. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
2.3.3.1.Hệ số thanh toán ngắn hạn.
Hệ số thanh toán
=
Tài sản lưu động.
Lê Thanh Hiền - Lớp quản lý kinh tế 47B 12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nợ ngắn hạn.
Hệ số thanh toán ngắn hạn cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản
lưu động để đảm bảo cho một đồng nợ ngắn hạn. Tỷ lệ thanh toán ngắn hạn càng
cao thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng được tin tưởng và ngược lại tỷ
lệ thanh toán càng thấp thì khả năng thanh toán khó mà tin tưởng được. Hệ số này
thông thường được chấp nhận ở mức xấp xỉ là 2.0
2.3.3.2.Hệ số thanh toán nhanh.
Hệ số thanh toán
=
Tiền mặt + khoản phải thu.
Nợ ngắn hạn.
Hệ số này cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền và các
khoản phải thu để thanh toán ngay cho một đồng nợ ngắn hạn. Tỷ lệ thanh toán
nhanh càng cao thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Thông thường, hệ số thanh toán nhanh được chấp nhận ở mức xấp xỉ là 1.0
2.4. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh thường đặt ra nhiều
mục tiêu và tuỳ thuộc vào giai đoạn hay điều kiện cụ thể mà có mục tiêu ưu tiên