Tiểu luận tài chính Nguyễn Thị Lan Anh - Lớp 730
Lời nói đầu
Chúng ta đều biết doanh nghiệp nhà nớc (DNNN) là bộ phận quan trọng
nhất của nền kinh tế quốc gia, có thể coi là xơng sống của nền kinh tế nớc
nhà, nó có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc và trong quá trình hội nhập. Chính vì vai trò to lớn của các DNNN đối với
sự phát triển của đất nớc nên Đảng và Nhà nớc ta rất chú trọng đến việc thúc
đẩy sự lớn mạnh của các doanh nghiệp này.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đánh dấu một bớc ngoặt trong việc đổi
mới chính sách và cơ chế thị trờng nói chung, thị trờng và sản xuất kinh doanh
nói riêng. Nhng cùng với nó, các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh
gay gắt trên thị trờng. Trong cuộc cạnh tranh này, các DNNN đang ở vị thế có
nhiều bất lợi. Một trong những bất lợi rất lớn đang đợc nhà nớc cũng nh các
doanh nghiệp rất quan tâm là vấn đề tạo vốn và hiệu quả sử dụng vốn của các
doanh nghiệp này. Có thể nói vấn đề vốn đang thực sự là một bài toán khó, đòi
hỏi khối DNNN phải nhanh chóng tìm ra lời giải nếu không các doanh nghiệp
này khó có thể đứng vững trong một nền kinh tế thị trờng đầy tính cạnh tranh
nh hiện nay. Nhng để giải đợc bài toán hóc búa về vốn cho các DNNN trớc hết
chúng ta cần phải tìm hiểu và phân tích tình hình thực tế của việc huy động vốn
và sử dụng vốn trong các DNNN.
Chính vì tính cấp bách, thiết thực cũng nh tầm quan trọng của vấn đề vốn đối
với các DNNN mà em đã chọn đề tài Thực trạng tạo vốn và sử dụng vốn trong
các DNNN ở Việt Nam hiện nay. Do thời gian có hạn nên bài viết của em
không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến
của các thầy cô giáo và các bạn để bài viết của em đợc hoàn thiện hơn. Em xin
chân thành cảm ơn!
1
Tiểu luận tài chính Nguyễn Thị Lan Anh - Lớp 730
Nội dung chính
I, Vai trò của vốn đối với DNNN trong nền kinh tế thị trờng
1, Khái quát chung về vốn
những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Vốn
không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc, thiết bị, dây chuyền công
nghệ để phục vụ sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh
đợc diễn ra thờng xuyên và liên tục. Vốn còn là yếu tố quan trọng quyết định
năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và vị thế của doanh nghiệp trên
thị trờng. Ngoài ra, vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp. Có vốn thì các doanh nghiệp mới cơ thể mở
rộng sản xuất, thâm nhập vào thị trờng mới, từ đó mở rộng thị trờng tiêu thụ,
nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thơng trờng.
Với tầm quan trọng vô cùng to lớn của vốn nh vậy, các DNNN cần phải có
những biện pháp hữu hiệu để có thể làm sao huy động đủ vốn cho doanh nghiệp
mình hoạt động một cách hiệu quả nhất.
II, Thực trạng tạo vốn và sử dụng vốn trong các DNNN ở Việt
Nam hiện nay
1, Đánh giá chung
1.1, Thời kỳ trớc đổi mới kinh tế
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, DNNN tồn tại dới hình thức
các xí nghiệp thuộc sở hữu nhà nớc. Các DNNN trong nền kinh tế chỉ huy
không có quyền tự quyết mà phải sản xuất, kinh doanh theo các chỉ tiêu, định
mức mà nhà nớc đa xuống. Thích ứng với cơ chế này, vốn của các xí nghiệp đều
do ngân sách nhà nớc cấp. Thực hiện nguyên tắc cấp phát, giao nộp ngân sách,
các xí nghiệp không tự khai thác và huy động vốn để đảm bảo vốn kinh doanh,
dẫn đến tình trạng các xí nghiệp không quan tâm đến việc bảo toàn và phát triển
vốn. Vốn của xí nghiệp thất thoát nghiêm trọng, nhiều xí nghiệp lãi giả, lỗ thật
và báo cáo sai lệch trong hạch toán kinh doanh.
1.2 Thời kỳ đổi mới kinh tế từ 1986 đến nay
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế nớc ta hoạt động hết sức trì
trệ, kém hiệu quả. Chính vì lý do đó, Đại hội Đảng lần thứ VI đã quyết định
chuyển nền kinh tế nớc ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trờng
có sự điều tiết của nhà nớc. Dới cơ chế kinh tế mới, các DNNN đợc tự chủ hơn
nhỏ bé và dàn trải. Năm 1994 vốn bình quân cho một doanh nghiệp chỉ đạt
khoảng 3.3 tỷ đồng, năm 1996 tăng lên khoảng 11 tỷ đồng, năm 1998 tăng lên
khoảng 18 tỷ đồng và hiện nay là khoảng 22 tỷ đồng. Nh vậy, tốc độ tăng bình
quân hàng năm từ năm 1996 đến nay là khoảng 19%, giảm mạnh so với tốc độ
tăng bình quân là 52,8% của giai đoạn 1994-1998. Có thể nói tổng vốn trong
các DNNN hiện nay còn quá nhỏ bé không tơng xứng với tầm vóc của nó.
Quy mô vốn của các DNNN nhỏ bé là vậy nhng số vốn lại không tập trung
mà dàn trải, manh mún. Lợng vốn phân bổ trong từng doanh nghiệp rất nhỏ bé
và không đều, có nhiều doanh nghiệp vốn cha đến 1 tỷ đồng. Phần lớn các
4
Tiểu luận tài chính Nguyễn Thị Lan Anh - Lớp 730
DNNN có vốn từ 3-10 tỷ đồng, chỉ có một số doanh nghiệp có vốn tơng đối khá
nh Tổng công ty xăng dầu Việt Nam, Tổng công ty Bu chính Viễn thông...
Quy mô vốn đã nhỏ bé dàn trải, cơ cấu vốn kinh doanh lại có nhiều bất cập.
Các DNNN phải đối mặt với việc thiếu VLĐ. Đáng buồn hơn là gần một nửa
VLĐ là vật t ứ đọng, kém phẩm chất, công nợ khó đòi... VCĐ lại chiếm tỷ lệ
quá lớn trong tổng số vốn làm cho đồng vốn bị ứ đọng và quay vòng chậm.
Thêm vào đó VCĐ của các DNNN phần lớn là tài sản cố định cũ kỹ, lạc hậu,
năng suất thấp... Hiện nay vốn thực tế hoạt động của khu vực DNNN chỉ đạt
khoảng 80%, riêng VLĐ chỉ có 50% đợc huy động vào kinh doanh.
Thực tế hiện nay vốn ngân sách và vốn tự có của DNNN cha đợc một nửa
mức VLĐ cần thiết. Để duy trì sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải huy
động vốn từ bên ngoài. Tuy nhiên, việc thực hiện huy động vốn từ bên ngoài ở
các DNNN cha đợc hiệu quả, một số doanh nghiệp vẫn trông chờ ỷ lại vào vốn
ngân sách nhà nớc.
Tình hình huy động vốn của các DNNN là một thực tế đáng buồn. Vậy còn
việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp này ra sao? Có thể nói thực trạng về
hiệu quả sử dụng vốn của các DNNN cũng không sáng sủa hơn.
Nhìn chung từ sau khi đổi mới nền kinh tế đến nay, hiệu quả sản xuất kinh
doanh nói chung, hiệu quả sử dụng vốn nói riêng của các DNNN đã tăng lên.