Cải tiến hoạt động Phân tích công việc tại Công ty Cơ khí – Điện – Điện tử tàu thủy - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
Trang
Đàm Thị Phượng Lớp: QTNL 48
i
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHXH
BHYT
CB CNV
CCTC
CV
DNNN
ĐG THCV
GTVT
HĐQT
LĐ – TBXH
NNL
PTCV
QTNL
TC – HC
THCV
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Cán bô công nhân viên
Cơ cấu tổ chức
Công việc
Doanh nghiệp nhà nước
Đánh giá thực hiện công việc
Giao thông vận tải
Hội đồng quản trị

nghiệp, bởi PTCV tác động và có ảnh hưởng sâu sắc đến các vấn đề khác của hoạt
động QTNL; hay nói cách khác nó chính là cơ sở cho mọi vấn đề của QTNL. Một
doanh nghiệp có một chương trình PTCV tốt nghĩa là đã nắm trong tay chìa khóa
thành công của doanh nghiệp.
Trong thời gian thực tập tại Công ty Cơ khí – Điện – Điện tử tàu thủy
(Vinamrel) tôi nhận thấy công tác QTNL chưa thực sự được phát huy hết vai trò của
mình do hoạt động PTCV chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức, cho nên nó đã bộ
lộ những tồn tại và hạn chế làm ảnh hưởng đến các hoạt động khác của QTNL cũng
như đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Được sự giúp đỡ của công ty và
giảng viên hướng dẫn cùng với sự hiểu biết của mình về PTCV em đã lựa chọn đề tài
“Cải tiến hoạt động Phân tích công việc tại Công ty Cơ khí – Điện – Điện tử tàu
thủy” làm chuyên đề tốt nghiệp nhằm luận giải vai trò, sự cần thiết của PTCV trong
doanh nghiệp.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Đề tài nghiên cứu về Phân tích công việc tại Công ty Cơ khí –
Điện – Điện tử tàu thủy trong giai đoạn 2007 – 2009.
Phạm vi: Do thời gian và năng lực có hạn nên chuyên đề chỉ nghiên cứu tình
hình PTCV của cán bộ quản lý làm việc tại văn phòng Công ty và xây dựng thí điểm
hai chức danh công việc trong phòng Tổ chức – Hành chính.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài xác định lý luận phân tích công việc để làm cơ sở nghiên cứu, từ đó
phân tích thực trạng PTCV tại Vinamrel rút ra được ưu điểm, những hạn chế và
Đàm Thị Phượng Lớp: QTNL 48
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nguyên nhân của những hạn chế đó của hoạt động PTCV tại công ty từ đó đưa ra
những giải pháp nhằm cải tiến hoạt động PTCV tại vinamrel.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp tra
cứu tài liệu, quan sát, thống kê số liệu từ công ty, điều tra bằng bảng hỏi và phỏng

Mục đích chủ yếu của PTCV là cung cấp thông tin về yêu cầu, đặc điểm công
việc cho các hoạt động quản lý khác. Một người quản lý hiểu được những yêu cầu
này là người có khả năng tốt nhất trong việc lựa chọn đúng người vào đúng vị trí làm
việc của công ty vào thời điểm hiện tại và trong tương lai dài hạn.
Mục đích của PTCV là để trả lời các câu hỏi sau đây:
 Nhân viên thực hiện những nhiệm vụ, công việc và trách nhiệm gì?
 Khi nào công việc được hoàn tất?
 Công việc được thực hiện ở đâu?
 Nhân viên làm công việc đó như thế nào?
 Tại sao phải thực hiện công việc đó?
 Để thực hiện công việc đó cần có những tiêu chuẩn trình độ nào cho nhân
viên?
 Những máy móc, thiết bị,công cụ nào được sử dụng?
 Những mối quan hệ nào được thực hiện?
Như vậy PTCV có ý nghĩa quan trọng, nó cung cấp cho nhà quản trị một bản
tóm tắt các nhiệm vụ và trách nhiệm của một công việc nào đó, mối tương quan của
công việc đó với các công việc khác cũng như các kỹ năng cần thiết và điều kiện làm
việc. Các yếu tố liên quan đến công việc đều được thu thập, phân tích và ghi chép lại
như nó đang hiện hữu trong thực tế, chứ không phải mơ hồ là công việc đó như thế
nào.
Ta thấy rằng PTCV mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích nhưng cũng tiêu
tốn của doanhnghiệp những khoản chi phí nhất định (gồm những chi phí về tài chính,
1
Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân .(2005). Giáo trình quản trị nhân lực. Hà Nội. NXB Lao động- xã hội, tr.46
2
Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân .(2005). Giáo trình quản trị nhân lực. Hà Nội. NXB Lao động- xã hội, tr.46
3
Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân .(2005). Giáo trình quản trị nhân lực. Hà Nội. NXB Lao động- xã hội, tr.46
4
Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân .(2005). Giáo trình quản trị nhân lực. Hà Nội. NXB Lao động- xã hội, tr.50

việc mới phát sinh. Nguồn lực sẽ được thu hút từ đâu? Khả năng đào tạo và phát triển
người lao động hiện có trong tổ chức để hoàn thành công việc như thế nào? Nhân lực
tuyển mới ra sao? …khi đó tiến hành PTCV sẽ là có sở để xác định ra các yếu tố trên.
 Đối với hoạt động tuyển dụng
Có thể nói PTCV chính là hoạt động tiên quyết góp phần vào thành công của
tuyển dụng. Việc có tuyển dụng đúng người phù hợp với công việc là mục đích cao
nhất của công tác tuyển mộ, tuyển chọn. Để đạt được mục đích đó thì các thông tin về
công việc được đăng tuyển mộ phải đầy đủ, cụ thể, rõ ràng; các yêu cầu với người
thực hiện công việc phải sát với thực tế phù hợp với tính chất công việc. Muốn như
Đàm Thị Phượng Lớp: QTNL 48
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vậy thì hoạt động PTCV của doanh nghiệp cần đượcquan tâm sâu sắc và tiến hành
một cách tốt nhất.
Bản mô tả công việc sẽ đưa các thông tin đầu vào cho cán bộ tuyển dụng đăng
quảng cáo về các vị trí mà doanh nghiệp đang cần tuyển nhân viên; bản yêu cầu với
người thực hiện công việc là căn cứ để chọn ra ứng viên, và cũng là căn cứ để ứng
viên quyết định xem có nên gửi hồ sơ sự tuyển cho nhà tuyển dụng hay không. Bản
tiêu chuẩn thực hiện công việc giúp ứng viên định hình kết quả mà nhà tuyển dụng
mong đợi ở họ, đây cũng là cơ sở để đánh giá nhân viên mới trong thời gian thử việc.
 Đối với hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhằm mục đích sử dụng tối đa nguồn lực
hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động
hiểu rõ hơn về công việc, nâng cao khả năng đáp ứng những công việc phức tạp hơn,
đáp ứng những nhu cầu thăng tiến của nhân viên… Do đó khi xây dựng và tiến hành
chương trình đào tạo và phát triển cần phải xác định rõ rằng sau khi kết thúc chường
trình người lao động có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm… ghi trong
bản mô tả công việc. Nội dung của chương trình đào tạo và phát triển phải là những
kĩ năng, kiến thức ghi trong bản yêu cầu của công việc với người thực hiện. Kết quả
của chương trình đào tạo và phát triển cũng phải đảm bảo là người lao động đạt được

nâng cao sự hài lòng của người lao động khi thực hiện công việc. Để đạt được mục
tiêu trên, hệ thống thù lao phải xây dựng dựa trên kết quả đánh giá công việc và kết
quả đánh giá THCV. Ta thấy rằng PTCV là một trong những cơ sở quan trọng để xây
dựng hệ thống đánh giá THCV cũng như kết quả đánh giá THCV. Các nhiệm vụ,
trách nhiệm có trong bản mô tả công việc là căn cứ để đánh giá giá trị công việc, xây
dựng mức lương, hay bản tiêu chuẩn THCV là căn cứ để đánh giá THCV. Tóm lại, cả
hai cơ sở quan trọng của hệ thống thù lao (đánh giá giá trị công việc và đánh giá
THCV) đều chịu sự tác động của PTCV, điều đó chứng minh rằng cơ sở sâu xa nhất
để xây dựng một hệ thống thù lao hiệu quả là PTCV.
 Đối với hoạt động thiết kế lại công việc
Mục tiêu của thiết kế lại công việc chính là đổi mới nội dung công việc cho
phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp cũng như của thị trường. Do đó,
PTCV đóng vai trò chính trong các chương trình thiết kế lại công việc đối với những
công việc cần phải thay đổi. Gần như là ta tiến hành phân tích lại công việc đó trên cơ
sở lần phân tích trước đó sao cho phù hợp.
 Đối với quan hệ lao động và an toàn lao động
Quan hệ lao động là toàn bộ những quan hệ có liên quan đến quyền, nghĩa vụ,
quyền lợi giữa các bên tham gia quá trình lao động. Bản tiêu chuẩn THCV là cơ sở
quan trọng để xác định người lao động có hoàn thành đúng công việc theo những quy
trình công nghệ… hay nói cách khác là có hoàn thành trách nhiệm của mình không
từ đó quyết định khen thưởng hay kỷ luật.
An toàn lao động: mục tiêu của an toàn lao động là cung cấp môi trường làm
việc an toàn và sức khỏe cho người lao động; tiếp cận từng bước để ngăn ngừa tai
nạn lao động, các yếu tố độc hại và bệnh nghề nghiệp; tiến hành đào tạo cho người
Đàm Thị Phượng Lớp: QTNL 48
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lao động về an toàn sức khỏe, trang bị những phương tiện kỹ thuật đảm bảo an toàn
và sức khỏe. Để đạt được mục tiêu trên thì ngay từ đầu, trong bản mô tả công việc
cần ghi rõ về điều kiện làm việc. Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm cung

dung của văn bản kết quả PTCV, đưa các văn bản này vào sử dụng và theo dõi kiểm
tra nó.
Đàm Thị Phượng Lớp: QTNL 48
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
 Người thực hiện công việc: Là người trực tiếp cung cấp thông tin về công việc
của họ đang làm để xây dựng các văn bản của PTCV. Trên thực tế, có nhiều người e
ngại rằng PTCV có thể nhằm mục đích là đánh giá xem người lao động có thể thực
hiện được công việc đó hay không? Người lao động đã sử dụng hết thời gian lao
động chưa? Thái độ làm việc của họ?... từ đó có thể ảnh hưởng đến đánh giá thực
hiện công việc và vấn đề lương thưởng của họ. Vì vậy trong một số trường hợp họ có
thái độ bất hợp pháp với cán bộ phân tích, thái độ bất hợp pháp này thể hiện ở việc
cung cấp sai thông tin về công việc (họ thường có tâm lý thổi phồng cho rằng công
việc của mình có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp). Vì vậy, để giảm tránh được
sự ảnh hưởng của các yếu tố này thì trước khi tiến hành phân tích cán bộ phân tích
cần giải thích rõ mục đích, ý nghĩa của chương trình PTCV với toàn bộ người lao
động trong doanh nghiệp mình.
1.3.2 Các phương pháp thu thập thông tin Phân tích công việc
Có nhiều phương pháp thu thập thông tin PTCV như quan sát, nhật ký công
việc, ghi chép các sự kiện quan trọng, phỏng vấn, bảng hỏi hay hội thảo chuyên gia,
một số doanh nghiệp sử dụng phương pháp hoặc dữ kiện mà Bộ Lao Động quy định
… Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc vào bản chất công việc, từng
loại thông tin thu thập, và tùy theo từng doanh nghiệp. Sau đây, tác giả xin trình bày
cụ thể ba phương pháp ba phương pháp đã sử dụng nghiên cứu tại cơ sở thực tập.
1.3.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát là phương pháp trong đó người cán bộ chuyên môn quan sát ngày
(ca) làm việc của một người hay một nhóm người và ghi lại đầy đủ các hoạt động mà
người lao động đã thực hiện,các nhiệm vụ, trách nhiệm được thực hiện.
Phương pháp này rất hiệu quả với công việc hữu hình có thể quan sát được các
thao tác làm việc như các công việc thuộc bộ phận sản xuất… nó giúp người nghiên

đúng câu hỏi cần thiết.
 Chọn người thực hiện công việc giỏi nhất và chọn người có khả năng mô tả
quyền hạn, trách nhiệm, cách thức thực hiện công việc tốt nhất.
 Nhanh chóng thiết lập mối quan hệ tốt với người được phỏng vấn và giải thích
cho họ rõ ràng về mục đích của phỏng vấn
 Đặt ra những câu hỏi rõ ràng và gợi ý sao cho người được phỏng vấn dễ trả
lời.
 Kiểm tra lại tính chính xác của các thông tin với người được phỏng vấn.
1.3.2.3 Phương pháp bản câu hỏi
Bản câu hỏi được đánh giá là phương pháp hữu hiệu nhất để thu thập thông tin
PTCV. Bản câu hỏi liệt kê những câu hỏi đã chuẩn bị tưc trước và phân phát cho nhân
viên điền các câu trả lời. Tổng kết các câu trả lời của nhân viên, cán bộ phân tích sẽ
có được những thông tin cơ bản, đặc trưng về các công việc thực hiện trong doanh
nghiệp. Khi cảm thấy thông tin thu thập qua bản câu hỏi không được đầy đủ, cán bộ
phân tích nên thảo luận lại với các nhân viên thực hiện công việc.
Bản câu hỏi là phương pháp PTCV được sử dụng rộng rãi ngày nay. Ưu điểm
của phương pháp này là các thông tin thu thập được về bản chất đã được lượng hóa
và có thể dễ dàng cập nhật khi các công việc thay đổi, do đó thích hợp với việc xử lý
thông tin trên máy tính và phân tích một khối lượng lớn các thông tin. Việc thu thập
Đàm Thị Phượng Lớp: QTNL 48
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thông tin có thể dễ dàng hơn các phương pháp khác và tốn ít thời gian. Tuy nhiên việc
thiết kế các bản câu hỏi thì tốn nhiều thời gian. Người nghiên cứu không tiếp xúc trực
tiếp với đối tượng nghiên cứu nên dễ gây ra tình trạng hiểu lầm các câu hỏi.
Để nâng cao chất lượng thu thập thông tin qua bản câu hỏi cần lưu ý các vấn
đề cơ bản sau:
 Cấu trúc của các câu hỏi: Ngoài các câu hỏi về chức năng, nhiệm vụ chính,
trong bản cần có những câu hỏi về các nhiệm vụ phụ nhân viên phải thực hiện thêm
tại nơi làm việc. Tuy nhiên các câu hỏi cần xoay quanh trọng tâm các vấn đề phải

loại, quy trình kỹ thuật và tín năng tác dụng của các trang bị kỹ thuật, cách sử dụng,
bảo quản tại nơi làm việc.
Thông tin về các tiêu chuẩn mẫu trong thực hiện công việc đối với nhân viên,
bao gồm cả các quy định về tiêu chuẩn hành vi và tiêu chuẩn kết quả thực hiện công
việc.
Các thông tin trên cần đảm bảo độ chính xác và trung thực cao, vì đây là
nguồn thông tin đầu vào quan trọng nhất quyết định đến kết quả của chương trình
PTCV. Một vấn đề đặt ra là ai là người cung cấp các thông tin trên? Đó là những
người đảm nhận công việc đang được phân tích, bởi trong thực tế không ai hiểu rõ về
công việc hơn bản thân những người đang thực hiện công việc đó. Khi lựa chọn
người THCV ta nên lựa chọn những người thực hiện công việc ở mức trung bình tiên
tiến, không nên lựa chọn người ở mức quá thấp hoặc quá cao bởi mục đích của PTCV
là làm rõ bản chất công việc cũng như xác định các yêu cầu tối thiểu về kiến thức và
kỹ năng để thực hiện công việc. Nguồn thứ hai cung cấp thông tin cho PTCV đó là
cán bộ quản lý trực tiếp. Trong thực tế cán bộ quản lý trực tiếp không thể hiểu rõ từng
chi tiết của công việc nhưng họ sẽ co ta biết những thông tin như công việc đang thực
hiện phù hợp thế nào với mục tiêu của doanh nghiệp, với chức năng, với nhiệm vụ
của phòng/ban chuyên môn đang làm. Đồng thời đây cũng là nguồn thẩm định lại độ
tin cậy của thông tin thu thập được từ người thực hiện công việc.
Đối với những công việc mới có thể thu thập thông tin qua cán bộ quản lý trực
tiếp các công việc tương tự, cán bộ quản lý những công việc mới hoặc tham khảo ý
kiến chuyên gia để đảm bảo những thông tin thu thập được vừa đầy đủ vừa chính xác
và trung thực.
1.4.2 Tiến trình thực hiện phân tích công việc
Thành phần tham gia vào PTCV tối thiểu phải có cán bộ phân tích, người thực
hiện công việc cần phân tích, quản lý trực tiếp hay trưởng phòng. Trong các tổ chức
lớn, thường có một hay nhiều nhà phân tích, nhưng đối với cơ quan nhỏ thì cấp quản
đốc thường đảm nhiệm việc phân tích này. Các công ty thiếu chuyên viên có thể nhờ
các chuyên viên tư vấn ở bên ngoài.
Trước khi thực hiện PTCV, nhà phân tích phải nghiên cứu kỹ sơ đồ cơ cấu tổ

Kiểm tra lại thông tin
với các thành viên
Xử lý thông tin và viết các bản
kết quả của PTCV
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dụng một phương pháp hoặc kết hợp các phương pháp khác nhau đã trình bày ở mục
1.3.2
Bước 3: Tiến hành thu thập thông tin
Ở bước này nhà phân tích cần xem xét lại các thông tin như sơ đồ tổ chức, các
văn bản về chức năng của các phòng ban, các văn bản PTCV cũ nếu có. Sơ đồ tổ
chức sẽ cho ta biết công việc này có liên hệ với công việc khác như thế nào, chức vụ
và quyền hạn. Các văn bản PTCV hiện thời sẽ cho ta thông tin về công việc đó từ đó
xây dựng được các văn bản PTCV hoàn chỉnh hơn.
Bước 4: Kiểm tra lại thông tin với các thành viên
Kiểm tra lại tính chính xác của thông tin đã thu thập được với người thực hiện
công việc đó và với quản lý trực tiếp đương sự. Đây là việc quan trọng quyết định
đến hiệu quả của toàn bộ chương trình PTCV. Đồng thời điều này giúp đạt được sự
đồng tình của cả hai bên về bản PTCV bởi họ có cơ hội xét duyệt lại chính công việc
mà họ thực hiện.
Bước 5: Xử lý thông tin và viết các bản kết quả của phân tích công việc
Sau khi đã kiểm tra độ chính xác của thông tin ta tiến hành tập hợp lại các
thông tin theo logic để dễ dàng xử lý và tiến hành viết các văn bản kết quả của PTCV
bao gồm ba bản : bản mô tả công việc, bản yêu cầu của công việc với người thực hiện
và bản tiêu chuẩn THCV.
Bước 6: Chuẩn hóa các kết quả của PTCV , đưa vào sử dụng và kiểm tra xem
xét định kỳ
Trên cơ sở bản thảo đã viết ở trên, đưa lại cho người lao động thực hiện công
việc đã phân tích đó và người quản lý trực tiếp để thảo luận đi đến thống nhất. Sau
khi đã được các bên xem xét và thống nhất ta tiến hành viết bản chính trình ban giám

thuộc về công việc. Yêu cầu mô tả một cách ngắn gọn và phân biệt được công việc
này với công việc khác
Phần thứ ba (chức năng, trách nhiệm trong công việc): nên liệt kê từng chức
năng nhiệm vụ chính, sau đó nên giải thích các công việc cụ thể cần thực hiện trong
nhiệm vụ, trách nhiệm chính đó.
Phần thứ tư (các mối quan hệ trong thực hiện công việc): ghi rõ các mối quan
hệ của người THCV với những người khác ở trong và ngoài doanh nghiệp.
Phần thứ sáu (quyền hạn của ngời THCV): nên xác định rõ giới hạn hay phạm
vi quyền hạn trong các quyết định về mặt tài chính và nhân sự và quyền được ra
quyết định liên quan tới sự THCV của mình.
Phần thứ bẩy ( Điều kiện làm việc): bao gồm các điều kiện về máy móc, công
cụ, trang bị cần phải sử dụng, thời gian làm việc ( làm ca, thêm giờ, hay làm giờ hành
chính); các điều kiện về vệ sinh, an toàn lao động, mức độ ô nhiễm, các phương tiện
đi lại để phục vụ cho công việc và các điều kiện khác liên quan …
Bên cạnh đáp ứng yêu cầu về mặt nội dung, bản mô tả công việc còn phải đáp
ứng về mặt hình thức như: ngôn ngữ trong bản mô tả công việc phải ngắn gọn, dễ
5
Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân .(2005). Giáo trình quản trị nhân lực. Hà Nội. NXB Lao động- xã hội, tr.51
Đàm Thị Phượng Lớp: QTNL 48
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hiểu, không nên mô tả chung chung nên sử dụng các động từ hành động có tính quan
sát để mô tả từng hoạt động cụ thể của từng nhiệm vụ chính.
1.5.2 Bản yêu cầu của công việc với người thực hiện
Khái niệm: “Bản yêu cầu của công việc với người thực hiện là bản liệt kê các
đòi hỏi của công việc đối với người thực hiện về các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm
cần phải có; trình độ giáo dục và đào tạo cần thiết; các đặc trưng về tinh thần và thể
lực; và các yêu cầu cụ thể khác”.
6
Một số yêu cầu thường được viết trong bản yêu cầu của công việc với người

7
Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân .(2005). Giáo trình quản trị nhân lực. Hà Nội. NXB Lao động- xã hội, tr.53
Đàm Thị Phượng Lớp: QTNL 48
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có nơi lại chỉ giao hẹn bằng miệng hoặc các điều khoản nhất thời giữa người lãnh đạo
và cấp dưới.
Để có được các tiêu chuẩn THCV hợp lý thì bản tiêu chuẩn THCV nên được
xây dựng theo trình tự sau:
Trước tiên ta xác định những nhiệm vụ chính của công việc có thể đo lường
được, không nhất thiết phải xây dựng tiêu chuẩn cho tất cả các nhiệm vụ một công
việc, bởi trên thực tế một nhiệm vụ có thể đáp ứng được một nhiệm nhóm các tiêu
chuẩn và cũng có thể một nhóm nhiệm vụ chỉ đáp ứng một tiêu chuẩn.
Sau khi đã xác định được các nhiệm vụ chính có thể đo lường được hoặc các
nhiệm vụ có thể lượng hóa được ta tiến hành xây dựng các tiêu chuẩn cho các nhiệm
vụ đó ( tiêu chuẩn về chất lượng, số lượng, thời gian, năng suất…)
Những tiêu chuẩn không thể đo lượng hay lượng hóa bằng thước đo cụ thể ta
có thể để ở dạng định tính nhưng gắn chúng với mục tiêu của doanh nghiệp hay quy
trình công nghệ phải thực hiện.
Cuối cùng, ta tiến hành thẩm định lại với các bên liên quan: những người
THCV và những người quản lý trực tiếp để xem xét các tiêu chuẩn này có thực hiện
được không? Kết quả quan trọng nhất cần đạt được là gì? Có yếu tố nào tác động đến
việc hoàn thành công việc của họ?
1.6 Sự cần thiết phải cải tiến hoạt động phân tích công việc trong doanh nghiệp
Trong bất kỳ một tổ chức nào, người lãnh đạo cũng đều cần nhận thức được
vai trò của phân tích công việc. Mục tiêu của doanh nghiệp là nhằm sử dụng tối đa
NNL để hạn chế những lãng phí, nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong khi đó,
PTCV giúp cho doanh nghiệp tránh được sự chồng chéo trong công việc, tiết kiệm
được các lãng phí không cần thiết đảm bảo sự vận hành liên hoàn của các hoạt động
quản lý khác, vì thế nó là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự vận hành hiệu quả của tổ

Tóm lại, PTCV là một hoạt động cần thiết cho tất cả các doanh nghiệp không
kể quy mô. Vì những lợi ích thiết thực mà PTCV mang lại nên công tác này cần được
quan tâm nhiều hơn và lấy nó làm trọng tâm là cơ sở để nâng cao hoạt động QTNL
cũng như các hoạt động quản lý khác để giúp cho doanh nghiệp có thể cạnh tranh và
đứng vững được trên thị trường
Trong thời gian thực tập tại Vinamrel, tôi nhận thấy hoạt động PTCV chưa
được quan tâm đúng mức và vẫn còn một số thiếu sót trong chương trình PTCV. Vì
thế đối với Vinamrel hoạt động PTCV càng cần thiết phải cải tiến để hoàn thiện hơn,
phù hợp hơn với thực tế công việc để có thể đi đến mục tiêu cao nhất của doanh
nghiệp mình.
CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH CÔNG VIỆC TẠI CÔNG TY CƠ
KHÍ – ĐIỆN – ĐIỆN TỬ TÀU THỦY
2.1 Tổng quan về công ty
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
2.1.1.1 Lịch sử hình thành
Công ty cơ khí điện-điện tử tàu thủy là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc bộ
giao thông vận tải. Là thành viên của VINASHIN-tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt
Nam. Với hơn 15 năm xây dựng và phát triển công ty đã tham gia vào nhiều dự án,
công trình về cơ khí, điện và điện tử đáp ứng các yêu cầu cho sự phát triển của ngành
Đàm Thị Phượng Lớp: QTNL 48
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công nghiệp đóng tàu và nhiều ngành khác. Dưới đây là một số thông tin chính của
Công ty:
Tên giao dịch tiếng việt: Công ty Cơ khí – Điện – Điện tử tàu thủy
Tên giao dịch tiếng anh: Marine machinery, electric & electronic company
Tên viết tắt: Vinamarel
Địa chỉ: Tổ 6 Phường Láng Thượng – Quận Đống Đa – Hà Nội, Việt Nam.
Điện thoại: +84-4-7754507

• Lắp ráp, sửa chữa, phục hồi lắp đặt thiết bị thông tin, nghi khí hàng hải;
• Kinh doanh và lắp đặt các thiết bị: phòng chống cháy nổ, an toàn, cơ điện
công trình, các thiết bị công nghệ khác trên phương tiện giao thông vận tải và các
công trình xây dựng;
• Kinh doanh và lắp đặt hệ thống thông tin, điện, điện tử trong các công trình
xây dựng;
• Khảo sát thiết kế, lắp đặt các hệ thống tự động phòng chống cháy nổ, thông tin
viễn thông và cơ điện lạnh;
• Xây dựng công trình công nghiệp và dân dụng;
• Tư vấn, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, sửa chữa, hoán cải các hệ thống, máy móc,
thiết bị cơ khí, thủy lực, điện, điều khiển và tự động hóa, thông tin đo lường, an toàn,
điện lạnh, vô tuyến điện, nghi khí hàng hải cho tàu thủy và các phương tiện nổi;
• Cung cấp các thiết bị điện cao và hạ thế;
• Xây lắp các đường dây và trạm hệ thống điện lực đến 110KV;
• Tư vấn kỹ thuật, chế tạo cung cấp các loại tời, vận thăng, thang máy....
SẢN PHẨM
Thiết bị điện cho tàu thủy
• Bảng điện chính
• Bảng điện sự cố
• Bảng điện động lực
• Bảng điện chiếu sáng AC/DC
• Bảng điện buồng lái AC/DC
• Bảng điện sinh hoạt
• Bảng điện nhà bếp
• Hộp điện bờ
• Hộp khởi động
• Panel nút ấn khởi động/dừng động cơ
• Tủ chỉnh lưu - nạp ắc quy
• Hộp đựng ắc quy
• Bàn điều khiển buồng máy

• Máy lái tàu tự động - Autopilot
• Hệ thống định dạng tự động -AIS
• Máy thu ghi dữ liệu hành trình -VDR
• Hệ thống thông tin và hiển thị hải đồ điện tử - ECDIS
• Đồng hồ hàng hải - Marine clock
Thiết bị thông tin
• Hệ thống thông tin nội bộ
• Hệ thống truyền thanh công cộng và chỉ huy
DỊCH VỤ
Dịch vụ hỗ trợ khách hàng:
• Hướng dẫn thủ tục cấp phép tần số vô tuyến điện.
• Tài liệu hướng dẫn sử dụng.
Là Nhà cung cấp dịch vụ “Bảo Dưỡng Bờ thiết bị GMDSS” cho tàu đã được cơ
quan Đăng Kiểm Việt Nam (VR) chứng nhận.
Một số thành tích đã đạt được:
Được cấp chứng chỉ ISO 9001: 2000
03 huy chương vàng của Vietship - Triển lãm quốc tế Công nghiệp đóng tàu -
Hàng hải và vận tải Việt Nam năm 2004, 2006 và 2008
Đàm Thị Phượng Lớp: QTNL 48
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
02 cúp vàng Techmart Việt Nam của Bộ Khoa học công nghệ năm 2005 và
2007. Và nhiều thành tích khác.
2.1.1.2 Quá trình phát triển của công ty
Ngày: 15/12/1993: Thành lập Công ty
Tiền thân của doanh nghiệp là Xí nghiệp Nghiên cứu kỹ thuật thông tin GTVT
- vốn là DNNN được thành lập theo Quyết định số 1948/QĐ-TCCB ngày 02/12/1992
của Bộ trưởng Bộ GTVT.
Năm 1994: Đổi tên Công ty
Ngày 25/12/1994, Xí nghiệp Nghiên cứu kỹ thuật thông tin GTVT được sắp

CN6, Khu Công Nghiệp tàu thủy Lai Vu, Hải Dương.
Năm 2007: Là thành viên của Tổng Công ty VINASHIN Bạch Đằng
Ngày 20/7/2007, Công ty Cơ khí - Điện - Điện tử tàu thủy là thành viên Tổng
công ty Công nghiệp tàu thủy Bạch Đằng theo Quyết định số 2236/QĐ-CNT-TCCB-
LĐ của Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam
2.1.2 Đánh giá kết quả hoạt động của công ty
2.1.2.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty từ năm 2006 – 2009
Trong các năm gần đây, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty có nhiều
biến động lúc tăng lúc giảm. Năm 2006 doanh nghiệp làm ăn có lãi. Đến 2007 hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty tiếp tục tăng về sản lượng, doanh thu và lợi
nhuận; so với năm 2006 giá trị tổng sản lượng và doanh thu cũng như lợi nhuận đều
tăng ( giá trị sản lượng tăng 38.83%, doanh thu tăng 19.94%, lợi nhuận sau thuế tăng
1,37%). Tuy nhiên, đến năm 2008 thì tình hình kinh doanh của công ty giảm trầm
trọng. Không những giảm so với 2007, mà doanh nghiệp còn bị lỗ, lợi nhuận sau thuế
bị âm tới 5 845 000 000 VNĐ; và đến năm 2009 tuy tình hình có khởi sắc hơn một
chút nhưng doanh nghiệp vẫn chưa bù lỗ được của năm 2008, lợi nhuận sau thuế vẫn
bị âm 2000 000 000 VNĐ. Có thể lý giải rằng do tình hình khủng hoảng kinh tế thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã kéo dài từ cuối năm 2008 đến 2009 và đến
khoảng cuối 2009 mới dần ổn định đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến công ty. Trước
tác động của tình hình trên, cùng với đó là thị trường tiêu thụ của công ty đang gặp
khó khăn đồng thời có nhiều công tác về quản lý đang còn gặp nhiều vấn đề, bộ máy
quản lý còn cồng kềnh và còn tình trạng lãng phí về nhân công cũng như các hoạt
động của QTNL chưa thực sự đạt hiệu quả nên đã dẫn tới tình trạng trên.
Đàm Thị Phượng Lớp: QTNL 48
22

Trích đoạn Thông tin chung về công việc CÔNG TY CƠ KHÍ ĐIỆN ĐIỆN TỬ TÀU THỦY Bản tiêu chuẩn thực hiện công việc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status