BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
PHẠM HẢI YẾN
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH
NGỘ ĐỘC THUỐC PHẢI NHẬP VIỆN
TẠI TRUNG TÂM CHỐNG ĐỘC,
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI – 2014
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
PHẠM HẢI YẾN
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH
NGỘ ĐỘC THUỐC PHẢI NHẬP VIỆN
TẠI TRUNG TÂM CHỐNG ĐỘC,
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
dạy dỗ, dìu dắt tôi suốt 5 năm học tại trường.
Cảm ơn bạn bè tôi, những người luôn luôn ủng hộ và sẵn sàng giúp đỡ tôi
bất cứ việc gì, bất cứ khi nào.
Cuối cùng, tôi muốn dành lời cảm ơn cho gia đình mình, họ luôn là điểm tựa
và là động lực cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận.
Hà Nội, ngày 11/05/2014
Sinh viên Phạm Hải Yến
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Danh mục bảng
Danh mục hình
Danh mục chữ viết tắt
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN 3
1.1. Tổng quan về ngộ độc 3
1.1.1. Định nghĩa và các nguyên nhân gây ngộ độc 3
1.1.2. Chẩn đoán ngộ độc 3
1.1.3. Hậu quả của ngộ độc 6
1.1.4. Điều trị ngộ độc 6
1.2. Tổng quan về ngộ độc thuốc 10
1.2.1. Vị trí của ngộ độc thuốc trong ngộ độc. 10
1.2.2. Các nguyên nhân ngộ độc thuốc 10
4.1. Đặc điểm chung về ngộ độc thuốc 40
4.1.1. Đặc điểm dịch tễ 40
4.1.2. Nguyên nhân ngộ độc thuốc 41
4.1.3. Tác nhân gây ngộ độc 42
4.1.4. Mức độ nặng của các ca ngộ độc thuốc 44 4.1.5. Xử trí ngộ độc thuốc 44
4.1.6. Kết quả điều trị 45
4.2. Các thuốc gây ngộ độc nhiều nhất và các đặc điểm liên quan 45
4.2.1. Rotundin 45
4.2.2. Paracetamol 47
4.2.3. Phenobarbital 49
CHƢƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 51
5.1. Kết luận 51
5.1.1. Đặc điểm chung về ngộ độc thuốc 51
5.1.2. Các thuốc gây ngộ độc nhiều nhất và các đặc điểm liên quan 51
5.2. Đề xuất 52
Tài liệu tham khảo
Phụ lục DANH MỤC BẢNG
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1.Đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân ngộ độc thuốc 18
Bảng 3.2. Các nguyên nhân ngộ độc thuốc 20
Bảng 3.3. Số thuốc đã uống trong các ca ngộ độc thuốc 22
Bảng 3.4. Các thuốc và nhóm thuốc liên quan đến các ca ngộ độc 22
phenobarbital 39
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Tên đầy đủ
ATC
:
Mã phân loại thuốc theo giải phẫu-điều trị-hóa học
(The anatomical therapeutic chemical code)
BHYT
:
Bảo hiểm y tế
CAVHD
:
Lọc máu liên tục động-tĩnh mạch
(Continuous arterio-venous haemodialysis)
CVVHD
:
Lọc máu liên tục tĩnh mạch-tĩnh mạch
(Continuous veno-venous haemodialysis)
FDA
:
Cục quản lý thực phẩm và dƣợc phẩm Mỹ
(Food and Drug Administration)
NPDS
:
Hiện nay, một số vấn đề liên quan đến thuốc đã đƣợc giám sát bởi hệ thống
quản lý và theo dõi phản ứng có hại của thuốc (ở Việt Nam là Trung tâm quốc gia
về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc). Nhƣng ngoài ra, số liệu
từ các Trung tâm Chống độc (TTCĐ) cũng là nguồn thông tin rất giá trị để phát hiện
biến cố khi dùng thuốc, các đối tƣợng có nguy cơ cao, các nguyên nhân thƣờng gặp,
từ đó, giúp các nhà quản lý, bác sĩ, dƣợc sĩ, nhân viên y tế và nhân dân có những
biện pháp phù hợp để ngăn ngừa rủi ro liên quan đến thuốc.
Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về ngộ độc [38, 39], nhƣng chƣa có
nhiều nghiên cứu tập trung vào ngộ độc thuốc; các nghiên cứu về ngộ độc thuốc lại
thiếu thông tin cập nhật đến thời điểm hiện tại [5, 7]. Bởi vậy, đối với ngành y tế
nói riêng và cả cộng đồng nói chung, vẫn còn thiếu những thông tin cần thiết để
giám sát và giảm thiểu nguy cơ ngộ độc thuốc.
2
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
“Khảo sát tình hình ngộ độc thuốc phải nhập viện tại Trung tâmChống độc,
Bệnh viện Bạch Mai” với hai mục tiêu:
1. Khảo sát đặc điểm chung về ngộ độc thuốc tại Trung tâm Chống độc năm 2013.
2. Xác định các thuốc gây ngộ độc nhiều nhất và khảo sát các đặc điểm liên quan.
3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về ngộ độc
1.1.1. Định nghĩa và các nguyên nhân gây ngộ độc
Hiện nay có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về ngộ độc.
Theo Từ điển y học Dorland: Ngộ độc là những ảnh hƣởng có hại về mặt
sinh lý do phơi nhiễm với chất độc. Chất độc là những chất mà khi một tỉ lệ tƣơng
đối nhỏ đƣợc nuốt, hít, hấp thu, đƣợc tiêm vào, hoặc đƣợc đƣa vào trong cơ thể, thì
mắc phải. Các thông số quan trọng bao gồm: huyết áp, mạch, thân nhiệt, kích thƣớc
đồng tử, mồ hôi, nhu động ruột [26, 49, 50].
Một số hội chứng ngộ độc cụ thể:
Hội chứng kích thích giao cảm:
Mạch nhanh, huyết áp tăng, có thể gặp nhịp tim chậm. Thân nhiệt thỉnh
thoảng tăng, đồng tử giãn, da đổ mồ hôi nhƣng niêm mạc lại khô. Bệnh nhân
thƣờng kích động, lo âu, tâm thần rối loạn [36, 49].
Hội chứng ức chế giao cảm:
Mạch chậm, huyết áp hạ, thân nhiệt giảm. Đồng tử co nhỏ, có khi thành 1
điểm. Nhu động ruột giảm. Bệnh nhân thƣờng mất cảm giác hoặc hôn mê [49].
Hội chứng cholinergic:
Sự kích thích receptor muscarinic khiến nhịp tim chậm, co đồng tử, toát mồ
hôi, tăng nhu động ruột, đa tiết phế quản, thở khò khè, tăng tiết nƣớc bọt, tiểu tiện
không tự chủ. Sự kích thích receptor nicotinic gây tăng huyết áp ban đầu, nhịp tim
nhanh, rung cơ cục bộ, yếu cơ. Bệnh nhân thƣờng kích động, lo âu [36, 49].
Hội chứng kháng cholinergic (kháng muscarinic):
Thông thƣờng nhịp tim nhanh đi kèm tăng huyết áp nhẹ, thân nhiệt thỉnh
thoảng tăng. Đồng tử giãn rộng. Da đỏ ửng lên, nóng và khô. Thƣờng gặp bí tiểu và
nhu động ruột giảm. Bệnh nhân có thể có cử động múa giật. Thƣờng gặp trạng thái
mê sảng, kích động, và có thể tăng thân nhiệt nghiêm trọng [36, 49, 50].
5
c. Xét nghiệm cận lâm sàng
Cùng với khám lâm sàng, việc tiến hành các xét nghiệm cận lâm sàng đơn
giản, sẵn có giúp đƣa ra chẩn đoán một cách chính xác nhất, hoặc giúp định hƣớng
tiến hành tiếp xét nghiệm độc chất.
Một số xét nghiệm thƣờng gặp [26, 49, 50]:
Ngộ độc gây ra hậu quả khá nặng nề với sức khỏe, tính mạng bệnh nhân, thể
hiện qua tình trạng nhập viện, mắc bệnh và tử vong do ngộ độc trên khắp thế giới.
Ở châu Âu: tại Đông Âu, tỉ lệ mắc bệnh do ngộ độc cấp hàng năm biến thiên
trong khoảng 150-255 ngƣời/ 100000 cƣ dân. Tỉ lệ tử vong do ngộ độc cấp ở Phần
Lan là 16,6 ngƣời/ 100000 cƣ dân và ở các nƣớc Đông Âu khác là 8,3-11,1 ngƣời/
100000 cƣ dân [13]. Ở Anh và xứ Gan (Wales), trong năm 2007, số bệnh nhân nam
và nữ tử vong riêng do ngộ độc thuốc lần lƣợt là 1914 và 726 ngƣời [34].
Ở châu Mỹ: tại Mỹ, tỉ lệ tử vong do ngộ độc thuốc năm 2006 là 15,6 ngƣời/
100000 cƣ dân, con số này đã tăng 74,1% trong giai đoạn 1999-2006 [15].
Ở châu Á: tỉ lệ tử vong chiếm 3,0% tổng số bệnh nhân ngộ độc tại Hồng
Kông giai đoạn 2000-2008, và chiếm tới 5,5% tổng số bệnh nhân ngộ độc tại Thái
Lan giai đoạn 2001-2004; cũng tại Hồng Kông giai đoạn 2000-2008, số ngày nằm
viện của bệnh nhân ngộ độc có thể lên tới 3 ngày [45, 68]. Tại Malaysia, giai đoạn
2000-2002, tỉ lệ nhập viện vì ngộ độc là 26,2 ngƣời/ 100000 cƣ dân [29]. Còn tại
Ấn Độ, giai đoạn 1997-2001, ngộ độc cấp là nguyên nhân hàng đầu của tình trạng
tử vong bất thƣờng và là nguyên nhân đứng hàng thứ 3 dẫn đến tình trạng phải nhập
viện cấp cứu ở các khu vực nông thôn [14].
1.1.4. Điều trị ngộ độc
Việc điều trị cho bệnh nhân ngộ độc gồm 4 yếu tố: hỗ trợ chức năng sống,
hạn chế hấp thu chất độc, tăng thải trừ chất độc và thuốc giải độc đặc hiệu [46].
a. Hỗ trợ chức năng sống
Đây là bƣớc cấp cứu cần đƣợc thực hiện trong những trƣờng hợp bệnh nhân
đang ở tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.
Hỗ trợ chức năng sống đƣợc gọi tắt là ABC, gồm có:
+ A (airway): khai thông đƣờng thở.
7
+ B (breathing): hỗ trợ hô hấp.
+ C (circulation): đảm bảo tuần hoàn [43, 46, 50].
b. Hạn chế hấp thu chất độc
trong nhiều trƣờng hợp, quá trình hạn chế hấp thu này có vai trò bảo vệ tính mạng
bệnh nhân, ngay cả khi đƣợc tiến hành sau 1-2 giờ kể từ khi nhiễm độc [50].
Một số biện pháp hạn chế hấp thu chất độc đƣờng tiêu hóa:
Gây nôn
Gây nôn đƣợc tiến hành bằng cách sử dụng si rô Ipecac. Tuy nhiên, hiện nay
phƣơng pháp này chỉ đƣợc áp dụng trong rất ít trƣờng hợp, nếu nhƣ các biện pháp
điều trị khác chỉ có thể đƣợc tiến hành sau 60 phút, mà việc gây nôn lại có thể làm
ngay vài phút sau khi nhiễm độc [50].
Rửa dạ dày
Rửa dạ dày đƣợc áp dụng phổ biến hơn gây nôn, tuy nhiên vẫn chỉ đƣợc tiến
hành ở bệnh viện. Biện pháp này đƣợc cho là hiệu quả hơn gây nôn, nhất là đối với
chất độc dạng lỏng; tuy nhiên lại không có tác dụng đối với các thuốc không tan,
đặc biệt là các chế phẩm giải phóng kéo dài hoặc bao tan trong ruột. Biện pháp này
sẽ đạt hiệu quả cao nhất nếu đƣợc tiến hành trong vòng 1 giờ kể từ khi nhiễm độc.
Việc rửa dạ dày đƣợc tiến hành với nƣớc ấm hoặc nƣớc muối, với tổng thể
tích khoảng 2L, hoặc cho tới khi nƣớc rửa không còn chứa thuốc nữa [23, 44, 50].
Than hoạt
Than hoạt là một loại bột hấp phụ đƣợc chƣng cất từ bột gỗ. Do có diện tích
bề mặt lớn, than hoạt có khả năng hấp phụ hầu hết chất độc. Rất nhiều nghiên cứu
chỉ ra rằng việc dùng than hoạt đơn độc (không kèm với hạn chế hấp thu đƣờng tiêu
hóa) đem lại hiệu quả tƣơng tự, thậm chí cao hơn so với gây nôn và rửa dạ dày.
Liều than hoạt thƣờng dùng là 60-100g (1g/kg), uống hoặc dùng qua ống
xông dạ dày. Nếu biết rõ liều chất độc đã uống thì dùng lƣợng than hoạt gấp 10 lần
để tránh việc giải hấp phụ ở đoạn dƣới ống tiêu hóa. Có thể nhắc lại 1-2 liều than
hoạt với khoảng cách 1-2 giờ để đảm bảo thải độc hoàn toàn. Trong một số ít trƣờng
9
hợp, có thể dùng nhắc lại 8-10 liều than hoạt trong vòng vài giờ để đạt đƣợc tỉ lệ
10:1 so với chất độc [26, 50].
c. Tăng thải trừ chất độc
d. Thuốc giải độc đặc hiệu
Một số chất độc có thuốc giải độc đặc hiệu và chỉ đƣợc dùng sau khi đã chẩn
đoán xác định chất độc. Thuốc giải độc đặc hiệu có khả năng bảo vệ tính mạng bệnh
nhân, nhƣng tác dụng không mong muốn lại khá nghiêm trọng nếu sử dụng không
đúng [26, 49].
Một số thuốc giải độc đặc hiệu [21, 26]:
Chất độc
Thuốc giải độc đặc hiệu
Acetaminophen (Paracetamol)
N-acetylcystein
Benzodiazepin
Flumazenil
Cyanid
Natri nitrit
Isoniazid
Pyridoxin
Methanol hoặc Ethylen glycol
Fomepizol
Opioid
Naloxon
Sulfonylure
Octreotid
1.2. Tổng quan về ngộ độc thuốc
1.2.1. Vị trí của ngộ độc thuốc trong ngộ độc.
Hiện nay, thuốc là một trong những tác nhân hàng đầu gây ngộ độc.
Tại Thụy Điển, năm 2011, thuốc xếp thứ nhất trong số các tác nhân gây ngộ
độc ở trẻ vị thành niên và ngƣời lớn, xếp thứ 2 ở trẻ em [61]. Theo 1 nghiên cứu ở
Malaysia trong giai đoạn 2000-2002, thuốc cũng là tác nhân gây ngộ độc phổ biến
nhất [29]. Còn ở Việt Nam, số liệu năm 2003 cho thấy thuốc xếp thứ 2 trong số các
không phải do tự tử ở những bệnh nhân đã từng nhập viện vì ngộ độc thuốc [46].
1.3. Tình hình ngộ độc thuốc trên thế giới và tại Việt Nam
1.3.1. Tình hình ngộ độc thuốc trên thế giới
Ngộ độc cấp đang là vấn đề về sức khỏe đáng lƣu ý trên toàn cầu, trong đó
thuốc là tác nhân gây ngộ độc nổi trội [29, 68].
Số lƣợng bệnh nhân tử vong vì ngộ độc thuốc ở các quốc gia nhìn chung khá
cao. Số lƣợng này ở Mỹ năm 2008 là 36500 ngƣời. Ở Thái Lan từ 2001-2004 có
820 ngƣời tử vong do ngộ độc thuốc [17, 34, 66, 70].
12
Về phân bố tình hình ngộ độc theo giới tính, tỉ lệ ngộ độc nói chung ở phụ nữ
thƣờng cao hơn ở nam [17, 19, 32].
Nguyên nhân phổ biến nhất của ngộ độc thuốc là do tự tử [37, 56, 62].
Về các tác nhân gây ngộ độc thuốc, các nhóm thuốc thƣờng gây ngộ độc
gồm có: giảm đau, an thần, chống trầm cảm, thuốc tim mạch, kháng histamin.
Trong đó thuốc nổi bật nhất là paracetamol [17, 20, 32, 52, 62, 68].
1.3.2. Tình hình ngộ độc thuốc tại Việt Nam
Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về tình hình ngộ độc. Trong số các tác
nhân gây ngộ độc thì thuốc luôn là một trong những tác nhân hàng đầu. Cụ thể, theo
nghiên cứu của Đặng Thị Xuân và Nguyễn Thị Dụ, trong giai đoạn 2001-2003, các
thuốc an thần, gây ngủ là tác nhân ngộ độc đứng hàng thứ 2 (13,9%), chỉ sau ngộ
độc thực phẩm [11]. Theo nghiên cứu của Hà Trần Hƣng, trong giai đoạn 1999-
2003, thuốc chuyển từ tác nhân đứng đầu sang đứng hàng thứ 2 trong số tất cả các
tác nhân gây ngộ độc [38].
Tuy nhiên, chƣa có nhiều nghiên cứu đƣợc công bố về tình hình ngộ độc
thuốc. Gần đây nhất có nghiên cứu của Ngô Hữu Hà, khảo sát tình hình ngộ độc cấp
các thuốc thƣờng gặp trong 2 năm 2002 và 2003. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra số
bệnh nhân ngộ độc thuốc trong 2 năm này lần lƣợt là 680 và 390 ngƣời. Dạng thuốc
chủ yếu gây ngộ độc là dạng viên. Nghiên cứu này cũng đƣa ra nhóm thuốc gây ngộ
Bƣớc 2: Thu thập dữ liệu vào phiếu thu thập thông tin bệnh án.
2.2.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu
Dữ liệu đƣợc quản lý và xử lý bằng phần mềm thống kê STATA 11.
Bƣớc 1: Nhập dữ liệu vào phần mềm STATA. Các biến không thu thập đƣợc
thông tin sẽ đƣợc gán giá trị missing.
Bƣớc 2: Làm sạch số liệu, nếu có bất thƣờng thì đối chiếu với phiếu thu thập
thông tin bệnh án và rà soát lại bệnh án gốc để chỉnh sửa lại.
Bƣớc 3: Xử lý số liệu theo các mục tiêu và chỉ tiêu nghiên cứu.
14
2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1. Đặc điểm chung về ngộ độc thuốc
a. Đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân ngộ độc thuốc
Tổng số bệnh nhân nhập viện vì ngộ độc thuốc trong năm 2013.
Tỉ lệ bệnh nhân ngộ độc thuốc theo lứa tuổi.
Nhóm tuổi của bệnh nhân đƣợc phân loại dựa theo Tổ chức y tế thế giới
(WHO) [75] và Ủy ban tiêu chuẩn hóa quốc tế (International Committee on
Hamonization) [40] (Phụ lục 2).
Tỉ lệ bệnh nhân ngộ độc thuốc theo giới tính.
Tỉ lệ bệnh nhân ngộ độc thuốc theo các vùng cƣ trú.
Phân loại vùng cƣ trú:
+ Thành phố: các thành phố trực thuộc trung ƣơng, các thành phố, thị
xã trực thuộc tỉnh.
+ Nông thôn: các vùng còn lại.
Tỉ lệ bệnh nhân ngộ độc thuốc theo nghề nghiệp.
Phân loại nghề nghiệp:
+ Học sinh – sinh viên
+ Nghề tự do
+ Kinh doanh
lý do.
Khác: các nguyên nhân khác dẫn đến ngộ độc thuốc.
Tỉ lệ các nguyên nhân ngộ độc thuốc phân bố theo giới tính và lứa tuổi.
c. Tác nhân gây ngộ độc thuốc
Tỉ lệ các đƣờng dùng thuốc khác nhau trong các ca ngộ độc.
Phân loại các đƣờng dùng thuốc:
+ Uống
+ Tiêm
+ Bôi da
+ Khác
Số lƣợng thuốc bệnh nhân đã dùng trong các ca ngộ độc.
Xác định các nhóm thuốc và các thuốc gây ngộ độc nhiều nhất, tỉ lệ của các
nhóm thuốc và các thuốc.
Phân loại nhóm thuốc dựa vào nhóm tác dụng dƣợc lý theo Dƣợc thƣ quốc
gia Việt Nam và mã ATC theo phân loại của WHO [2, 83].
d. Mức độ nặng của các ca ngộ độc thuốc
Tỉ lệ các mức độ nặng trên tổng số bệnh nhân ngộ độc thuốc.
Mức độ nặng đƣợc đánh giá theo thang PSS [76] (Phụ lục 3).
e. Xử trí ngộ độc thuốc
Tỉ lệ bệnh nhân không đƣợc xử trí ban đầu và đƣợc xử trí ban đầu tại các địa
điểm khác nhau.
Phân loại các địa điểm xử trí ban đầu:
+ Nơi ngộ độc
+ Bệnh viện tuyến trƣớc
16
+ Tại nhà
+ Y tế địa phƣơng
+ 115
+ Khác
+ Ngƣời nhà
+ Khác
Tỉ lệ bệnh nhân ngộ độc theo các mức liều (nếu biết liều đã dùng).