1 MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa (CNH – HĐH) là một trong những mục tiêu
hàng đầu của nƣớc ta trong xu thế hội nhập toàn cầu. Phát triển công nghiệp sẽ đem
lại sự tăng trƣởng cho nền kinh tế quốc gia, trong đó khu kinh tế đặc biệt, khu chế
xuất (KCX), khu công nghiệp (KCN) giữ vai trò vô cùng quan trọng.
Khu công nghiệp góp phần giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, tạo thuận
lợi trong thu hút đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, tiếp nhận công nghệ tiên tiến, thúc đẩy
tăng trƣởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp, đồng
thời sẽ là cầu nối hội nhập nền kinh tế trong nƣớc với các nền kinh tế quốc tế. Ngày
24 tháng 04 năm 1997, Chính Phủ ban hành Nghị định số 36/CP về Quy chế khu
chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, tạo ra cơ sở pháp lý cho việc xây
dựng và vận hành khu công nghiệp tập trung trên phạm vi cả nƣớc. Sau một thời
gian áp dụng và hoàn thiện, ngày 14 tháng 3 năm 2008 Chính Phủ ban hành Nghị
định số 29/CP của Thủ Tƣớng Chính phủ Qui định về khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu kinh tế thay thế cho nghị định 36/CP, đây là bƣớc tiến trong công tác quản
lý nhà nƣớc đối với các KCN trên cả nƣớc.
Hòa cùng sự phát triển các khu công nghiệp trên khắp cả nƣớc, các khu công
nghiệp tại tỉnh Bình Dƣơng ra đời đã trở thành địa điểm hấp dẫn thu hút đầu tƣ
trong và ngoài nƣớc cùng với các khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai và Thành Phố
Hồ Chí Minh. Bình Dƣơng, Đồng Nai và Thành Phố Hồ Chí Minh tạo thành tam
giác kinh tế trọng điểm phía nam, mang lại gia tăng cho GDP quốc gia, góp phần
thực hiện mục tiêu đƣa nƣớc ta từ một nƣớc có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến
lên một nƣớc công nghiệp hiện đại, tiên tiến.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Bình Dƣơng là một trong những tỉnh đứng đầu nƣớc ta về phát triển
công nghiệp cùng với Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, với tổng cộng 28 khu
2
3 3. Mục tiêu của đề tài
Đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện môi trƣờng hoạt động của các doanh
nghiệp đầu tƣ tại KCN Mỹ Phƣớc tỉnh Bình Dƣơng đến năm 2020.
4. Nội dung nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu cần giải quyết các vấn đề sau:
- Thứ nhất, hệ thống hóa các cơ sở lý luận về KCN, hoạt động của doanh
nghiệp đầu tƣ trong KCN và các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động của doanh nghiệp
đầu tƣ trong KCN.
- Thứ hai, tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng tình hình
hoạt động của các doanh nghiệp, các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động của các doanh
nghiệp đầu tƣ tại KCN Mỹ Phƣớc, tỉnh Bình Dƣơng trong thời gian qua.
- Thứ ba, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện môi trƣờng hoạt động các doanh
nghiệp tại KCN Mỹ Phƣớc, tỉnh Bình Dƣơng đến năm 2020. Đồng thời đƣa ra các
kiến nghị đối với Nhà Nƣớc và tỉnh Bình Dƣơng.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Các doanh nghiệp hoạt động tại KCN Mỹ Phƣớc
tỉnh Bình Dƣơng.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt không gian: đƣợc giới hạn trong KCN Mỹ Phƣớc tỉnh Bình Dƣơng.
+ Về mặt thời gian: nghiên cứu môi trƣờng hoạt động của các doanh nghiệp
tại KCN Mỹ Phƣớc tỉnh Bình Dƣơng từ năm 2009 đến năm 2012, các giải pháp đề
xuất đƣợc áp dụng từ nay đến năm 2020.
6. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
Phƣơng pháp luận:
4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƢỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP ĐẦU TƢ TRONG KCN
1.1. Doanh nghiệp trong khu công nghiệp
1.1.1. Khái niệm khu công nghiệp
1.1.1.1. Khu công nghiệp
Khái niệm về khu công nghiệp trên thế giới:
Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về khu công nghiệp,
khu chế xuất (đƣợc gọi chung là khu công nghiệp), trong đó có thể nêu ra một số
định nghĩa cơ bản sau:
Định nghĩa KCN của Hội nghị địa lý Thế Giới lần thứ 19 tại Thụy Điển, năm
2000:
“Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng, có nền tảng là sản xuất công
nghiệp đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ; kể cả các hoạt động sản xuất công
nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thƣơng mại, văn phòng, nhà ở”.
Định nghĩa khu chế xuất của Ngân hàng Thế giới (World Bank):
“Khu chế xuất là khu có hàng rào trong khu công nghiệp, chuyên sản xuất
hàng xuất khẩu trong đó các doanh nghiệp đƣợc tạo điều kiện thƣơng mại và hoạt
động trong môi trƣờng thông thoáng”.
Định nghĩa khu chế xuất của Cơ quan nghiên cứu phát triển Công nghiệp Liên
Hiệp Quốc (UNIDO):
“Khu chế xuất là khu vực tƣơng đối nhỏ phân cách về mặt địa lý trong một
quốc gia, nhằm mục tiêu thu hút đầu tƣ vào các ngành công nghiệp xuất khẩu bằng
6 cách cung cấp cho những ngành này những điều kiện về đầu tƣ và mậu dịch thuận
lợi”.
Tóm lại, trên Thế giới hiện nay tồn tại song song 07 loại hình khu công
nghiệp nhƣ sau:
sách xuất khẩu của đặc khu. Mỗi đặc khu có một quy định khách nhau, tùy theo
trình độ phát triển kinh tế của đặc khu mình, nhƣng nói chung là chế độ ƣu đãi cao
về thuế và các chính sách phi thuế. Bởi vậy nhà đầu tƣ nƣớc ngoài rất nhiệt tình đầu
tƣ và sản xuất tại Khu bảo thuế. Chế độ ƣu đãi ngày một giảm dần theo trình độ
phát triển của đặc khu.
Có thể nói Khu bảo thuế là hình thức mở rộng phạm vi của kho ngoại quan
(Bonded Ware House). Với kho ngoại quan, hàng hóa nƣớc ngoài đƣợc đƣa vào lƣu
kho, không chịu thuế nhƣng chịu sự kiểm soát của hải quan, khi nào đƣa hàng hóa
đó vào nội địa thì mới phải làm thủ tục hải quan, nộp thuế theo luật định.
- Loại hình 6: Khu công nghệ cao (Science and Industrial Development
Zone)
Điểm khác biệt ở loại hình này là ngƣời ta huy động vào khu này các trƣờng
Đại học công nghiệp, các trung tâm nghiên cứu để thực hiện việc nghiên cứu ứng
dụng các sản phẩm mới. Các đề tài nghiên cứu đƣợc ứng dụng ngay vào cuộc sống
bởi các nhà máy xí nghiệp của họ đặt ngay trong khu vực này.
Ƣu thế của Khu Khoa học – Công nghệ này là kỹ thuật cao, độc đáo, sản
phẩm có giá trị gia tăng cao, có thị trƣờng xuất khẩu rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế
giới.
- Loại hình 7: Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area)
Khu mậu dịch tự do là khu vực mà ở đó các hoạt động thƣơng mại đƣợc tự
do với 3 nội dung cơ bản:
- Thuế quan xuất nhập khẩu đƣợc bãi bỏ;
8 - Các biện pháp phi thuế đƣợc bãi bỏ;
- Các hoạt động thƣơng mại đƣợc đối xử bình đẳng.
Khái niệm về khu công nghiệp ở Việt Nam:
- Ngày 24 tháng 04 năm 1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 36/CP về
Quy chế khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trong đó có nêu:
nhƣ sau:
- Là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp, chuyên sản xuất
hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp;
- Có ranh giới địa lý xác định;
- Do Chính Phủ hoặc Thủ Tƣớng chính phủ quyết định thành lập;
- Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất.
1.1.1.2. Vai trò của KCN
Trong công cuộc Công nghiệp hóa - hiện đại hóa, KCN giữ vị trí vô cùng
quan trọng trong việc phát triển kinh tế của từng địa phƣơng, vùng miền và cho
từng Quốc gia, cụ thể KCN có 6 vai trò chính sau đây:
● Thứ nhất, Phát triển công nghiệp, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế
Khu công nghiệp đƣợc coi là nơi thực hiện chính sách kinh tế mới tốt nhất,
đặc biệt là các chính sách kinh tế đối ngoại, và là đầu tàu trong sự phát triển nền
kinh tế quốc dân.
Khu công nghiệp là trọng điểm kinh tế của địa phƣơng, đóng góp nguốn thu
lớn cho ngân sách, mở mang các ngành nghề mới, tạo việc làm cho ngƣời lao động,
thu hút nguồn lao động sẵn có ở địa phƣơng. Việc xây dựng các khu công nghiệp có
thể làm thay đổi cả diện mạo một vùng kinh tế, tạo điều kiện cho dân cƣ đƣợc tiếp
cận với một nền công nghiệp hiện đại, làm thay đổi tập quán sinh hoạt địa phƣơng.
10 Các khu công nghiệp đƣợc xây dựng sẽ hình thành nên các khu dân cƣ, khu đô thị
mới, kéo theo những dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng.
Phát triển khu công nghiệp sẽ là đầu tàu tăng trƣởng, thúc đẩy các ngành
nghề khác phát triển. Đồng thời, với sự hiện diện của các khu công nghiệp với nhiều
ƣu đãi buộc các doanh nghiệp phân bố rải rác trên địa bàn sẽ phải tính toán đến hiệu
quả kinh tế mà chuyển vào các khu công nghiệp. Việc quy tụ các doanh nghiệp vào
các khu công nghiệp sẽ hạn chế sự lãng phí quỹ đất, giúp cho địa phƣơng có thể tập
trung nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng trong các khu công nghiệp, thu hút vốn
rút ngắn dần khoảng cách về khoa học công nghệ với các nƣớc khác. Việc tiếp nhận
khoa học công nghệ đã tạo ƣu thế nổi trội của các khu công nghiệp mà các khu vực
kinh tế khác ít hoặc không có cơ hội. Điểm khác biệt chủ yếu của khu công nghiệp
với vùng ngoài khu công nghiệp là khu công nghiệp có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đƣợc
xây dựng và yêu cầu các doanh nghiệp khu công nghiệp trong sản xuất phải bảo vệ
môi trƣờng đảm bảo phát triển bền vững.
Phát triển các Khu công nghiệp tập trung là phƣơng thức tốt nhằm tập trung
nguồn lực vào một “Vùng lãnh thổ” tạo ra cơ hội giúp cho các doanh nghiệp giảm
thiểu các chi phí sản xuất, kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa
và dịch vụ trên thị trƣờng.
● Thứ tư, Tạo việc làm và thu nhập cho ngƣời lao động
Tình trạng khan hiếm nguồn lao động và giá nhân công cao ở các nƣớc tƣ
bản phát triển đã đặt các nƣớc này trƣớc sự lựa chọn giải pháp đầu tƣ vào khu công
nghiệp của các nƣớc đang phát triển nhằm sử dụng lao động dƣ thừa và giá nhân
công rẻ ở các quốc gia này.
Mở mang khu công nghiệp để tạo nhiều hơn chỗ làm việc là một trong những
mục tiêu quan trọng của các nƣớc đang phát triển. Thực tiễn cho thấy, khu công
nghiệp là nơi thực hiện chiến lƣợc toàn dụng lao động trong các quốc gia, đặc biệt
là các quốc gia đang phát triển.
12 Các khu công nghiệp vừa là nơi du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và học
tập kinh nghiệm quản lý vừa là môi trƣờng đào tạo huấn luyện ra những ngƣời quản
lý có trình độ cao, có bản lĩnh, kinh nghiệm và những công nhân có tay nghề cao, có
ý thức, tác phong công nghiệp do đƣợc tiếp cận với những dây chuyền công nghệ
tiên tiến với kỹ thuật cao, buộc các nhà quản lý và ngƣời lao động phải tự rèn luyện
và không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn.
● Thứ năm, Tăng cƣờng thu hút đầu tƣ, phát triển ngành nghề và vùng lãnh
thổ
Thông qua việc thành lập khu công nghiệp, nƣớc chủ nhà muốn đẩy mạnh
hoạt động ngoại thƣơng. Với những ƣu đãi vƣợt trội, cơ chế quản lý thông thoán, vị
trí xây dựng thuận lợi cho vận chuyển, lƣu thông hàng hóa, sẽ giảm chi phí sản
xuất, tạo điều kiện cho việc sản xuất và xuất khẩu hàng hóa.
Đánh giá vai trò của khu công nghiệp, Thủ tƣớng Phan Văn Khải đã nói:
“Phát triển Khu công nghiệp là một giải pháp quan trọng nhằm tạo thuận lợi cho
đầu tư kinh doanh, tiết kiệm nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng, góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh quốc phòng”. [13].
1.1.2. Doanh nghiệp trong KCN
- Theo Luật doanh nghiệp sửa đổi bổ sung năm 2009, định nghĩa:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, đƣợc thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt đông kinh doanh [11].
- Theo Điều 2, Luật doanh nghiệp tƣ nhân, định nghĩa:
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh thành lập nhằm mục đích thực hiện
một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất để tiêu thụ
sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trƣờng, với mục tiêu cuối cùng là sinh lợi.
- Theo Nghị định số 36/CP về Quy chế khu chế xuất, khu công nghiệp, khu
công nghệ cao:
14 "Doanh nghiệp KCN" là doanh nghiệp đƣợc thành lập và hoạt động trong
KCN, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.
"Doanh nghiệp chế xuất" là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu,
thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu
đƣợc thành lập và hoạt động theo Quy chế này [4].
Có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp có
đặt trƣng riêng có khả năng đem lại cho chủ sở hữu những lợi thế và những hạn chế
khác nhau. Theo Luật doanh nghiệp năm 2009, có 3 loại hình doanh nghiệp hoạt
Đối với các nhà đầu tƣ trong nƣớc khi đầu tƣ vào KCN phải có quyết định
thành lập doanh nghiệp theo quy định hiện hành đối với mỗi loại hình doanh
nghiệp.
Thời hạn hoạt động của doanh nghiệp KCN không quá 50 năm và không
vƣợt quá thời hạn hoạt động của Công ty phát triển hạ tầng KCN, đƣợc tính từ ngày
doanh nghiệp đƣợc cấp có thẩm quyền ra quyết định chấp thuận đầu tƣ hoặc cấp
giấy phép đầu tƣ vào KCN. Trƣờng hợp đặc biệt thời hạn hoạt động của doanh
nghiệp KCN có thể vƣợt quá thời hạn hoạt động của Công ty phát triển hạ tầng
KCN, nhƣng phải đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ chấp thuận trên cơ sở đề nghị của Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan ra quyết định chấp thuận đầu tƣ hoặc cấp giấy
phép đầu tƣ.
● Quyền hạn của doanh nghiệp trong KCN:
+ Thuê lại đất trong KCN theo quy định hiện hành đối với mỗi loại hình
doanh nghiệp để xây dựng nhà xƣởng và các công trình kiến trúc phục vụ sản xuất -
kinh doanh. Thời hạn thuê đất trong KCN phù hợp với thời hạn hoạt động của các
doanh nghiệp KCN ghi trong quyết định chấp thuận đầu tƣ hoặc giấy phép đầu tƣ.
+ Sử dụng có trả tiền các công trình kết cấu hạ tầng, các tiện nghi tiện ích
công cộng, các dịch vụ trong KCN.
16 + Tổ chức sản xuất kinh doanh, thực hiện các dịch vụ phù hợp với quyết định
chấp thuận đầu tƣ hoặc giấy phép đầu tƣ, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hợp
đồng, điều lệ doanh nghiệp.
+ Xuất nhập khẩu trực tiếp theo quy định của pháp luật.
+ Thuê các tiện ích công cộng, các phƣơng tiện sản xuất kinh doanh và dịch
vụ ngoài KCN.
+ Trong thời hạn đƣợc phép sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp KCN có
quyền chuyển nhƣợng phần vốn của mình theo đúng quy định của pháp luật hiện
hành. Việc chuyển nhƣợng vốn chỉ có hiệu lực sau khi đƣợc cơ quan ra quyết định
toàn bộ công nghiệp nói chung.
Tại Việt Nam, quá trình phát triển công nghiệp đã hình thành các chuyên
ngành sau:
- Ngành chế biến nông – lâm - thủy sản và đồ uống;
- Ngành chế biến gỗ;
- Ngành hóa chất - phân bón;
- Ngành dệt may;
- Ngành da giày;
- Ngành chế tạo các thiết bị thông tin liên lạc;
- Ngành cơ khí chế tạo;
- Ngành ô tô và xe máy;
- Ngành đóng tàu;
- Ngành hóa dầu…
18 Sự phát triển cơ cấu chuyên ngành trong công nghiệp thể hiện trình độ phát
triển cao, thấp của nền công nghiệp quốc gia. Những ngành thuộc lĩnh vực kỹ thuật
cao nhƣ: cơ khí chế tạo, ô tô và xe máy, đóng tàu, hóa dầu… sẽ đem lại lợi thế cạnh
tranh nhất định trên thị trƣờng và gia tăng lợi nhuận. Ngƣợc lại những ngành nghề
thủ công, tỉ lệ chất xám ít nhƣ: chế biến thủy sản, chế biến gỗ, dệt may, da giày…
mặt dù dùng nhiều nhân lực nhƣng đem lại lợi nhuận thấp. Vì vậy, việc chọn lựa
ngành nghề cần đầu tƣ vào KCN vừa phù hợp với điều kiện địa phƣơng vừa đảm
bảo yếu tố công nghệ, vừa đem lại lợi nhuận cao là hƣớng đi bền vững và phát triển
cho từng KCN.
1.2.2. Sản phẩm - Thị trƣờng
Cơ cấu sản phẩm công nghiệp là tổng thể các sản phẩm vật chất kỹ thuật, các
loại hình hoạt động phục vụ sản xuất công nghiệp. Cơ cấu sản phẩm công nghiệp
bao gồm:
- Sản phẩm tƣ liệu công nghiệp;
Thị trƣờng đƣợc chia thành 3 loại: thị trƣờng hàng hóa – dịch vụ, thị trƣờng
lao động, thị trƣờng tiền tệ [2].
1.2.3. Công nghệ sản xuất
Công nghệ đƣợc hiểu là các phƣơng pháp, phƣơng tiện và bí quyết công
nghệ, nhằm làm ra một sản phẩm công nghiệp nhất định. Theo tổ chức phát triển
công nghiệp của liên hợp quốc UNIDO (United nations industry development
organization), công nghiệp có 4 thành phần cơ bản:
- Thành phần 1: Trang thiết bị, bao gồm thiết bị máy móc, khí cụ, nhà xƣởng.
- Thành phần 2: Kỹ năng và tay nghề, liên quan tới kinh nghiệm nghề nghiệp
của từng ngƣời hoặc từng nhóm ngƣời.
- Thành phần 3: Thông tin liên quan tới các bí quyết, các quy trình, các
phƣơng pháp, các dữ liệu, các bản thiết kế…
20 - Thành phần 4: Tổ chức thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp, điều phối, quản
lý thị trƣờng…
Bốn thành phần trên của công nghệ liên quan mật thiết với nhau, tạo ra sức
mạnh tổng hợp của công nghệ trong pháp triển công nghiệp. Trong bối cảnh phát
triển, đổi mới công nghệ nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
hiện đại, một sản phẩm có thể đƣợc chế tạo ra bởi phƣơng pháp công nghệ khác
nhau với hiệu quả khác nhau.
Theo khuyến cáo của Liên Hợp Quốc, các nƣớc đang phát triển nên lựa chọn
“công nghệ thích hợp”. Công nghệ thích hợp đƣợc hiểu không phải công nghệ đắt
tiền nhất, nhƣng phải là công nghệ tiên tiến, cho khả năng sản phẩm có khả năng
cạnh tranh trên thị trƣờng dự tính. Công nghệ thích hợp đƣợc du nhập bằng hoạt
động “chuyển giao công nghệ”. Công nghệ chuyển giao vào Việt Nam theo quy
định của Nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngày 02/02/2005 của Chính phủ phải là:
- Công nghệ tạo ra sản phẩm mới và cần thiết tại Việt Nam hoặc để sản xuất
hàng xuất khẩu;
+ Đầu tƣ gián tiếp: là hình thức đầu tƣ thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu,
trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tƣ chứng khoán và thông qua các định
chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tƣ không trực tiếp tham gia quản lý hoạt
động đầu tƣ.
Vốn đầu tƣ là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động
đầu tƣ theo hình thức đầu tƣ trực tiếp hoặc đầu tƣ gián tiếp [14].
Vốn đầu tƣ đƣợc phân thành các loại cơ bản sau:
- Phân loại theo hình thái và nguồn đầu tƣ, gồm có 2 loại: vốn hữu hình và
vốn vô hình.
- Phân loại theo thời gian sử dụng, vốn đƣợc chia thành 3 loại: vốn ngắn
hạn, vốn trung hạn và vốn dài hạn.
22 - Phân loại theo quan hệ quản lý của chủ đầu tƣ, gồm có 2 loại: vốn đầu tƣ
trực tiếp và vốn đầu tƣ gián tiếp.
Đối với doanh nghiệp, vốn là yếu tố vô cùng quan trọng để hoạt động và phát
triển, nhƣ: thuê đất, xây dựng nhà xƣởng; mua sắm trang thiết bị, máy móc phục vụ
sản xuất, mua nguyên vật liệu đầu vào Ngoài ra vốn đầu tƣ còn dùng để đổi mới
và phát triển công nghệ, mở rộng qui mô để phát triển sản xuất.
Nguồn vốn đầu tƣ nói lên qui mô của doanh nghiệp, thông thƣờng một doanh
nghiệp đầu tƣ dự án lớn thì có vốn lớn và ngƣợc lại. Việc quản lý và kinh doanh
hiệu quả nguồn vốn của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp phát triển, ngƣợc lại sẽ
ảnh hƣởng xấu đến quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.5. Doanh thu - Lợi nhuận - Thuế
Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền thu đƣợc do tiêu thụ sản
phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh
nghiệp.
Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần tài sản mà nhà đầu tƣ nhận thêm nhờ
đầu tƣ sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tƣ đó, bao gồm cả chi phí cơ
Ở các nƣớc phát triển, cứ 1 cử nhân tốt nghiệp Đại học, cao đẳng có 4 kỹ
thuật viên tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp và 10 công nhân kỹ thuật, cơ cấu lao
động 1-4-10. Còn ở nƣớc ta, cơ cấu lao động tƣơng ứng là 1-1,16-0,95. Nhiều
chuyên gia nhận xét, Việt Nam đang thiếu thợ giỏi, cơ cấu và chất lƣợng lao động
Việt Nam còn lạc hậu (yếu về trình độ, kỷ luật và tác phong lao động) gây bất lợi
cho thu hút đầu tƣ nói chung và vào KCN nói riêng.
Để có nguồn lao động có khả năng đáp ứng đƣợc yêu cầu cho các KCN cần
phải phát triển hệ thống đào tạo có khả năng cung cấp cho các KCN một đội ngũ lao
động đông đảo, có trình độ cần thiết theo một cơ cấu thích hợp, có khả năng thích
ứng với công nghệ mới. Trong đó vai trò của các trƣờng dạy nghề rất quan trọng
với việc cung ứng nguồn lao động đã qua đào tạo, có tay nghề cho các KCN. Ngoài
ra, công tác ƣu đãi và hỗ trợ cho lực lƣợng lao động nhập cƣ nhƣ: chính sách chiêu
24 mộ nhân tài, nhà ở xã hội, ký túc xá cho công nhân, vui chơi giải trí… là vô cùng
cần thiết, vì đây là nguồn nhân lực bổ sung đáng kể khi nguồn lao động địa phƣơng
chƣa đáp ứng đƣợc.
1.2.7. An toàn, vệ sinh lao động
Trong ngành công nghiệp, hoạt động sản xuất rất đa dạng với nhiều thiết bị,
máy móc, dây chuyền công nghệ phức tạp… lại phải sử dụng rất nhiều nhân lực nên
tai nạn lao động luôn là mối hiểm họa chờ sẵn với từng công nhân, kỹ sƣ của nhà
máy, xí nghiệp. Đây là việc hệ trọng liên quan đến tính mạng con ngƣời, để giảm
thiểu những mối hiểm họa này, công tác quản lý an toàn lao động là cực kỳ quan
trọng, phải chú trọng hàng ngày và luôn là vấn đề đƣợc ƣu tiên trƣớc nhất.
Có nhiều hình thức thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động tại các doanh
nghiệp nhƣ: kiểm định đăng ký máy móc, thiết bị, vật tƣ; trang bị bảo hộ lao động
cho ngƣời lao động, thiết lập qui trình quản lý các chất dể cháy nổ, kiểm tra chất
lƣợng bữa ăn của các suất ăn công nghiệp Điều này cần đƣợc các cấp chính quyền
và doanh nghiệp quan tâm và tạo điều kiện để ngƣời lao động có môi trƣờng làm
cháy.
+ Tổ chức đào tạo, xây dựng lực lƣợng, trang bị và quản lý phƣơng tiện
phòng cháy và chữa cháy.
+ Thẩm định công trình xây dựng về phòng cháy và chữa cháy; kiểm định
và chứng nhận an toàn phƣơng tiện; xác nhận điều kiện an toàn về phòng cháy và
chữa cháy.
+ Ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ về phòng cháy và chữa cháy.