Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học tại trường đại học Hoa Sen - Pdf 29

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khoa học và công nghệ (KH-CN) đã và đang trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp và là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của từng quốc gia,
từng tổ chức, từng doanh nghiệp.
Có thể nói rằng, KH-CN là yếu tố tác động mạnh mẽ đến quy mô, tốc độ
cũng như sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH)
đất nước. Bởi vì CNH - HĐH là một quá trình mà trong đó sử dụng năng lực, kinh
nghiệm, trí tuệ, bản lĩnh của con người để tạo ra và sử dụng các thành tựu khoa học
kỹ thuật, công nghệ hiện đại kết hợp với giá trị truyền thống của dân tộc để đổi mới
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại.
Quá trình CNH, HĐH đòi hỏi phải có một lực lượng lao động có chất lượng cao. Vì
vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) trong các
trường đại học là một xu thế tất yếu và mang tính bắt buộc.
Điều 12 của Luật khoa học và công nghệ quy định nhiệm vụ KH&CN của
trường đại học là: “(1) Trường đại học có nhiệm vụ tiến hành NCKH và phát triển
công nghệ, kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ
theo quy định của Luật này, Luật giáo dục và các quy định khác của pháp luật; (2)
Trường đại học thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nhiệm vụ khoa học và công
nghệ ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước và NCKH về giáo dục”.
Giảng dạy không tách rời nghiên cứu. Đại học của các nước là đại học
nghiên cứu. Xu thế đại học Việt Nam phải là đại học nghiên cứu. Các trường đại
học ở Việt Nam có đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên và học viên sau đại học
lớn. Vì vậy, nếu không đảm bảo thực hiện tốt chức năng NCKH thì sẽ gây lãng phí
rất lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực KH&CN và sẽ có nguy cơ “tụt hậu” rất
xa trong NCKH (chỉ so sánh với các trường đại học ở Đông Nam Á). Muốn có được
kết quả NCKH tốt thì đòi hỏi hoạt động NCKH của trường phải tốt. Tuy nhiên, việc

Cụ thể là:
 Gửi phiếu điều tra các giảng viên ở các khoa có liên quan đến hoạt động
NCKH của Trường Đại học Hoa Sen.
3
 Phỏng vấn sâu một số lãnh đạo, nhà quản lý chuyên trách về mảng NCKH,
các chuyên gia tham gia xây dựng và triển khai các đề án phát triển hoạt
động NCKH của Trường Đại học Hoa Sen.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về nghiên cứu khoa học trong trường Đại học
Chương 2. Thực trạng công tác tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học của
Trường Đại học Hoa Sen
Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu
khoa học của Trường Đại học Hoa Sen

4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG TRƯỜNG ĐẠI
HỌC
1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Như vậy, khoa học ra đời từ thực tiễn và vận động, phát triển cùng sự vận
động, phát triển của thực tiễn. Ngày nay, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, thậm chí nó vượt lên trước hiện thực hiện có. Vai trò của khoa học ngày càng
gia tăng và đang trở thành động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Khoa học là một quá trình nhận thức: tìm tòi, phát hiện các quy luật của sự
vật hiện tượng và vận dụng các quy luật đó để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp
tác động và các sự vật hoặc hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng. Khoa
học chỉ tìm thấy chân lý khi áp dụng được các lý thuyết của mình vào thực tiễn một
cách hiệu quả.
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội - một bộ phận hợp thành của ý thức
xã hội. Nó tồn tại mang tính độc lập và phân biệt với các hình thái ý thức xã hội
khác ở đối tượng, hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt.
Nhưng nó có mối quan hệ đa dạng và phức tạp với các hình thái ý thức xã hội khác,
tác động mạnh mẽ đến chúng. Ngược lại, các hình thái ý thức xã hội khác cũng có
ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, đặc biệt đối với sự truyền bá, ứng dụng
các tiến bộ khoa học vào sản xuất và đời sống.
Khoa học là một hoạt động mang tính chất nghề nghiệp xã hội đặc thù: Là
hoạt động sản xuất tinh thần mà sản phẩm của nó ngày càng tham gia mạnh mẽ và
đầy đủ vào mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là sản xuất vật chất thông qua sự
đổi mới hình thức, nội dung, trình độ kỹ thuật, công nghệ và làm thay đổi chính cả
bản thân con người trong sản xuất. Xuất phát từ đó, xã hội yêu cầu phải tạo ra cho
khoa học một đội ngũ những người hoạt động chuyên nghiệp có trình độ chuyên
môn nhất định, có phương pháp làm việc theo yêu cầu của từng lĩnh vực khoa học. 6
1.1.1.2 Nghiên cứu khoa học
 Cơ sở giáo dục đại học được tổ chức theo quy định của Luật giáo dục đại
học;
 Tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được tổ chức dưới hình thức trung
tâm, văn phòng, phòng thử nghiệm và hình thức khác do Bộ trưởng Bộ Khoa
học và Công nghệ quy định.
Từ những luận cứ trên, có thể khẳng định Trường Đại học là một tổ chức
khoa học và công nghệ với hai chức năng là đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Việc nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động NCKH đòi hỏi sự vận dụng, bố trí,
sắp xếp và sử dụng hiệu quả các mối liên kết giữa các nguồn lực KH - CN trong
tổ chức.
1.1.2 Các đối tượng thực hiện NCKH trong Trường ĐH
Đối tượng thực hiện nghiên cứu khoa học trong trường đại học gồm:
1.1.2.1. Giảng viên
Hoạt động NCKH là một trong hai nhiệm vụ chính của giảng viên (Điều 4;
Điều 5 Quyết định số 64 ngày 20/11/2008 của Bộ giáo dục và đào tạo). Hoạt động
này có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng đối với giảng viên và nhà trường.
- Hoạt động NCKH là một lĩnh vực rất tốt để giảng viên tự khẳng định mình.
Thật là khiếm khuyết nếu một giảng viên được đánh giá là có năng lực
nhưng hàng năm lại không có công trình khoa học nào. Vì năng lực của
giảng viên được thể hiện chủ yếu thông qua giảng dạy và NCKH. Qua tham
gia NCKH, giảng viên không những được khẳng định mà còn thấy được
những hạn chế trong tri thức của mình để kịp thời bổ sung.
1.1.2.2. Sinh viên
- Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động trí tuệ giúp sinh viên vận
dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong học tập
và trong thực tiễn, trong đó sinh viên bước đầu vận dụng một cách tổng hợp
những tri thức đã học để tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên
cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học do thực tiễn cuộc

Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu ứng dụng
Triển khai
Nghiên cứu cơ bản
thuần tuý
Nghiên cứu cơ bản định
hướng
Triển khai trong phòng
(labô)
Triển khai bán đại trà
(pilot)

Nghiên cứu nền tảng
Nghiên cứu
chuyên đề
Hình 1.1: Quan hệ giữa các loại hình NCKH
9
1.2.2 Những đặc điểm của NCKH
Đặc điểm chung nhất của NCKH là sự tìm tòi những tri thức mà khoa học
chưa hề biết đến. Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt các đặc điểm khác của NCKH mà
nhà nghiên cứu, cũng như người quản lý và cơ quan quản lý nghiên cứu cần quan
tâm xử lý những vấn đề về mặt phương pháp luận và việc tổ chức nghiên cứu.
Những đặc điểm của NCKH là:
- Tính mới: Quá trình nghiên cứu hướng vào phát hiện, sáng tạo ra những điều

nghiên cứu, vận dụng và loại phương tiện nghiên cứu vận dụng trong quá
trình nghiên cứu…
- Tính rủi ro: Trong quá trình nghiên cứu khoa học có thể không tìm ra kết
quả, hay lời giải, song nó cũng được thừa nhận đóng góp cho một công cuộc
nghiên cứu để mách bảo những nghiên cứu sau này tránh được sai lầm mà
nghiên cứu trước đó đã trải qua hay mắc phải.
1.2.3 Định hướng NCKH và công nghệ
Luật Khoa học công nghệ 2013 xác định “Tổ chức nghiên cứu và phát triển
cấp cơ sở chủ yếu thực hiện các hoạt động KH-CN theo mục tiêu, nhiệm vụ do tổ
chức, cá nhân thành lập xác định”.
Định hướng NCKH và công nghệ được xây dựng theo kế hoạch ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn, phù hợp với mục tiêu phát triển của tổ chức.
1.2.4 Tuyển chọn đề tài NCKH
1.2.4.1 Đề tài NCKH
Là một nhiệm vụ nghiên cứu do một người hoặc một nhóm người thực hiện.
Nhiệm vụ nghiên cứu là cơ sở để hoạch định kế hoạch. Có các nguồn nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
- Chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia:
Khoa học công nghệ ngày nay phát triển rất nhanh chóng, cạnh tranh thị
trường rất quyết liệt. Có rất nhiều đề tài nghiên cứu triển khai chịu sự ràng buộc của
thời gian đạt được hiệu quả kinh tế, nhưng có một số đề tài đang trong quá trình
nghiên cứu chế tạo, công việc chưa kết thúc mà sản phẩm đã lạc hậu. Để tránh tình
trạng này, căn cứ vào xu hướng phát triển của khoa học công nghệ, vào nhu cầu
phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, nhà nước đề ra quy hoạch dài hạn và xác định
tổng mục tiêu. Trên cơ sở đó và căn cứ vào tình hình phát triển khác nhau, nhà
11
nước, ngành, địa phương định kỳ để ra hướng ưu tiên. Những cơ quan có điều kiện


- Đề tài xuất phát từ ủy thác theo chiều ngang
Lấy hợp đồng nghiên cứu khoa học làm căn cứ, ủy thác theo chiều ngang là
nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu khoa học giữa các viện nghiên cứu với viện nghiên
cứu, giữa viện nghiên cứu với các doanh nghiệp. Những đề tài nghiên cứu ủy thác
vượt ra ngoài bộ môn khoa học, ngành chủ quản này có mục đích ứng dụng rõ ràng,
chu kỳ tương đối ngắn. Nguồn tài chính do cơ quan có nhu cầu cấp.
- Đề tài xuất phát từ hợp tác quốc tế
Nội dung của hợp tác quốc tế bao gồm giao lưu chuyên gia, cùng nhau
nghiên cứu, trao đổi thông tin… Phương thức hợp tác khoa học công nghệ quốc tế
có hợp tác song phương giữa các đơn vị cơ sở và kế hoạch hợp tác giữa các chính
phủ.
- Nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đặt cho mình
Trong trường hợp này người nghiên cứu phải tự túc kinh phí.
1.2.4.2 Tên đề tài NCKH
Tên đề tài là mục phản ánh nội dung cô đọng nhất về nội dung nghiên cứu
của một đề tài NCKH. Tên đề tài phải là một sự kiện khoa học, ở đó có chứa mâu
thuẫn giữa lý thuyết hiện hữu và thực tế mới phát sinh.
1.2.4.3 Tổ chức đề tài NCKH
Đề tài có thể do một người hoặc một nhóm thực hiện. Nếu là một nhóm
người thực hiện thì gồm có:
- Chủ nhiệm đề tài
- Thư ký đề tài
- Các thành viên của đề tài (mỗi thành viên phụ trách một mục tiêu).
1.2.5 Đánh giá kết quả NCKH
Theo Vũ Cao Đàm thì “Đánh giá là một sự so sánh, dựa trên một chuẩn mực
nào đó, để xem xét một sự vật là tốt hơn hoặc xấu hơn một sự vật làm chuẩn, trong
đó có những chỉ tiêu về chuẩn mực”.
13


sự phát triển sản xuất và xã hội.
14
1.3.2 Tài lực
Là nguồn kinh phí dành cho hoạt động NCKH. Nguồn kinh phí này có thể từ
ngân sách Nhà nước, các tổ chức tư nhân, tổ chức quốc tế hoặc có thể từ bản thân
người nghiên cứu.
1.3.3 Trang thiết bị phục vụ cho NCKH
Là nguồn tài nguyên, vật chất cần thiết để có thể thực hiện các phương án kỹ
thuật và triển khai trong các hoạt động KH-CN, bao gồm các máy móc thí nghiệm,
thiết bị, nguyên liệu, vật liệu, công cụ, phòng thí nghiệm,…
1.3.4 Hệ thống thông tin cho NCKH
Là nguồn thông tin KH-CN, được lưu giữ bằng các hình thức như văn bản,
hình ảnh, ngôn ngữ, cơ sở dữ liệu trên mạng Internet,…
1.4 CHÍNH SÁCH QLKH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI
HỌC
1.4.1 Khái niệm “chính sách”
Trong phạm vi luận văn này, các văn bản quy định về hoạt động KH&CN
mà Trường Đại học Hoa Sen ban hành như chế độ làm việc của giảng viên, quy chế
về hoạt động NCKH cho giảng viên và sinh viên, quy chế chi tiêu nội bộ tuân thủ
theo quy định hiện hành của Nhà nước là những chính sách được hiểu và vận dụng
theo cách tiếp cận tổng hợp và định nghĩa tổng quát nêu trên.
1.4.2 Các chính sách tác động đến hoạt động KH-CN ở các trường Đại học
Giáo dục, KH-CN luôn được Đảng và Nhà nước xem là quốc sách hàng đầu.
Điều đó được thể hiện thông qua luật, một số các chủ trương, chính sách, văn bản
dưới luật. Cụ thể:
- Luật giáo dục đại học 2013: quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ sở giáo dục đại học, hoạt động đào tạo, hoạt động khoa học và công nghệ,

NCKH. Với hoạt động này, buộc giảng viên phải đọc, phải suy ngẫm, phải tìm tòi
cái mới, phải giải thích, phân tích, chứng minh vấn đề đặt ra. Những hoạt động tư
duy đó làm cho trình độ nhận thức của giảng viên ngày càng được nâng cao, đáp
ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của người học.
Với sự phát triển tốc độ chóng mặt của khoa học hiện nay, kiến thức cũ đã
rất nhanh bị lạc hậu. Nếu giảng viên không tham gia NCKH thì sẽ khó có thể cập
16
nhật những kiến thức mới, bài giảng sẽ thiếu tính thực tiễn. Chỉ thông qua thực hiện
đề tài NCKH buộc giảng viên phải tìm tòi tài liệu, phải đọc rất nhiều để tìm ra
những tri thức mới.
Giảng viên phải tích cực tham gia NCKH để củng cố kiến thức chuyên môn
thì khi đứng trước sinh viên sẽ tự tin, chững chạc thực hiện tốt bài giảng và như vậy
họ sẽ có uy tín đối với sinh viên, được sinh viên quý trọng. Không có trường hợp
giảng viên giảng không tốt nhưng lại có uy tín đối với sinh viên vì uy tín của giảng
viên phụ thuộc vào chất lượng giảng dạy và nhân cách của thầy, cô giáo. Nếu giảng
viên lên lớp giảng tốt, được sinh viên quý trọng thì họ sẽ yêu nghề hơn, tâm huyết
hơn và càng ra sức nâng cao trình độ chuyên môn để không phụ lòng tin yêu của
sinh viên. Giảng viên có lương tâm nghề nghiệp sẽ rất chán nản khi mình giảng cho
sinh viên không hiệu quả và sẽ tự chán mình trước khi sinh viên chán mình.
1.5.1.2. Đối với sinh viên
Hoạt động nghiên cứu khoa học mang lại những ý nghĩa thiết thực đối với
sinh viên. Bằng nhiều hình thức khác nhau như viết tiểu luận, báo cáo thực tập, làm
khóa luận, nghiên cứu khoa học sẽ rèn luyện cho sinh viên khả năng tư duy sáng
tạo, khả năng phê phán, bác bỏ hay chứng minh một cách khoa học những quan
điểm, rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp kiến thức, tư duy lôgic, xây dựng tinh
thần hợp tác, giúp đỡ nhau trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Trên cơ sở đó,
nghiên cứu khoa học sẽ tạo ra những bước đi ban đầu để sinh viên tiếp cận với

1.5.2 Đối với bản thân Trường Đại học
Trong thời đại ngày nay, KH-CN đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Các quá trình sản sinh, tích luỹ và sử dụng kiến thức ngày càng xâm nhập vào nhau
một cách hữu cơ. Sự tích luỹ các quá trình đó thúc đẩy nhanh chóng quá trình hình
thành hệ thống Giảng dạy- Khoa học - Sản xuất. Đây là biện pháp quan trọng thực
hiện nguyên lý học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn.
Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, uy tín của một trường Đại
học được đánh giá tuỳ thuộc vào chất lượng đào tạo của trường đó. Chất lượng đào
tạo là sản phẩm cuối cùng của một quy trình đào tạo bao gồm nhiều khâu, từ mục
tiêu, chương trình đào tạo, kiểm tra đánh giá và các điều kiện thực hiện quy trình.
Vì vậy, chất lượng đào tạo là một khái niệm động và phụ thuộc nhiều yếu tố khác
nhau, trong đó có vai trò của hoạt động NCKH. Nói một cách khác, NCKH là một
18
chức năng không thể thiếu và có một mối quan hệ mật thiết với chức năng đào tạo
của trường Đại học.
Nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ vừa là điều kiện, vừa là
phương pháp trong giáo dục đại học (learning by doing - học qua việc làm). Nói
cách khác, phải đào tạo nghiên cứu và cho nghiên cứu. Do có các hoạt động NCKH,
trình độ khoa học của đội ngũ cán bộ giảng dạy được nâng lên, liên tục cập nhật
kiến thức của thời đại. Ngoài ra, thông qua việc thực hiện đề tài NCKH các cấp, các
tập thể nghiên cứu khoa học và công nghệ của các trường Đại học được hình thành,
củng cố và có điều kiện phát huy tác dụng. Hoạt động NCKH còn gắn liền với công
tác đào tạo cán bộ có trình độ cao, nhiều kết quả của các đề tài NCKH là nội dung
chủ yếu của các luận án tiến sĩ, thạc sĩ của cán bộ giảng dạy. Người thầy là yếu tố
quan trọng bậc nhất, ông bà ta thường nói “không thầy đố mày làm nên”, thầy có
làm tốt thì mới hướng dẫn được trò. Do đó, NCKH của người thầy đã góp phần vào
việc nâng cao chất lượng giảng dạy.

Khả năng
kiếm việc của
sinh viên tốt
nghiệp
Đánh giá của chủ sử dụng lao động châu Á
(các chủ sử dụng lao động có kinh nghiệm
tuyển dụng học sinh của các trường châu Á)
10
Quốc tế hóa
Giảng viên quốc tế
2,5
Sinh viên quốc tế
2,5
Sinh viên trao đổi quốc tế đến
2,5
Sinh viên trao đổi quốc tế đi
2,5
Nguồn trích dẫn: Tiêu chí của Công ty Quacquarelli Symonds;
Tiêu chí đánh giá của Công ty Quacquarelli Symonds, một tổ chức chuyên
xếp hạng các trường đại học trên thế giới, cho thấy trọng số của chất lượng NCKH
(bao gồm các học giả ngang hàng, số bài báo khoa học bình quân của cán bộ giảng
dạy, số lần được trích dẫn) chiếm tới 60%.
Xét theo tiêu chí này thì hầu như không có trường đại học nào của Việt Nam
nằm trong top 200 các trường đại học của Châu Á. Như vậy để vươn lên tầm hàng
đầu của khu vực, các trường đại học cần chú trọng tới tăng cường hoạt động và chất
lượng NCKH kết hợp với đào tạo.
20

thực hiện các dự án sản xuất thử - thử nghiệm và các hợp đồng NCKH đã gắn nhà
trường với xã hội. Các trường Đại học đã thực sự góp phần vào sự phát triển, tăng
trưởng kinh tế của đất nước. Ngoài ra, bằng những loại hình hoạt động NCKH trên,
các trường Đại học có thêm nguồn vốn tự có (dù còn rất ít ỏi) để tăng cường cơ sở
vật chất, cải thiện đời sống cán bộ, giảng viên trong nhà trường.
1.5.3.3. Về xã hội
Hoạt động NCKH của ngành giáo dục thời gian vừa qua đã chứng tỏ vai trò
không nhỏ của công tác NCKH trong trường Đại học, kết quả của các đề tài nghiên
cứu đã góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, xác
lập các luận cứ khoa học nhằm đổi mới, hoàn thiện các chính sách và cơ chế quản
lý, kiến nghị về phương hướng và các biện pháp, điều kiện đảm bảo sự tăng trưởng
kinh tế bền vững.
Ngoài ra, các trường Đại học còn là nơi chủ trì tổ chức nhiều Hội nghị, Hội
thảo lớn trong và ngoài nước. Các hội thảo và hội nghị khoa học không những là
nơi trao đổi các kết quả, kinh nghiệm và thông tin khoa học mới nhất mà còn là nơi
gặp gỡ, liên kết giữa các hoạt động KH-CN giữa các nhà khoa học, giữa các trường
đại học, các viện nghiên cứu và các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước.
22
Kết luận chương 1

Chúng ta phải khẳng định công tác nghiên cứu khoa học càng chuyên sâu và
đa dạng thì càng có lợi cho phát triển nguồn nhân lực cao trong các cơ sở đào tạo và
tận dụng được nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ trong nước với chi phí
thấp, đáp ứng nhu cầu xã hội. Không phủ nhận, NCKH đã góp phần nâng cao chất

hướng chung như đẩy mạnh nội lực trong NCKH, thắp ngọn lửa đam mê sáng tạo, ý
thức nghề nghiệp và trách nhiệm của đội ngũ giảng viên, thì hoạt động NCKH của
các cơ sở giáo dục ĐH cũng nên hướng theo đặc thù và năng lực của từng trường để
có chính sách đầu tư phù hợp, đồng thời có cơ chế đấu thầu đối với các đề tài
NCKH và giao nhiệm vụ theo hợp đồng khoán sản phẩm.

24
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN

2.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIỆT
NAM
Trường đại học, viện đại học, học viện và trường cao đẳng là các cơ sở giáo
dục sau trung học ở Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có nhiều hình thức quản lý các
cơ sở giáo dục này, có thể thuộc quản lý nhà nước (công lập) hoặc tư thục; có thể
đào tạo tuyển sinh cả nước, theo vùng hay tỉnh.
Hiện nay, hệ thống giáo dục đại học đã phát triển khắp cả nước, đa dạng về
loại hình trường. Theo số liệu thống kê của Bộ giáo dục đào tạo [14], năm học
2012-2013 cả nước 207 trường đại học, học viện và 214 trường cao đẳng, trong đó
có 54 trường đại học và 29 trường cao đẳng ngoài công lập. Sự đa dạng các loại
hình sở hữu đối với các cơ sở giáo dục đại học (công lập, tự thục, quốc tế) cho phép
huy động các nguồn lực để phát triển hệ thống giáo dục đại học trong cả nước, tuy
nhiên cũng dẫn đến những khó khăn trong giám sát và quản lý chất lượng đào tạo.
Hầu hết các cơ sở giáo dục đại học đều đưa ra nhiều giải pháp để xây dựng,
thu hút, phát triển đội ngũ GV. Nhiều cơ sở đào tạo đưa ra những chính sách
khuyến khích về vật chất như hỗ trợ, ưu đãi về lương, thưởng, hỗ trợ khuyến khích

2011-2012
24.437
59.672
84.109
(Nguồn: Bộ giáo dục và đào tạo)
Quy mô đào tạo giáo dục đại học đang tăng nhanh. Số lượng sinh viên năm
học 2012-2013 so với năm học 2008-2009 tăng khoảng 1,3 lần. Hiện nay, cả nước
có 2.177.299 sinh viên trong đó có 1.453.067 sinh viên đại học, học viên sau đại
học và 724.232 sinh viên hệ cao đẳng. Xu thế phát triển giáo dục đại học đại chúng
đã làm tăng tỷ lệ lớp trẻ trong độ tuổi được học tập trong các trường đại học, cao
đẳng, nhưng cũng phải chấp nhận các mặt bằng trình độ đầu vào khác nhau, trong
khi các yêu cầu của thị trường lao động có trình độ chuyên môn cao đang ngày một
khắt khe hơn.
Các loại hình tổ chức đào tạo đang được đa dạng hoá. Bên cạnh các loại hình
đào tạo truyền thống (đào tạo chính quy) thì quy mô tổ chức đào tạo tại chức, đào
tạo từ xa, đào tạo liên kết trong và ngoài nước cũng tăng nhanh. Xu thế này đang
từng bước đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội ở mọi lứa tuổi và điều kiện khác
nhau, nhưng cũng dẫn đến nguy cơ làm suy giảm các chuẩn mực giáo dục đại học ở
trong nước.
Hiện tượng giáo dục đại học xuyên biên giới đang có nhiều tác động đến các
trường đại học Việt Nam. Một số trường đại học trong nước đã bắt đầu có các hợp
tác, liên kết đào tạo với nước ngoài. Các hoạt động này sẽ giúp các trường đại học
Việt Nam có nhiều cơ hội để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với các đối tác nước
ngoài, qua đó từng bước phấn đấu đạt được các chuẩn mực khu vực và quốc tế. Tuy
nhiên, điều này cũng có nguy cơ các công dân Việt Nam sẽ phải tiếp nhận những
chương trình giáo dục không tương xứng với các chuẩn mực chất lượng đã được
tuyên bố trước đó. Vì vậy, các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là Bộ giáo dục đào tạo

Trích đoạn Bộ máy quản lý NCKH của trường Quy trình tổ chức và quản lý các đề tài NCKH của Trường Kết quả tổ chức hoạt động NCKH của Trường giai đoạn 2008- Hoạt động NCKH của Sinh viên Những hạn chế và nguyên nhân 1 Giảng viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status