MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay,chúng ta đang sống trong giai đoạn lịch sử với những biến
đổi hết sức to lớn cả về kinh tế, chính trị, văn hóa… lẫn đời sống tinh thần.
Khi mà cả thế giới đang sống trong thế kỷ của tri thức và hội nhập phát triển
thì mỗi quốc gia trên thế giới đều phải coi trọng tinh thần hòa bình,hợp tác
phát triển hai bên cùng có lợi để đưa đất nước của mình phát triển sánh ngang
với các nước trong khu vực và trên thế giới. Để phát triển kinh tế và xã hội thì
giáo dục và đào tạo luôn phải được quan tâm và chú trọng phát triển ở bất kỳ
một quốc gia nào vì giáo trực tiếp đào tạo ra những con người có tri thức khoa
học, có lối sống lành mạnh, có tầm nhìn và khả năng thích ứng với cuộc sống.
Thực tế cho thấy rằng không có một quốc gia nào trên thế giới có nền kinh tế,
chính trị, xã hội phát triển mà ở đó có nền giáo dục kém phát triển hay không
được quan tâm đầu tư.Do vậy có thể nói giáo dục đóng vai trò quyết định đến
sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh chung ấy, Đảng ta
đã đưa ra quan điểm rõ ràng về mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo (GD-
ĐT) như sau: “Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu… đầu tư cho giáo
dục và đào tạo là đầu tư cho sự phát triển” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2
Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII). Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX
với những mục tiêu chiến lược là: “Tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện trong
phát triển giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; tiếp tục
nâng cao chất lượng toàn diện”. Thực hiện các nghị quyết của Đảng, Nghị
quyết 40 của Quốc hội, ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng và đã thu được
những thành tựu đáng ghi nhận, từng bước nâng cao được chất lượng, hiệu
quả trong giáo dục và đào tạo,đào tạo ra những con người có đủ đức và tài
phục vụ cho công cuộc phát triển của đất nước những năm qua.Từ năm 2000
Bộ GD& ĐT đã đổi mới chương trình đào tạo và sách giáo khoa (SGK) phổ
11
thông cho tất cả các môn học trong đó có môn ngoại ngữ mà môn Tiếng Anh
là cơ bản vì cùng với bộ môn Toán và Văn, Tiếng Anh luôn được coi là môn
quan trọng và được tổ chức thi chính cuối khóa của tất cả các cấp học.
học.Tiếng Anh chiếm vị trí quan trọng và đóng vai trò không thể thiếu trong
việc giáo dục toàn diện, nhằm nâng cao và mở rộng kiến thức, tư duy, tầm
hiểu biết cho các em học sinh. Chính vì vậy việc dạy và học Tiếng Anh hiện
nay đang là vấn đề được học sinh, phụ huynh học sinh, nhà trường và toàn thể
xã hội quan tâm, đầu tư. Như vậy, dạy và học Tiếng Anh như thế nào cho
hiêu quả đang là câu hỏi làm đau đầu các nhà quản lý giáo dục, các nhà
giáo…Đặc biệt đối với các em học sinh THPT vì các em chuẩn bị bước vào
môi trường học tập hoàn toàn khác (đại học) hoặc các em sẽ học nghề và đi
làm. Thực tế từ nhiều năm nay đã chỉ ra rằng sinh viên và người đi làm của
chúng ta sử dụng ngoại ngữ mà tiêu biểu là Tiếng Anh rất kém, chỉ có một
phần nhỏ có thể đáp ứng được yêu cầu cơ bản là nghe nói đọc viết. Mặc dù
việc dạy Tiếng Anh đã phát triển nhanh chóng về số lượng :số giáo viên, học
sinh tham gia dạy và học Tiếng Anh ngày càng tăng, hình thức dạy và học
Tiếng Anh ngày càng phong phú… nhưng những hạn chế vẫn chưa được khắc
phục nhiều. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó nhưng có lẽ
nguyên nhân cơ bản là phần lớn các em đã mất gốc hoặc không chú trọng học
môn học này ngay từ khi còn học phổ thông. Trách nhiệm đó trước tiên là ở
các nhà quản lý, nhà giáo dục chưa nghiêm túc trong giảng dạy và đánh gia
học sinh ở các cấp học, chất lượng đội ngũ chưa đồng đều giữa các trường và
các khu vực hoặc giáo viên chưa được đào tạo bài bản: nhiều giáo viên tốt
nghiệp tại chức vẫn đững lớp giảng dạy Tiếng Anh THPT, công tác quản lý
còn nhiều hạn chế, bất cập, quản lý thực hiện chương trình, quản lý tổ chức
33
dạy học Tiếng Anh chưa thống nhất, còn mang tính hình thức, chưa gây được
hứng thú học tập cho học sinh, các cán bộ chuyên trách còn thiều kinh nghiệm
trong chỉ đạo dạy ngoại ngữ….vì vậy đã không đạt được mục tiêu đã đề ra để
lại những hạn chế nêu ở trên.
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Anh ở trường THPT
thì việc nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện một số biện pháp quản lý dạy học
Tiếng Anh phù hợp, có thể hạn chế được những yếu kém còn tồn tại từ công
trường THPT huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
hoạt động quản lý của Hiệu trưởng đối với dạy học Tiếng Anh chính khóa ở
trường THPT
6.2. Địa bàn nghiên cứu: huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình
6.3. Khách thể điều tra: các trường THPT thực hiện dạy Tiếng Anh
trong huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu lý luận là phương pháp phân tích, tổng hợp,
hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng cơ sở
lý luận của đề tài luận văn
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được thể hiện bằng việc người nghiên cứu tiếp
cận và xem xét các biện pháp quản lý dạy học Tiếng Anh của Hiệu trưởng các
trường THPT huyện Tiền Hải – Tỉnh Thái Bình. Mục đích chính của việc sử
dụng phương pháp này là tìm hiểu về thực trạng dạy học Tiếng Anh của các
trường THPT huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình. Ngoài ra qua phương pháp
này, người nghiên cứu có thể khẳng định kết quả định tính của việc kiểm
chứng các biện pháp quản lý do mình đề xuất.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiều hỏi
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi là việc xây dựng hệ thống câu hỏi
điều tra theo những nguyên tắc và nội dung chủ định của tôi. Phương pháp
này được sử dụng với mục đích chủ yếu là thu thập các số liệu về công tác
55
quản lý dạy học Tiếng Anh của Hiệu trưởng ác trường THPT huyện Tiền Hải-
Tỉnh Thái Bình
7.2.3. Phương pháp chuyên gia
Anh ở các trường THPT huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình
Chương 3: Biện pháp quản lý nhằn nâng cao chất lượng dạy học Tiếng
Anh ở các trường THPT huyên Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình
Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
77
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong bất kỳ một giai đoạn lịch sử nào thì giáo dục cũng đóng một vai
trò rất quan trọng đến sự phát triển xã hội. Ngày nay giáo dục được coi là nền
tảng cho sự phát triển khoa học – kỹ thuật và đem lại sự thịnh vượng cho đất
nước. Giáo dục có chức năng quan trọng là tái sản xuất sức lao động kỹ thuật
cho nền kinh tế, phục vụ cho sự phát triển xã hội. Vì vậy mà hoạt động giáo
dục luôn luôn được chú trọng và phát triển, các phương pháp đổi mới giáo
dục không ngừng được cải tiến và phát triển phù hợp với thời đại và xã hội
góp phần cải thiện cuộc sống và phát triển xã hội loài người. Trong xu thế
toàn cầu hóa và hộ nhập quốc tế thì nguồn nhân lực có chuyên môn cao, tay
nghề vững vàng, ý thức lao động cao, ngoại ngữ tốt lại càng cần thiết và quan
trọng. Chính vì thế mà việc phát triển một cách toàn diện từ kỹ năng nghề
nghiệp, kỹ năng sống và giao tiếp cho mỗi cá nhân là rất quan trọng mà chỉ có
giáo dục và đào tạo mới làm được. Đất nước ta đã và đang gia nhập tổ chức
WTO, do vậy chúng ta đang đứng trước rất nhiều cơ hội để phát triển đất
nước, đưa nước ta sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu để trở thành một quốc
gia phát triển về mọi mặt; song chúng ta cũng đang phải đối mặt với rất nhiều
thách thức trong vấn đề hội nhập quốc tế mà ở đó ngoại ngữ là rào cản lớn
nhất khiến chúng ta khó hòa nhập với thế giới trong giai đoạn hiện nay. Chính
vì vậy mà trong Luật giáo dục năm 2005 – Điều 7 đã đề cập đến vấn đề dạy
vàng trước khi tiếp tục con đường học vấn cao hơn ( Đại học và sau Đại học)
hoặc học nghề và đi làm. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu biện pháp quản lý
99
dạy học Tiếng Anh ở các trường THPT càng trở nên cấp thiết nhất là trong
giai đoạn hiện nay.
1.2. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài luận văn
1.2.1. Quản lý
Quản lý là một hoạt động lao động xã hội mang tính đặc thù, gắn liền
và phát triển cùng với lịch sử phát triển loài người. Từ khi có sự phân công
lao động trong xã hội đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt, đó là tổ chức,
điều khiển các hoạt động lao động theo nhưng yêu cầu nhất định. Dạng lao
động mang tính đặc thù đó còn được gọi là hoạt động quản lý.
Tùy từng cách tiếp cận mà người ta có thể đưa ra những khái niệm khác
nhau về quản lý.
Theo Fredenck, W.Taylor – tác giả của học thuật quản lý theo khoa học
thì : “ Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau
đó hiểu được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”
Theo Henry Fayol– người theo thuyết quản lý hành chính thì “ Quản lý
chính là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, phối hợp và kiểm tra”.
Từ những cách tiếp cận đó mà người ta có thể đưa ra các khái niệm
khác nhau về quản lý như sau:
“ Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng
quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các
luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ
thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.
“ Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
( người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được những mục đích của tổ chức”.
Tùy từng cách tiết cận mà người ta có thể đưa ra các khái niệm khác
Phương pháp quản
lý
Mục tiêu
quản lý
1111
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố trong quản lý.
Dựa vào sơ đồ trên cho ta thấy:
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức.
Khách thể quản lý là những con người cụ thể và hình thành tự nhiên
các mối quan hệ giữa những con người, giữa những nhóm người.
Nội dung quản lý là những yếu tố cần quản lý của khách thể, đối
tượng quản lý.
Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách
thể quản lý như : mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách, chuyên gia, tư
duy chuyên môn – nghiệp vụ, khoa học quản lý, phương tiện lỹ thuật…
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý tới
khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý
Mục tiêu quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có thể
do chủ thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách
thể quản lý
Các chức năng quản lý:
Có nhiều ý kiến khác nhau về sự phân chia các chức năng quản lý. Vào
những năm 30 của thế kỷ XX, Gulich và Urwich (1930) đã nêu 7 chức năng
quản lý trong cụm từ được viết tắt POSDCORB:
P: planning – Lập kế hoạch.
O: Organiging – Tổ chức
S: Staffing – Quản trị nhân lực.
D: Directing – Chỉ huy.
CO: Co-ordinating – Phối hợp.
R: Reviewing – Kiểm tra.
+ Điều hành, lãnh đạo.
+ Chỉ huy, ra lệnh , can thiệp.
+ Hướng dẫn cách làm, khai thác tiềm năng, tiềm lực.
+ Kích thích, động viên.
+ Thông tin hai chiều.
+ Đảm bảo sự hợp tác trong thực tế.
d. Kiểm tra.
Kiểm tra là nhứng hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá va xử
lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức. Kiểm tra bao gồm các nội
dung sau:
+ Xây dựng định mức và tiêu chuẩn.
1313
Lập kế hoạch
Thông tin quản lý
Chỉ đạo
Kiểm tra
Tổ chức
+ Các chỉ số công việc, phương pháp đánh giá.
+ Rút kinh nghiệm và điều chỉnh.
Các chức năng này gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen lẫn nhau, khi
thực hiện chức năng này thường cũng có những mặt chức năng khác nhau ở
các mức độ khác nhau.
Bốn chức năng quản lý có mới quan hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau
tạo thành một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm 4 giai đoạn với sự
tham gia của hai yếu tố quan trọng là thông tin và quyết định. Trong đó thông
tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý; đồng thời cũng là tiền đề
của một quá trình quản lý tiếp theo.
Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý được thể hiện ở sơ
đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.2.
có hiệu quả chỉ tiêu phát triển về số lượng và chất lượng của sự nghiệp giáo
dục theo phương hướng của mục tiêu giáo dục.
Nếu chỉ đề cập đến hoạt động quản lý trong ngành giáo dục và đào tạo
thì quản lý giáo dục được hiểu là quản lý hệ thống giáo dục từ trung ương đến
địa phương, bao gồm tất cả các ngành học, cấp học, trường học theo mục đích
đặt ra cho các thời kỳ.
Nếu thu hẹp khái niệm giáo dục trong phạm vi các hoạt động diễn ra
trong các trường học và các cơ sở đào tạo thì quản lý giáo dục được hiểu là
1515
quản lý nhà trường. “Quản lý giáo dục thực chất là tác động một cách khoa
học đến nhà trường, nhằm tổ chức tối ưu các quá trình dạy học, giáo dục thể
chất, theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, tiến tới mục tiêu dự
kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới”.[1, 40]
1.2.3. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục. Trường học
( cơ sở giáo dục) chính là nơi tiến hành các quá trình GD- ĐT, có nhiệm vụ
trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định, thực hiện tối đa một quy
luật tiến bộ xã hội là: “Thế hệ đi sau phải lính hôi đươc tất cả những kinh
nghiệm xã hội mà thế hệ đi trước đã tích lũy và truyền thụ lại, đồng thời phải
làm phong phú những kinh nghiệm đó”.[1, 45]
Trường học là tổ chức giáo dục trực tiếp làm công tác GD & ĐT thế hệ
đang lớn dần lên. Nó là tế bào cơ sở, chủ chốt vừa làm quản lý nhà nước, lại
vừa là một hệ thống độc lập, tự quản của xã hội. Do đó, quản lý trường học
vừa có tính nhà nước vừa có tính xã hội.
Trong thời đại hiện nay, nhà trường được thùa nhận rộng rãi, như một
thiết chếchuyên biệt của xã hội để giáo dục đào tạo thế hệ trẻ thành những
con người có tri thức, có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức lối sống và tác
phong nghề nghiệp. Từ đó cho ta thấy, giáo dục nhà trường đóng vai trò
trọng yếu tạo ra sức lao động mới cho xã hội, đặc biệt là đòi hỏi hàm lượng
chất xám trong lao động ngày càng cao.
xác định cụ thể nội dung các mục tiêu quản lý.
Mục tiêu quản lý của nhà trường thường được cụ thể hóa trong kế
hoạch năm học, những mục tiêu này là các nhiệm vụ chức năng mà tập thể
nhà trường thực hiện xuất năm học.
Trên cơ sở hoạch định các mục tiêu cụ thể, quản lý nhà trường phải cụ
thể hóa cho từng mục tiêu. Những mục tiêu này là sức sống cho mục tiêu, là
điều kiện trở thành hiện thực.
Tóm lại, quản lý trường học là quản lý giáo dục được thực hiện trong
phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, thực hiện nhiệm vụ
giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội. Hiện nay các nhà quản lý trường
học quan tâm nhiều đến các thành tố mục tiêu, nôi dung , phương pháp, tổ
chức quản lý và kết quả. Đó là các thành tố trung tâm của quá trình sư phạm.
Như vậy nếu nếu quản lý và tác động hợp quy luật sẽ đảm bảo cho một chất
lượng tốt trong nhà trường.
Qua sơ đồ 1.3 dưới đây chúng ta có thể nhận thức trực quan về quản lý
trường học.
Sơ đồ 1.3: Mô hình quản lý trường học.
CSVC: cơ sở vật chất
1717
KT: kiến thức
GV: giáo viên MT: mục tiêu
HS: học sinh ND: nội dung
KN: kỹ năng PP: phương pháp
KQ: kết quả TD: thái độ
Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế của hệ thống giáo dục. Tất
nhiên, quản lý nhà trường cơ liên quan hữu cơ với quản lý giáo dục. Nhưng ta
đã biết, quản lý giáo dục có hai cấp độ: quản lý cấp vĩ mô và quản lý cấp vi
mô. Quản lý cấp vĩ mô là quản lý hệ thống giáo dục quốc dân (rong các cấp từ
trung ương đến địa phương) , còn quản lý vi mô là quản lý hoạt động giáo dục
trong nhà trường. Và như vậy giáo dục trong nhà trường chính là nội dung
ra trong mọi lúc mọi nơi. Cách học này diễn ra khi tiến hành công việc qua
lao động sản xuất, hoạt động vui chơi…cách học này không có chủ định dẫn
đến kết quả tri thức mà người học nắm được sẽ rời rạc và không có hệ thống
mà người học chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm mang
lại.
Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất của các hoạt động chỉ đạo
của thầy với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo của trò
nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn
1919
gồm 3 thành tố cơ bản: thầy, trò, tri thức. Ba thành tố này luôn tương tác với
nhau, thâm nhập vào nhau theo những quy luật riêng nhằm kết hợp chặt chẽ
quá trình dạy học của thầy với quá trình học của trò nhằm tạo ra chất lượng
và hiệu quả trong giáo dục.
Chúng ta có thể nhận thức một cách sơ lược về quá trình dạy học qua
sơ đồ 1.4 sau đây:
Khái niệm khoa học
( Tri thức )
Dạy Học
Sơ đồ 1.4: Cấu trúc chưc năng của quá trình dạy học
1.3.1.2. Quản lý dạy học
Quản lý dạy học là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch
hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hoạt động dạy học vận hành
Truyền đạt
Điều khiển
Lĩnh hội
Tự điều khiển
2020
theo đường lối của nhà nước, thực hiện được những yêu cầu của nền giáo dục
xã hội trong việc đào tạo con người theo mẫu người của thời đại, tập trung
vào hoạt động dạy học và giáo dục, đưa hệ vận động từ trạng thái ban đầu đến
trường phổ thông trung học hay một trường trung học cơ sở hoạc tiểu học.
Tóm lại, mục tiêu quản lý dạy học là đảm bảo chất lượng giáo dục toàn
diện người học với các mục tiêu chuẩn về chính trị, tư tưởng và văn hóa, khoa
học công nghệ, tay nghề thực hành và thể chất, được quy định trong mục tiêu
giáo dục. Chất lợng đó là kết quả tổng hợp của nhiều hoạt động của quá trình
giáo dục và của các hoạt động đảm bảo cho quá trình giáo dục đó.
1.3.1.4. Đối tượng của quản lý dạy học
Đối tượng của quản lý dạy học là hoạt động của người dạy, người học
và các tổ chức sư phạm của nhà trường, của một khoa cụ thể, của một trường
đại học, THPT, THCS cụ thể trong việc thực hiện các kế hoạch và chương
dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học với kết quả cao.
Có thể nói đối tượng quản lý dạy học là hoạt động dạy học trong nhà
trường. Quản lý hoạt động dạy học là quản lý hoạt động của giáo viên, học
sinh trong việc thực hiện kế hoạch và nội dung chương trình dạy học của nhà
trường.
Hoạt động dạy học hiểu theo nghĩa hẹp là bộ phận cấu thành chủ yếu
nhất trong toàn bộ hoạt động của một trường nào đó. Do vậy, là quản lý hoạt
động dạy học là bộ phận chủ yếu nhất của quản lý nhà trường, là nền tảng để
phân hóa các chức năng, xác định cơ chế tổ chức quản lý và tổ chức chỉ đạo
hoạt động của các đối tượng trong nhà trường. Quá trình này do nhà trường
trực tiếp quản lý, nhưng nó là mối quan hệ tương tác, liên thông với các tổ
chức giáo dục khác hoặc các tổ chức, cơ quan khoa học, kỹ thuật, công nghệ,
văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao mà người học có điều kiện tham gia hoạt
động. Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế thị trường và cuộc cách mạng
khoa học - công nghệ như hiện nay, các mối quan hệ là một trong những điều
kiện tối ưu hóa việc quản lý quá trình dạy học.
1.3.1.5. Nội dung của quản lý dạy học
2222
Quản lý dạy học bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Quản lý mục tiêu dạy học, kế hoạch và chương trình giảng dạy: là
1.3.2.2. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu
trưởng
Điều 54 (luật giáo dục - số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005)
quy định:
“ 1. Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của
nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm công nhận.
2. Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được
đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học” [ 26,tr 19]
Điều 19 (Điều lệ trường trung học – Ban hành kèm thwo quyết định
số : 07/2007/QĐ – BGD & ĐT ngày 02 tháng 4 năm 2007 của Bộ trưởng bộ
giáo dục và đào tạo) quy định:
“1. Hiệu trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
a. Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường được quy định tại
khoản 2 Điều 20 của Điều lệ này;
b. Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác,
kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen
thưởng kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định của nhà nước; quản
lý hồ sơ tuyển dụng giáo viên, nhân viên.
đ. Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ
chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký
xác nhận hoàn thành chương trình học của trường phổ thông và quyết định
khen thưởng, kỷ luật học sinh theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo.
2424
e. Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường.
g. Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên,
nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của
nhà trường; thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường.
h. Được đào tạo nâng cấp trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ