vii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN………………………………………………………………… i
LỜI CẢM ƠN………………… ………………………………………………… ii
TÓM TẮT…………………… ………………………………………………… iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ………………………………………………… x
DANH MỤC BẢNG.…………………………………………………………… xii
DANH MỤC HÌNH.…………………………… ……………………………… xiii
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Tính cấp thiết của đề tài 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
1.4. Nội dung nghiên cứu của đề tài 4
1.5. Đối tượng nghiên cứu 4
1.6. Phương pháp nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 7
2.1. Khái quát về công nghệ chế biến thủy sản. 7
2.1.1. Hiện trạng của ngành công nghiệp chế biến thủy sản ở VIỆT NAM 7
2.1.2. Công nghệ chế biến thủy hải sản 15
2.2. Nước thải của ngành công nghiệp chế biến thủy sản ở Việt Nam 18
2.2.1. Đặc điểm của nước thải 18
2.2.2. Tình hình ô nhiễm của nước thải chế biến thủy sản ở Việt Nam 21
2.3. Vấn đề quản lý nước thải của ngành công nghiệp chế biến thủy sản tại
những quốc gia khác 22
2.4. Hiện trạng công nghệ xử lý nước thải của ngành chế biến thủy sản tại
Việt Nam 29
viii
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CÁC QUY TRÌNH XỬ LÝ NƯỚC THẢI TẠI CÁC
NHÀ MÁY KHẢO SÁT 31
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Môi trường và các vấn đề về môi trường là đề tài được hầu hết các nước trên
thế giới quan tâm bởi vì môi trường và con người có mối quan hệ tác động qua lại
với nhau. Môi trường ảnh hưởng và chi phối một cách trực tiếp đến đời sống con
người và ngược lại con người cũng tác động không nhỏ đến môi trường.
Trong những năm gần đây, vấn đề môi trường lại càng được quan tâm sâu
sắc bởi những ảnh hưởng của nó đến đời sống con người đang chuyển biến theo
chiều hướng xấu đi mà một trong những nguyên nhân chính là do các hoạt động của
con người.
Ở nước ta, trong giai đoạn công nghiệp hóa, ô nhiễm môi trường do sản xuất
công nghiệp đang ở mức báo động. Phần lớn các nhà máy, xí nghiệp có công nghệ
sản xuất, trang thiết bị lạc hậu, không đồng đều dẫn đến sự lãng phí năng lượng và
nguyên vật liệu, đồng thời thải ra nhiều phế liệu gây ô nhiễm đất, nước, không khí,
ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Thêm vào đó là sự phân bố các khu
vực sản xuất không hợp lý, nhà máy, xí nghiệp nằm xen lẫn với khu dân cư, bệnh
viện, trường học, gây khó khăn cho việc quản lý, giám sát và xử lý các chất thải.
Hiện nay việc giải quyết, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do các
hoạt động sản xuất công nghiệp gây ra là nhiệm vụ cấp bách. Trong đó giải quyết
vấn đề ô nhiễm nước thải là rất quan trọng, cần phải được nghiên cứu đầu tư một
cách nghiêm túc để đưa ra các biện pháp xử lý nước thải phù hợp với điều kiện kinh
tế và có hiệu quả cao. Một trong những ngành công nghiệp cần sự quan tâm, đầu tư
để xử lý nước thải đó là công nghiệp chế biến thuỷ sản.
Việt Nam là một trong 10 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu trên thế giới,
ngành thủy sản hiện tại chiếm 4% GDP, 8% xuất khẩu và 9% lực lượng lao động
(khoảng 3,4 triệu người) của cả nước. Nhóm hàng chủ đạo trong xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam là cá tra, cá basa, tôm và các động vật thân mềm như mực, bạch tuộc,
nghêu, sò, Trong vòng 20 năm qua ngành thủy sản luôn duy trì tốc độ tăng trưởng
2
5.4
Năm 2008 Năm 2010 tháng 9/2011 Năm 2011
Hình 1.1. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam (tỷ USD)
3 Nước thải sản xuất trong chế biến thủy sản chiếm 85-90% tổng lượng nước
thải, chủ yếu từ các công đoạn: rửa trong xử lý nguyên liệu, chế biến, hoàn tất sản
phẩm, vệ sinh nhà xưởng và dụng cụ, thiết bị, và nước thải sinh hoạt.
Trong các nguồn phát sinh ô nhiễm, nước thải là nguồn gây ô nhiễm nghiêm
trọng đến môi trường bởi phát sinh thể tích nước thải lớn với nồng độ ô nhiễm cao
nếu không được xử lý thích hợp.[1]
1.2. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành công nghiệp chế biến thủy hải sản đã và đang đem lại những lợi nhuận
không nhỏ cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và của người nông dân nuôi trồng
thủy hải sản nói riêng. Nhưng bên cạnh những lợi ích mà nó mang lại như giảm đói
nghèo, tăng trưởng GDP cho quốc gia thì nó cũng để lại những hậu quả thật khó
lường đối với môi trường sống của chúng ta. Hậu quả là các con sông, kênh rạch
nước bị đen bẩn và bốc mùi hôi thối một phần là do việc sản xuất và chế biến thủy
hải sản thải ra một lượng lớn nước thải có mùi hôi tanh vào môi trường mà không
qua bất kỳ giai đoạn xử lý nào. Nhìn chung, nước thải chế biến thủy sản thường có
các thành phần ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn thải cho phép nhiều lần. Trong khi đó,
lưu lượng nước thải tính trên một đơn vị sản phẩm cũng khá lớn, thường từ 30 - 80
m
3
nước thải cho một tấn thành phẩm.[2].Chính điều này đã gây ảnh hưởng rất lớn
đối với con người và hệ sinh thái gần các khu vực có lượng nước thải này thải ra.
Đứng trước những đòi hỏi về một môi trường sống trong lành của người dân,
cũng như qui định về việc sản xuất đối với các doanh nghiệp khi nước ta gia nhập
WTO đòi hỏi mỗi một đơn vị sản xuất kinh doanh phải cần có một hệ thống xử lý
Tỉnh Tiền Giang là một trong những tỉnh tập trung nhiều nhà máy chế biến
thủy sản xuất khẩu lớn, hơn nữa giao thông thuận tiện. Do đó đối tượng nghiên cứu
tôi chọn các nhà máy chế biến thủy sản hoạt động trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
Trong đó, các đối tượng điển hình được chọn bao gồm ba công ty:
i) Công ty Cổ phần Hùng Vương
Địa chỉ: Lô 44, KCN Mỹ Tho, Tiền Giang.
ii) Công ty TNHH Đại Thành
Địa chỉ: Ấp Đông Hòa, Song Thuận, Châu Thành, Tiền Giang.
iii) Công ty Cổ phần thủy sản Vinh Quang
5 Địa chỉ: Lô 37-40, KCN Mỹ Tho, Tiền Giang.
1.6. Phương pháp nghiên cứu
Nội dung 1: Khảo sát và đánh giá hoạt động sản xuất của các nhà máy
chế biến thủy sản tại tỉnh Tiền Giang.
Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập các tài liệu tổng quan về ngành công nghiệp chế biến thủy sản
và hiện trạng nước thải của ngành chế biến thủy sản.
Thu thập thông tin về các nhà máy chế biến thủy sản như công nghệ sản
xuất, năng suất, nguồn nguyên nhiên liệu đầu vào, lượng nước sử dụng,
lượng nước thải đầu ra, hiện trạng ô nhiễm do nước thải và tình hình
quản lý và xử lý nước thải.
Thu thập tài liệu trong và ngoài nước về công nghệ xử lý nước thải
ngành chế biến thủy sản hiện nay cũng như quá trình áp dụng các giải
pháp xử lý nước thải vào sản xuất và về định chuẩn cho ngành chế biến
thủy sản ở các nước trên thế giới.
Phương pháp điều tra thực địa
Tham quan các nhà máy, thu thập thông tin, số liệu, tài liệu, và xem xét
hoạt động, tìm hiểu quy trình công nghệ cho các công đoạn sản xuất tại
xung quanh.
Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến của các kỹ thuật viên về các vấn đề
liên quan đến quy trình xử lý nước thải chế biến thủy sản, từ đó đề xuất giải pháp
nhằm giảm thiểu mức độ ô nhiễm của nước thải chế biến thủy sản.
7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Khái quát về công nghệ chế biến thủy sản.
2.1.1. Hiện trạng của ngành công nghiệp chế biến thủy sản ở VIỆT NAM
Việt Nam có hơn 3000km bờ biển, thềm lục địa kéo dài cùng với hàng ngàn
đảo lớn nhỏ. Biển Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới có nhiều sông lớn cùng nhiều
con sông nhỏ đổ ra biển Đông dồi dào phù sa kết hợp hai dòng hải lưu nóng ấm
hình thành biển Việt Nam dồi dào phong phú nguồn lợi thuỷ hải sản, sản lượng
đánh bắt mỗi năm có thể lên tới hàng triệu tấn thuỷ hải sản.
Bên cạnh đó các đầm phá, rừng ngập mặn ven biển có diện tích gần một triệu
hecta, mỗi năm có thể cung cấp gần 3.000.000 tấn tôm nuôi và 40.000.000 tấn thuỷ
sản có giá trị thương mại.
Dựa trên những đặc điểm địa lý như trên, điều này tạo điều kiện thuận lợi
công nghiệp chế biến thủy sản trở thành 1 trong những ngành kinh tế chính của Việt
Nam. Các sản phẩm thủy sản là 1 trong những mặt hàng xuất khẩu trọng điểm, thu
về nguồn ngoại tệ lớn thứ 3 sau dầu mỏ và gạo. Nhờ vào nguồn tài nguyên thủy sản
phong phú, người Việt Nam thường sử dụng những sản phẩm tươi sống được mua
từ thị trường tự do mà không qua sơ chế. Kết quả là, những sản phẩm chế biến thủy
sản phần lớn được xuất khẩu sang Singapore, Malaysia, Japan, EU, v.v. Chế biến
thủy sản là 1 trong những ngành công nghiệp chính sản xuất thực phẩm phục vụ nhu
cầu trong nước và xuất khẩu. [6].
Quá trình phát triển và xây dựng tiềm lực CBTS có thể khái quát qua hai thời
kỳ sau:
phẩm thủy sản đông lạnh đã từng bước cải thiện điều kiện sản xuất, và đã thiết lập
những chương trình quản lý sản xuất dựa theo HACCP. Hiện tại, có 153 doanh
nghiệp trên toàn quốc đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang EU,223 doanh nghiệp đủ tiêu
chuẩn xuất khẩu sang Hàn Quốc và 288 doanh nghiệp có khả năng cung cấp vào thị
trường Trung Quốc. Việc gia tăng nỗ lực đầu tư vào nơi sản xuất, dụng cụ, công
nghệ, khả năng quản lý, đầu ra sản phẩm, và chất lượng chế biến, cũng như khả
năng đáp ứng nhu cầu về chất lượng và vệ sinh và an toàn thực phẩm đã giúp những
sản phẩm của ngành công nghiệp thủy sản Việt Nam được xuất khẩu sang 75 quốc
gia và vùng lãnh thổ, với tổng doanh thu là 2.24 tỷ USD trong năm 2003. Trong
9 những phương pháp chế biến thủy sản bao gồm đông lạnh, đóng gói, sấy khô, nước
sốt cá, bột cá, và thạch, đông lạnh đang đóng vai trò chính. Hiện tại, những đơn vị
chế biến mang tính công nghiệp ở Việt Nam chủ yếu là về chế biến đông lạnh;
những sản phẩm chính được chế biến có giá trị xuất khẩu cao cũng là chế biến đông
lạnh. Đặc điểm phổ biến nhất của những đơn vị chế biến mang tính công nghiệp là
họ tập trung chủ yếu vào xuất khẩu. Gần đây, thị trường nội địa đã được quan tâm.
Những máy móc và công nghệ được áp dụng dựa trên những sản phẩm chính và phụ
thuộc vào khách hàng. Mặt khác, những đơn vị sản xuất với quy mô nhỏ, chế biến
bằng tay và chế biến theo hộ gia đình, tập trung chủ yếu và những sản phẩm truyền
thống của ngành công nghiệp thủy sản và thị trường nội địa như nước mắm và cá
khô, những sản phẩm này được sản xuất bằng các trang thiết bị đơn giản. Những
đơn vị sản xuất khác tập trung vào nguyên liệu thô cho những đơn vị sản xuất mang
tính công nghiệp. Nhìn chung, kiểu sản xuất này phát triển tốt tại những làng nghề
truyền thống và các khu vực nhỏ, tạo ra nhiều sản phẩm thô và tinh chế, và tạo ra
việc làm cho nhiều nhân công. [6].
Giai đoạn 2001-2011 đóng góp của thủy sản vào GDP chung toàn quốc dao
độngtrong khoảng từ 3,1%-3,72% (giá thực tế) và từ 2,45%-2,6% (giá so sánh).
Năm 2011 thủy sản đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu chung toàn ngành nông
Hạng mục
2001
2005
2010
Ước
2011
Tăng trưởng bình quân
2001
2005
2006
2011
2001
2011
1
GDT toàn quốc (GTT)
481.295
839.211
1.980.914
2.303.439
14,91%
18,78%
16,95%
2
GDP thủy sản
17.904
32.947
66.130
71.504
16,47%
13,28%
2,55
2,59
2,59
2,60
Nguồn: Tổng Cục thống kê
11
Hiện trạng chế biến thủy sản xuất khẩu
Theo thống kê năm 2011 xuất khẩu thủy sản đạt 6,11 tỷ USD tăng 245% so
với năm 2001. Trong đó, tôm đông đạt 2,39 tỷ USD, cá tra đạt 1,8 tỷ USD, cá ngừ
đạt 0,379 tỷ USD, mực và bạch tuộc đạt 0,52 tỷ USD, còn lại là các loại mặt hàng
thủy sản khác.
Bình quân giai đoạn 2001-2011 về sản lượng xuất khẩu tăng khoảng
15,03%/năm, về giá trị xuất khẩu tăng 13,16%, như vậy tốc độ tăng về sản lượng
xuất khẩu vẫn cao hơn tốc độ tăng về giá trị, tương tự như giai đoạn 1990-2000
(22,96% so với 21,85%). Tuy nhiên, biên độ chêch lệch tăng trưởng tốc độ giữa
SLXK và GTXK thời kỳ 2001-2011 cao hơn so với thời kỳ 1990-2000 (1,87% so
với 1,11%). Những số liệu này cho thấy trong 10 năm qua, sự tăng trưởng xuất khẩu
thủy sản Việt Nam vẫn chủ yếu do tăng về lượng, các mặt hàng gia công, chế biến
thô vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với các mặt hàng giá trị gia tăng. Đặc
biệt mặt hàng cá tra xuất khẩu tăng đột biến trong khoảng thời gian này làm cho sản
lượng xuất khẩu tăng rất lớn (trên 1 triệu tấn nguyên liệu), nhưng giá trị sản phẩm
xuất khẩu không cao (chỉ xấp xỉ 3 USD/kg).Đây là một trong những nguyên nhân
làm cho hiệu quả XKTS thời kỳ qua (2001-2011) kém hơn so 10 năm trước đó
(1990-2000).
2011
Tôm ĐL
Sản lượng, 1.000 tấn
87,26
159,19
191,55
209,57
204,33
244,53
10,85
Giá trị, 1.000 USD
780.218
1.371.556
1.625.707
1.675.142
1.853.854
2.396.095
11,87
Giá BQ USD/kg
8,94
8,62
8,49
7,99
2,47
2,35
2,40
2,59
-1,98
Trong đó: Cá da trơn
Sản lượng, 1.000 tấn
1,74
140,71
640,83
607,67
659,40
772,30
83,96
Giá trị, 1.000 USD
5.051
328.153
1.453.098
1.342.917
1.427.494
1.805.658
80,02
Giá BQ USD/kg
20,54
Giá BQ USD/kg
4,05
2,73
3,57
3,24
3,50
3,91
-0,33
Khối
Asean
8%
EU
25%
Mỹ
12%
Nhật
9%
Trung
Quốc và
Hồng Kong
7%
Các
nước
khác
39%
Sản lượng xuất khẩu
Khối
Asean
13%
41,65
61,94
86,7
77,31
79,86
117,75
10,95
Giá trị, 1.000 USD
115.892
182.253
318.235
274.368
326.739
520.297
16,20
Giá BQ USD/kg
2,78
2,94
3,67
3,55
4,09
4,42
4,73
Hải sản khác ĐL
Sản lượng, 1.000 tấn
34,28
35,91
39,74
43,6
45,15
24,32
-3,37
Giá trị, 1.000 USD
196.825
130.354
178.544
163.751
162.121
94.303
-7,09
Giá BQ USD/kg
5,74
3,63
4,49
3,76
3,59
3,88
-3,85
Tổng cộng
Hiện trạng chế biến thủy sản nội địa:
Năm 2011 tổng sản lượng chế biến thủy sản nội địa đạt khoảng 658,2 nghìn
tấn sản phẩm các loại, tăng 137,3% so với năm 2001. Trong đó, sản lượng nước
mắm chiếm 35,11%, mắn các loại chiếm 2,96%, cá khô chiếm 7,51%, tôm khô
chiếm 0,62%, mực khô chiếm 1,04%, bột cá chiếm 24,43%, đồ hộp chiếm 0,31%,
thủy sản đông lạnh chiếm 28,02% Về giá trị chế biến nội địa năm 2011 đạt khoảng
11.947 tỷ đồng, tăng 293,6% so với năm 2001. Trong đó, giá trị sản xuất nước mắm
chiếm 21,49%, mắm các loại chiếm 5,7%, cá khô chiếm 9%, tôm khô chiếm 4,93%,
mực khô 10,12%, bột cá chiếm 12,82%, đồ hộp chiếm 1,19%, thủy sản đông lạnh
chiếm 34,75% tổng giá trị chế biến nội địa.
14
Hình 2.3. Tổng sản lượng và tổng giá trị chế biến thủy sản nội địa
Bảng 2.3. Sản phẩm thuỷ sản chế biến tiêu thụ nội địa toàn quốc qua các năm
Chỉ tiêu
ĐVT
2001
2005
2009
2010
2011
TĐTBQ
(%/năm)
Nước mắm: SL
1.000 lit
139.130
186.170
227.430
48.150
48.710
50.190
49.450
4,65
Giá trị
Tr.đ
373.600
777.730
1.039.420
1.112.730
1.076.075
11,16
Tôm khô:SL
Tấn
2.370
3.010
3.980
4.160
4.070
5,56
Giá trị
Tr.đ
188.830
334.450
564.480
613.830
589.155
12,05
Mực khô:SL
19,79
Đồ hộp: SL
Tấn
890
1.630
2.030
2.030
8,60
Giá trị
Tr.đ
39.900
94.600
141.990
141.990
13,53
0
5
10
15
20
25
30
35
40
35.11
2.96
7.51
0.62
73.390
176.810
192.180
184.495
17,83
Giá trị
Tr.đ
427.160
.223.280
3.916.390
4.389.480
4.152.935
25,54
Tổng SL
Tấn
277.390
455.200
640.270
676.260
658.265
9,03
Tổng GT
Tr.đ
2.420.270
5.628.120
11.358.070
12.536.130
11.947.100
17,31
Nguồn: Báo cáo sở NN&PTNT các tỉnh/thành phố trên cả nước năm 2011
đoạn rửa nên lượng nước thải phát sinh trong qúa trình sản xuất rất lớn.Nguyên liệu
sau khi được tiếp nhận qua công đoạn rửa sơ bộ để loại bỏ các tạp chất bám bên
ngoài. Sau đó nguyên liệu được chuyển sang công đoạn sơ chế, tại đây cá được cắt
đầu, bỏ vây, mang, nội tạng và được rửa nhiều lần nữa. Nguyên liệu sau khi rửa sẽ
được muối đá sau đó được phân cỡ và xác định đúng trọng lượng, sắp xếp vào
khuôn và đóng gói. Sản phẩm sau khi đóng gói theo băng chuyền chuyển qua khu
vực cấp đông và bảo quản. Quy trình tổng quát chế biến cá tra và basa fillet đông
lạnh được mô tả chi tiết trong hình:
17
Cắt tiết
Ngâm 2- Ngâm 3
FilettCân
Tạo hình hoàn chỉnh
Kiểm traCân
Rửa 3
Chỉnh hình
Rửa 2
Quay bông
Rửa 4
Thành phẩm Đóng gói
Cân
18 Qui trình công nghệ chế biến tôm đông lạnh
Đối với quy trình chế biến tôm công đoạn rửa tôm và ngâm tôm tạo ra nước dịch
tôm và nước thải có thành phần và nồng độ các chất ô nhiễm cao.Trong quá trình
chế biến tôm, một số công ty sử dụng dung dịch tripolyphotphat để ngâm tôm và
sau đó dung dịch này được thải bỏ vì thế nước thải thường có nồng độ photpho cao.
Ngoài ra, theo yêu cầu sản xuất quá trình vệ sinh thiết bị và khu vực sản xuất cũng
phát sinh một lượng lớn nước thải chứa các chất khử trùng. Riêng quá trình lột vỏ,
ngắt đầu tôm tạo nên một lượng chất thải rắn lớn và có kích thước nhỏ, khó thu
gom. Quy trình công nghệ chế biến tôm được mô tả như trong hình sau:
Rà kim loại
Đóng thùng
Rửa lần 2
Thành phẩm
Nguyên liệu
19 trồng thủy sản (TCVN 5945-2005), ví dụ BOD
5
cao hơn từ 10 – 20 lần so với tỉ lệ
cho phép, và COD cao hơn từ 9 – 15 lần. Tổng lượng Ni-tơ gần như ngang bằng với
tỷ lệ tiêu chuẩn hoặc hơn khoảng 7 lần, chỉ số P cao hơn khoảng 5 – 7 lần, dầu: cao
hơn 10 – 150lần so với tỉ lệ cho phép. Tuy nhiên, đáng chú ý là mức độ cao nhất
trong các công đoạn chế biến thủy sản bằng với tỷ lệ ô nhiễm trung bình của nước
thải trong những ngành công nghiệp khác, ví dụ như ngành dệt và may mặc, ngành
thuộc da, và giày dép, v.v. Dựa trên nghiên cứu và những số liệu về tỷ lệ ô nhiễm
của nước thải của ngành chế biến thủy sản, phân lượng vi sinh vật như Coliform cao
hơn 100 – 200 lần so với tỷ lệ cho phép, vì nước thải từ việc chế biến thủy sản có
phân lượng protein, lipid cao, và là môi trường ưa thích cho vi sinh vật phát triển,
đặc biệt trong khí hậu nóng ẩm của Việt Nam.
Trong những công ty chế biến thủy sản đông lạnh, có 1 lượng nhỏ Chlorine
được sử dụng để rửa nhà xưởng, việc này sinh ra C1
2
trong không khí và có thể phá
hủy hệ hô hấp của công nhân. Tuy nhiên, khối lượng của nó không cao, khoảng 60
tấn/ 1 năm [8]. Trong những nhà máy chế biến nước mắm, khí thải chủ yếu là SO
2
,
NO
Chỉ tiêu
Đơn vị
Nồng độ
Tôm đông
lạnh
Cá da trơn
(tra-basa)
Thủy sản đông lạnh
hỗn hợp
pH
-
6,5 - 9
6,5 - 7
5,5-9
SS
mg/L
100-300
500-1.200
50-194
COD
mg/L
800- 2.000
800- 2.500
694-2.070
BOD
5
mg/L
500-1.500
21 Bảng 2-5.Những thông số ô nhiễm tiêu biểu của nước thải trong chế biến thủy sản
STT
Thông số
ô nhiễm
Đơn
vị
Phạm vi
giá trị
TCVN 5945: 2005 (cột B)
1
PH
5.4 – 6.5
5,5 – 9
2
Temperature
0C
5 - 21
40
3
COD
mg/l
550 - 2000
80
4
BOD
5
thải sau chế biến. Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trường từ chế biến thủy
sản gồm phế liệu và chất thải rắn; chất thải lỏng; khí thải và mùi trong chế biến; môi
chất lạnh và nhiều chất thải nguy hại khác.Đáng kể nhất là phế liệu và chất thải rắn,
chất thải lỏng như đầu, xương, da, vây, vảy, vỏ tôm….những phế liệu dễ lên men
thối rữa và phân hủy.Các chất thải này có khả năng làm xuống cấp nghiêm trọng
chất lượng môi trường sống xung quanh.
Điều tra mới đây của Viện NCHS cho thấy, trong chế biến thủy sản đông
lạnh, cứ sản xuất được 1 tấn thành phẩm tôm sẽ thải ra môi trường 0,75 tấn phế thải,
cá tra fillet là 1,8 tấn, nhuyễn thể chân đầu 0,45 tấn, nhuyễn thể hai mảnh vỏ 8 tấn.
22 Tỷ lệ phế liệu và chất thải rắn phụ thuộc vào mặt hàng sản xuất và vào loài cũng
như chất lượng nguyên liệu …
Chất thải lỏng từ chế biến thủy sản được coi là vấn đề nghiêm trong nhất
hiện nay, có chỉ số ô nhiễm cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn nước thải công
nghiệp loại B dùng cho nuôi trồng thủy sản (TCVN-2005), như BOD vượt từ 10-30
lần, COD từ 9-19 lần, nitơ tổng có nơi cao gấp 9 lần. Bên cạnh đó còn có một lượng
lớn nước thải là các chất tẩy rửa và khử trùng trong vệ sinh nhà xưởng và thiết bị
chế biến.
Để đánh giá thực trạng môi trường ở các CSCB thủy sản, Viện NCHS đã
điều tra trực tiếp 402 cơ sở quy mô công nghiệp ở 34 tỉnh và thành phố trong cả
nước. Kết quả cho thấy đã có 338 DN, chiếm tỷ lệ trên 84% cơ sở, có hệ thống xử
lý nước thải (HTXLNT), chủ yếu được xây dựng trong giai đoạn 2001-2010. Trong
năm 2011 có 27 DN xây mới HTXLNT.
Kết quả phân tích nước thải của cơ sở CBTS về 9 chỉ tiêu gồm pH, BOD
5
,
COD, TSS, Amoni, Nitơ tổng, dầu mỡ, Clo dư và Coliform theo QCVN
11:2008/BTNMT cho thấy, tất cả các cơ sở CB nước mắm đều đạt 100%. Các loại