BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH
LÊ VĂN CHUNG NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH
MÔ PHỎNG HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN
MÁY PHÁT KHÔNG ĐỒNG BỘ NGUỒN KÉP LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: KỸ THUẬT ĐIỆN
Mã số ngành: 60520202
TP. HỒ CHÍ MINH, tháng 01 năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH
LÊ VĂN CHUNG NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH
MÔ PHỎNG HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN
TP. HCM, ngày … tháng 12 năm 2013
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
1. ……………………………………………………………
2. ……………………………………………………………
3. ……………………………………………………………
4. ……………………………………………………………
5. ……………………………………………………………
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được
sửa chữa (nếu có).
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
TRƯ
ỜNG ĐHCÔNG NGH
Ệ TP. HCMPHÒNG QLKH - ĐTSĐH
C
ỘNG H
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHỆ TP. HCM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TP. Hồ Chí Minh, ngày …… tháng 02 năm 2014 BẢN CAM ĐOAN
Họ và tên học viên: Lê Văn Chung
Ngày sinh: 02/ 09/ 1974 Nơi sinh: Thanh Hóa
Trúng tuyển đầu vào năm: 2012
Là tác giả luận văn: NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH MÔ PHỎNG HỆ
THỐNG ĐIỀU KHIỂN MÁY PHÁT KHÔNG ĐỒNG BỘ NGUỒN KÉP
Chuyên ngành: Kỹ Thuật Điện Mã ngành: 60520202
Bảo vệ ngày: 18 Tháng 01 năm 2014
Điểm bảo vệ luận văn: 7,4
Tôi cam đoan chỉnh sửa nội dung luận văn thạc sĩ với đề tài trên theo góp ý của Hội đồng
đánh giá luận văn Thạc sĩ. Các nội dung đã chỉnh sửa:
Bổ sung vấn đề thu phát Q của máy phát không đồng bộ nguồn kép
năng lượng tái tạo cao hơn nhiều so với năng lượng truyền thống. Trong đó điện gió
có tốc độ tăng trưởng cao nhất.
Cũng theo báo cáo của Ủy ban NLG thế giới, tổng công suất điện gió được lắp
đặt trong năm 2010 là 194,5 GW, tăng 22,5% so với năm 2009 (với tổng công suất
lắp đặt là 159 GW). Năm nước đứng đầu trong phát triển điện gió gồm: Trung Quốc
với tổng công suất lắp đặt là 42,3GW, Mỹ là 40, 2GW, Đức là 27,2GW, Tây Ban
Nha là 20,7GW và Ấn Độ là 13GW.[1, 2]
1.1.2. Tình hình phát triển năng lượng tái tạo bằng sức gió ở một số nước
- Đức: Là nước dẫn đầu về phát triển điện gió. Đến cuối năm 2003, tổng công
suất lắp đặt điện gió của nước Đức đã đạt đến 14,600MW, chiếm hơn 1/3 công suất
lắp đặt điện gió của toàn thế giới, chiếm hơn một nửa của toàn Châu Âu. Lượng khí
thải hiệu ứng nhà kính của Đức mấy năm gần đây đã giảm 17 triệu tấn, là một sự
đóng góp rõ rệt của nước Đức trong việc thực hiện “Nghị định thư Kyoto”, tăng
thêm lòng tin cho nước Đức về phát triển bền vững. Năm 2004, tổng lượng điện gió
chiếm 5,3% tổng lượng điện toàn quốc, dự kiến đến năm 2010 sẽ chiếm đến 8%.
Nước Đức đã có quy hoạch dài hạn mới về phát triển điện gió, mục tiêu là đến năm
2025 sẽ đưa tỷ lệ trên lên ít nhất 25%, đến năm 2050 là 50%. Mặt khác, một quyết
4
sách quan trọng nữa là tuyên bố trong vòng 30 năm, 19 nhà máy điện nguyên tử
hiện đang chiếm 30% lượng cung ứng điện sẽ lần lượt bị đóng cửa.
- Đan Mạch: Là một nước nhỏ nhất Bắc Âu với diện tích hơn 4,300km
2
, dân số
khoản 5 triệu dân mà có đến 65,000 người tham gia làm nghề điện gió; tổng thu
nhập đã đạt đến 3 tỷ Euro. Nghề chế tạo máy phát điện gió của Đan Mạch đã trở
thành một động lực lớn của nền kinh tế, đó là một ví dụ thành công về thương mại
hóa trong lĩnh vực này. Từ năm 1976 đến 1995, Đan Mạch đã đầu tư 100 triệu USD
vào công việc nghiên cứu và phát triển NLG. Chính phủ Đan Mạch bù lỗ cho mỗi
chiếc máy phát điện gió bằng 30% giá thành của nó, áp dụng chế độ ưu đãi về thuế
hưởng đối với môi trường, tính toán giá thành đầu tư, những trở ngại, các biện pháp
khuyến khích, dự báo về thị trường… của việc phát triển NLG, có tính khả thi rất
cao.
- Pháp: Ngày 23/4/2004 nước Pháp đóng cửa mỏ than cuối cùng, từ đó kết thúc
việc khai thác than. Đó là hình ảnh thu nhỏ và là mốc lịch sử quan trọng của việc
phát triển nguồn năng lượng của thế giới. Pháp là một nước chiếm vị trí hàng đầu
trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, nhưng đến nay đã đưa việc phát điện bằng sức
gió lên vị trí chiến lược. Pháp đã hoạch định một kế hoạch trung kỳ phát triển điện
gió. Theo kế hoạch đó, năm 2007 sẽ lắp thêm 1000MW - 3000MW thiết bị điện gió,
đến năm 2010 sẽ có 3000MW đến 5000MW điện gió đưa vào vận hành. Theo tính
toán sau khi kế hoạch nói trên được thực thi mỗi năm sẽ giảm được 3 triệu đến 6
triệu tấn khí thải CO
2
. Điện gió hiện nay đang có tốc độ tăng trưởng mỗi năm hơn
60%.
- Nhật Bản: Năm 2002 Nhật Bản đã lắp đặt 486MW điện gió, năm 2003 đã có
730MW, năm 2004 đã có 936MW. Đến năm 2010 tổng công suất lắp đặt điện gió sẽ
đạt 3000MW. Chính sách năng lượng mới của Nhật Bản quy định, các Công ty điện
lực có nghĩa vụ mở rộng việc sử dụng điện gió, một là tự mình phải phát điện gió,
mặt khác phải mua điện gió của các Công ty khác, mỗi năm đều có chỉ tiêu quy
định.
6
Nhật Bản phấn đấu tự sản xuất hoàn toàn thiết bị điện gió, đồng thời hướng đến
xuất khẩu. Máy phát điện gió của các Công ty Nhật Bản có nhiều tính năng ưu việt,
tốc độ gió 1m/s đã có thể bắt đầu phát điện, công suất điện phát ra thường cao hơn
15 - 20% so với các thiết bị của các nước khác.
Nhật Bản đặt mục tiêu đến năm 2030 điện gió sẽ có công suất lắp đặt là
11,800MW.
- Trung Quốc: Năm 1986 tại Vinh Thành, Sơn Đông trang trại điện gió đầu
rất tốt “ để xây dựng các trạm điện gió cỡ lớn thì diện tích này ở Campuchia là
0,2%, ở Lào là 2,9%, và ở Thái-lan cũng chỉ là 0,2%. 8
Bảng 1.1:
Tiềm năng về năng lượng gió của Đông Nam Á (ở độ cao 65m)
Quốc gia Yếu
<6m/s
Trung bình
6-7 m/s
Tốt
7-8 m/s
Rất tốt
8-9 m/s
Lý tưởng
>9 m/s
Tổng
Campuchia Diện tích
% diện tích
Tiềm năng (MW)
175.468
96,4%
NA
6.155
3,4%
24.620
315
0,2%
% diện tích
Tiềm năng (MW)
477.157
92,6%
NA
37.337
7,2%
149.348
748
0,2%
2.992
13
0%
52
0
0%
0 152.392
Việt Nam Diện tích
% diện tích
Tiềm năng (MW)
197.342
60,6%
NA
100.361
30,8%
401.444
25.679
các tháng thiếu nước của các thủy điện. (Nguồn: Wind Resource Atlas of Southeast
Asia 2001).
1.1.3.1. Tốc độ gió, cấp gió
Một trong các thông số đặc trưng của gió là tốc độ gió, kí hiệu là V, đơn vị có
thể là m/s hay km/h. Căn cứ vào tốc độ gió người ta chia thành các cấp và bảng cấp
gió được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay là bảng cấp gió Beaufor với 12
cấp được cho ở bảng dưới đây.[1, 2]
Bảng 1.2: Cấp gió Beaufor
Cấp gió
Tốc độ gió
Áp suất gió trung
bình (kg/m
2
)
Đặc điểm của
gió
m/s Km/h
0
0,0
÷
0,2 0,0
÷
1,0 0,0 Lặng gió
10
1
0,3
÷
1
6
10,8
÷
13,8 39
÷
49 12,5 Gió hơi mạnh
7
13,9
÷
17,1 50
÷
61 18,8 Gió mạnh
8
17,2
÷
20,7 62
÷
74 27,0 Gió rất mạnh
9
20,8
÷
24,4 75
÷
88 37,5 Gió bão
10
24,5
÷
28,4 89
÷
Ở các vùng đồng bằng, tốc độ gió nhỏ hơn 4 (m/s) do đó việc sử dụng động cơ
gió khó đem lại hiệu quả, các vùng núi tốc độ gió còn thấp hơn trừ một vài vùng
núi cao và những nơi có địa thế đặc biệt tạo ra những hành lang hút gió. Một đặc
điểm nữa của Việt Nam là hàng năm có nhiều cơn bão mạnh kèm theo gió giật đổ
bộ vào miền Bắc và miền Trung. Tốc độ gió cực đại đo được ở các cơn bão tại Việt
Nam đạt tới 45 (m/s). Vì vậy khi nghiên cứu chế tạo động cơ gió ở Việt Nam phải
chú ý đến chống bão và lốc.
Bảng 1.3: Tiềm năng gió ở Việt Nam
TT
Tên địa
phương
Tốc độ trung
bình V
tb
(m/s)
Hệ số ảnh
năng
lượng K
Mật độ
công suất
gió (W/m
2
)
Mật độ năng
lượng năm
(E = kWh/m
2
3,2 3,2 22,5 751,1
15 Playku
3,1 4,1 69,6 610
16 Phú Quốc
3,7 3,3 97,5 855
12
17 Quy Nhơn
4,1 3,1 106,6 935
18 Sóc Trăng
2,7 4,2 49,2 431
19 Thái Nguyên
2,3 2,5 22,5 154,3
20 Thanh Hóa
2,6 2,9 29,5 259
21 Tây Ninh
2,4 2,3 66,2 179,3
22 Tân Sơn Nhất
3,2 2,9 56,1 492
23 Trường Sa
6,3 2,1 307,1 2692
24 Rạch Giá
3,2 2,8 47,7 476
25 Văn Lý
4,3 2,3 72,0 933,5
26 Vũng Tàu
3,9 3,0 101,1 886
(Nguồn: Tiềm năng gió ở Việt Nam có thể đánh giá thông qua các số liệu về gió
của cục Khí tượng Thủy văn)
1
Bãi Cháy 3,3
4,4
13
2
Bạch Long Vĩ 7,3
9,7
3
Bạc Liêu 2,8
3,7
4
Cam Ranh 4,2
5,6
5
Đảo Cô Tô 4,4
5,8
6
Đồng Hới 3,9
5,2
7
Đảo Phú Quý 6,8
9,0
8
Đà Lạt 3
4,0
9
Hà Nội 2,5
3,3
10
20
Thanh Hóa 2,6
3,4
21
Tây Ninh 2,4
3,2
22
Tân Sơn Nhất 3,2
4,2
23
Trường Sa 6,3
8,4
24
Rạch Giá 3,2
4,2
25
Văn Lý 4,3
5,7
26
Vũng Tàu 3,9
5,2
(Tạp chí khoa học công nghệ xây dựng Số 10/9-2011) 14
1.1.3.3. Tiềm năng và quy hoạch phát triển năng lượng điện gió
Về mặt tiềm năng gió: Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), tiềm
năng điện gió.
Bảng 1.5: Tiềm năng năng lượng gió ở Việt Nam (độ cao 65m)
Khu vực Duyên hải Nam Trung bộ của Việt Nam có tiềm năng rất tốt, tốc độ
gió từ 8-9,5 m/s, tuy nhiên những nơi này thường tập trung ở vùng núi cao độ1600-
2000m so với mực nước biển. Khu vực miền núi phía Tây Quy Nhơn và Tuy Hòa
cao độ so với mực nước biển 1000-1200m, tốc độ gió đạt 7,5-7,8 m/s. Khu vực
Huyện Ninh Phước (tỉnh Ninh Thuận), tốc độ gió trung bình 7-7,5 m/s. Khu vực
Tuy Phong, Bắc Bình, bờ biển Nam Phan Thiết và đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận)
có tiềm năng năng lượng gió cũng khá lớn, trên các đỉnh núi khu vực Ninh Thuận,
Bình Thuận và Lâm Đồng tốc độ gió trung bình lên đến 8-8,5 m/s.
15
Khu vực Bắc Trung Bộ, dãy Trường Sơn chạy dọc biên giới Lào-Việt, những
nơi có cao độ 1800m, tốc độ gió trung bình có thể lên đến 8,5-9 m/s, có nơi lên đến
9,0-9,5 m/s. Tuy nhiên, một số nơi có khả năng phát triển điện gió được tìm thấy
thuộc khu vực vùng núi đồi biên giới của Lào và Việt Nam về phía Tây của Huế,
cao độ từ 400-800m tốc độ gió trung bình đạt đến 7-8 m/s. Khu vực đông Trường
Sơn, cao độ 800-1200m cũng có tiềm năng gió tương tự, tốc độ gió trung bình 7,0-
8,0 m/s. Tiềm năng năng lượng gió cho tua bin gió nhỏ, tập trung ở khu vực đồng
bằng duyên hải phía Bắc của Huế, tốc độ trung bình ở độ cao 30m đo được vào
khoảng 5,5-6,0 m/s và có nơi sát vùng duyên hải còn vượt quá 6,0 m/s. Vùng duyên
hải của Quảng Ngãi và Trường Sơn Đông, tiềm năng gió ở mức khá tốt tập trung ở
vùng núi cao có cao độ khoảng 1100m.
Khu vực Miền Bắc, đặc biệt khu vực duyên hải gần Hải Phòng có tốc độ gió
trung bình 6,5-7 m/s. Hải đảo ngoài khơi, đỉnh đồi tốc độ gió đo được lên đến hơn
7m/s, tuy nhiên sẽ giảm rất nhanh khi đi sâu vào trong đất liền. Tốc độ gió trung
bình đo được đạt 8-9 m/s tại một số đỉnh núi cao độ1300-1800m so với mực nước
biển. Vùng biên giới Lào-Việt Nam, vùng Đông Nam của Vinh và vùng đồi núi
Đông Bắc biên giới Trung Quốc – Việt Nam cao độ 700-1000m có tiềm năng gió
rất tốt.
Về mặt quy hoạch phát triển năng lượng điện gió: Các tỉnh duyên hải miền Nam
Việt Nam bao gồm 12 tỉnh: Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu, TP. Hồ
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
NLG
2,5 2 2 2 2 2 2 2 2,7 3,6 2,5 3,5 2 2,3 2
Hệ sốnhân: 4
10 8 8 8 8 8 8 8 10,8 14,4 10 14 8 9,2 8
KC đến lưới điện 4 5 5 5 4 5 5 4 4 2 3 2 5 4 2
Địa hình
4 4 3 4 4 5 5 5 3 3 3 5 4 2
VC, lắp dựng
5 5 4 5 3 4 4 4 3 3 3 1 5 3 2
Hướng địa hình
+ Vùng tiềm năng 9: xã Phước Hải, xã Phước Nam và thị trấn Phước Dân
+ Vùng tiềm năng 10: xã An Hải và Phước Dinh
+ Vùng tiềm năng 11: xã An Hải và Phước Dinh
+ Vùng tiềm năng 12: xã Phước Dinh
- Tỉnh Bình Thuận
+ Vùng tiềm năng 13: xã Phước Thể
+ Vùng tiềm năng 14: xã Bình Thạnh
- Tỉnh Lâm Đồng
+ Vùng tiềm năng 15: xã Xuân Trường - TP Đà Lạt
Dựa vào kết quả như trên, các vùng có triển vọng nhất để phát nhà máy điện gió
là:
1. Vùng tiềm năng 9: xã Phước Hải, xã Phước Nam và TT Phước
2. Vùng tiềm năng 4: xã Phước Hữu, xã Phước Nam
3. Vùng tiềm năng 2: xã Phước Nam, xã Phước Minh
Khả năng lắp đặt tại các vùng lần lượt là: 100 MW, 65 MW và 70 MW
Căn cứ kết quả nghiên cứu có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Tiềm năng gió ở miền Nam Việt Nam chủ yếu tập trung tại các tỉnh Ninh
Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng.
- Sơ bộ tiềm năng lắp đặt công suất điện gió đạt hiệu quả về mặt kinh tế tại khu
vực các tỉnh duyên hải miền Nam Việt Nam đạt khoảng 800 MW (trên các vùng đất
có tổng diện tích khoảng 17500 ha), tập trung tại Ninh Phước - Ninh Thuận, Tuy
Phong - Bình Thuận và Xuân Trường - Đà Lạt. Tuy nhiên, con số thực tế có thể còn
cao hơn do hiện tại chưa đánh giá hết tiềm năng gió của các tỉnh Ninh Thuận, Bình
Thuận và Lâm Đồng. Trong tương lai, khi giá thành sản xuất điện gió giảm, sẽ khai
thác tiếp đến các vùng có tiềm năng thấp hơn. Khi đó, tổng công suất lắp đặt điện
gió có khả năng đạt hiệu quả về mặt kinh tế sẽ nhiều hơn.
18
1.1.3.4. Kỹ thuật và công nghệ khai thác năng lượng gió
(1.4)
Công suất gió được tính theo công thức:
=
(1.5)
Vì năng lượng tỷ lệ bậc 3 với tốc độ gió nên cần phải đặc biệt quan tâm đến vị
trí đặt tua bin để thu được gió có tốc độ lớn. Chúng ta có thể sử dụng công thức sau
để dự báo sự gia tăng của tốc độ gió theo chiều cao.
=(/
)
(1.6)
Trong đó: S
0
- tốc độ gió tại chiều cao ban đầu; S - tốc độ gió tại chiều cao tính
toán; H
0
- chiều cao ban đầu; H - chiều cao tính toán.
Số mũ α thay đổi theo độ mấp mô bề mặt là một đại lượng đo của lực ma sát bởi
gió thổi ngang qua mặt đất.
gồm.
- Tần suất và vận tốc gió ứng với các hướng gió và các độ cao khác nhau.
- Vận tốc gió trung bình theo giờ và trung bình 10 phút tại các ngày điển hình
của các tháng quan trắc.
- Vận tốc gió trung bình các tháng trong năm.
- Tần suất lặng gió, tần suất gió thịnh hành tại các độ cao khác nhau.
- Đường cong phân bố tần suất vận tốc theo phút trong các tháng thực tế ở các
độ cao khác nhau.
Từ các thông số trên sẽ xác định được quy mô khai thác của dự án, hướng,
chiều cao của tua bin gió, loại tua bin và số lượng tua bin và cuối cùng là xác định
được tổng hiệu ích năng lượng điện của dự án.
Một thiết bị đo gió bao gồm 2 phần: cảm biến (đầu đo gió) và một công cụ để
hiển thị các dữ liệu đo được. Sensor phát ra một tín hiệu điện tương ứng với tốc độ
của gió. Ví dụ cảm biến của NWS, sử dụng một chong chóng gồm 3 cánh để dẫn
động một máy phát điện 1 chiều (một động cơ gió bé). Các thay đổi về tốc độ gió
gây ra một thay đổi về điện thế dòng 1 chiều và sau đó được đọc bởi một vôn kế
20
chuẩn. Kim dao động đi đi lại lại giống như là kim chỉ đồng hồ tốc độ trong ôtô. Để
ghi được dữ liệu, thiết bị đo gió phải được đọc thủ công.
1.2. Kết quả nghiên cứu ngoài nước và trong nước về máy phát điện gió.
1.2.1. Những nghiên cứu ngoài nước.
- Fernando D.Bianchi, Hernán De Battista and Ricardo J. Mantz, “Wind
Turbine Control Systems Principles, Modelling and Gain Scheduling Design”. April
2006.
- Pedro Rosas, “Dynamic influences of wind power on the power system”.
PhD thesis; Technical University of Denmark, March 2003.
- Petru, “Modeling of Wind Turbines For Power System Studies”. Thesis for the
degree of doctor of philosophy, university of technology. Goteborg, Sweden 2003.
- Marcia Martins, “Voltage Stability Issues Related to implementation of large
1.5MW/Tua bin với vốn đầu tư với 75 triệu USD.
Tại Việt Nam cho đến thời điểm này có thể nói nhà máy phát điện sức gió đầu
tiên phải kể đến là nhà máy đặt tại huyện đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng. Có công
suất 800KW và với số vốn đầu tư 14 tỷ đồng thì thời gian hoàn vốn 7 đến 8 năm
(giá bán điện tính trung bình 750VNĐ/KWh). Sau đó là nhà máy phát điện sức gió
kết hợp với máy phát điện Diesel có tổng vốn đầu tư 200 tỷ đồng đến nay đã thực
hiện song giai đoạn 2 và đang tiếp tục thực hiện giai đoạn 3 trong các năm 2009 -
2012 với tổng công suất lên đến 10MW.
Dự án xây dựng nhà máy điện gió Cần Giờ sẽ là dự án số 38 trong danh sách
của Bộ Công thương, hy vọng sẽ sớm trở thành hiện thực để đến năm 2016-2017
TP.HCM có trang trại gió ngoài biển đầu tiên.
Dự án Nhà máy Điện gió Bạc Liêu khởi công tháng 9/2010, công suất 99,2
MW, bao gồm 62 trụ tua bin gió, điện năng sản xuất toàn dự án khoảng 320 triệu
kWh/năm với Tổng mức đầu tư toàn dự án 5.200 tỷ đồng bằng nguồn vốn tự có của
chủ đầu tư (Công ty TNHH XD-TM Công Lý) và nguồn vốn vay từ Eximbank Hoa
Kỳ thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Đã hoàn thành giai đoạn một vào
22
ngày 2/10/2012. Giai đoạn 1 dự án triển khai lắp đặt 10 tua bin gió với công suất
16MW, điện năng sản xuất 56 triệu kWh/năm.
Hình 1.3: Các Tua bin gió Bạc Liêu nhìn từ trong bờ
Nguồn điện gió và các nguồn năng lượng tái tạo khác đang tiến triển tốt và có
thể tự trang trải để đóng góp một phần cho lưới phân phối và truyền tải. Nguồn điện
gió bổ sung điện năng và giúp giảm nhẹ căng thẳng trên lưới truyền tải hiện nay.
Tuy nhiên điều quan trọng là Công ty Điện lực phải làm việc với đơn vị triển khai
các công trình năng lượng tái tạo này ngay từ khi bắt đầu dự án, về thiết kế các công
trình này cũng như nâng cấp lưới điện để đối phó với tác động của nguồn điện
tương lai này. Các hệ thống điện đang trở nên ngày một nhạy cảm và phức tạp hơn,
do vậy điều quan trọng là phải có tầm nhìn xa hơn.