Đánh giá năng suất và chất lượng của một số tổ hợp ngô nếp lai vụ Thu Đông tại Gia Lâm Hà Nội năm 2014 - Pdf 29

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA NÔNG HỌC
&
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“Đánh giá năng suất và chất lượng của một số tổ hợp ngô nếp
lai vụ Thu Đông tại Gia Lâm- Hà Nội năm 2014”.
Người hướng dẫn : ThS. NGUYỄN VĂN LỘC
Bộ môn : CÂY LƯƠNG THỰC
Người thực hiện : LÊ THỊ LOAN
Lớp : KHCTC
Khóa : 56
Ngành : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
HÀ NỘI - 2015
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố
gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và
cá nhân.
Trước hết tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến thầy Th.s Nguyễn Văn Lộc đã tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn thầy ThS. Phạm Quang Tuân, các thầy cô, các bác bảo vệ
và các anh chị trong Viện Nghiên cứu và Phát triển Cây trồng, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam, đã hết lòng giúp đỡ, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi về vật chất
và tinh thần cho tôi thực hiện đề tài nghiên cứu.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ công nhân viên của Bộ môn
Cây lương thực đã giúp đỡ và chia sẻ nhiều kinh nghiệm quý báu và tạo nhiều
điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè,
đặc biệt là các bạn trong nhóm thực tập đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời

Bảng 4.6: Diện tích lá (DTL) và chỉ số diện tích lá ( LAI) qua các thời kì sinh trưởng của các
tổ hợp lai ngô nếp trong vụ Thu Đông tại 45
Gia Lâm – Hà Nội năm 2014 45
Bảng 4.7: Bảng chỉ số SPAD của các tổ hợp lai ngô nếp vụ Thu Đông tại Gia Lâm – Hà Nội
năm 2014 47
Bảng 4.8: Đặc tính chống chịu sâu bệnh của các tổ hợp lai ngô nếp vụ Thu Đông tại Gia Lâm
– Hà Nội năm 2014 50
Bảng 4.9: Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai 54
Bảng 4.10: Năng suất bắp tươi và lý thuyết của các tổ hợp lai ngô nếp vụ Thu Đông tại Gia
Lâm – Hà Nội năm 2014 55
Bảng 4.11. Chỉ tiêu chất lượng của các tổ hợp lai ngô nếp vụ Thu Đông tại Gia Lâm – Hà Nội
năm 2014 56
iii
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của một số tổ hợp lai 36
ngô nếp vụ Thu Đông tại Gia Lâm – Hà Nội năm 2014 36
Đồ thị 4.2: Động thái tăng trưởng số là của các tổ hợp lai ngô nếp vụ Thu Đông tại Gia Lâm –
Hà Nội năm 2014 38
Đồ thị 4.3: Diện tích lá và chỉ số diện tích lá qua các thời kỳ của các tổ hợp lai ngô nếp vụ
Thu Đông tại Gia Lâm – Hà Nội năm 2014 46
Đồ thị 4.4: Chỉ số SPAD của các tổ hợp lai ngô nếp vụ Thu Đông tại 48
Gia Lâm – Hà Nội năm 2014 48
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
CP Cổ phần
Cs Cộng sự
CV Coefficient of variation
CTCPGCTTU Công ty cổ phần giống cây trồng trung ương
ĐC Đối chứng

thực – thực phẩm và công nghiệp nhẹ để sản xuất rượu, cồn, tinh bột, dầu,
glucozo, bánh kẹo…. Trong y dược ngô được dùng để trị áp huyết, râu ngô được
dùng làm thuốc.
Ngày nay nhu cầu về ngô ở quy mô toàn cầu ngày càng tăng, bởi lẽ ngô
không chỉ được dùng làm lương thực thực phẩm cho con người và thức ăn trong
chăn nuôi mà ngô còn dùng để chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol). Diện tích
năng suất và sản lượng cây ngô thế giới tăng rất nhanh từ năm 1960 đến nay.
Năm 2013, diện tích ngô thế giới đạt mức 184.339.959 ha, cao gấp 1,75 lần,
năng suất đạt 5,5 tấn/ha cao gấp 2,8 lần, sản lượng đạt hơn 1,0 tỉ tấn cao gấp 5
lần so với năm 1961 (FAOSTAT, 2014).
Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây
màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về
mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác. Cây ngô không chỉ là là nguồn thức ăn
cho chăn nuôi mà còn là cây trồng xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh có điều kiện
kinh tế khó khăn. Sản xuất ngô cả nước qua những năm gần đây không ngừng
tăng về diện tích, năng suất và sản lượng. Cụ thể năm 2013, diên tích ngô cả
1
nước đạt 1.172.600 ha, năng suất xấp xỉ 44,3 tạ/ha, sản lượng đạt 5,2 triệu tấn,
là năm có năng suất và sản lượng cao nhất từ trước đến nay (FAOSTAT, 2014).
Tuy nhiên hằng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu gần 1,5 – 1,7 triệu tấn ngô
để phục vụ nhu cầu trong nước (Tổng cục thống kê, 2012). Ở Việt Nam diện tích
trồng ngô có khả năng mở rộng được ở chân đất sau vụ lúa ở các vùng đồng
bằng, trung du.
Trong đó ngô nếp với đặc trưng là ngon, dẻo, có mùi thơm đặc biệt, tương tự
như gạo nếp, hạt ngô nếp rất dễ tiêu hóa, nó có chứa một số acid amin quan
trọng như: Triptophan, Lysin, Leusin, Tyrosin; Do vậy, ngô nếp thích hợp cho
việc chế biến thức ăn dinh dưỡng, bột ngũ cốc cho trẻ em và người lớn không
giống như các cây ngũ cốc khác, có rất ít chương trình chọn giống đối với ngô
nếp. các nhà chọn giống sẽ quan tâm đến ngô nếp nhiều hơn nếu như nhu cầu về
thị trường trường ngô nếp tăng lên. Hơn nữa phải kết hợp các gen qui định độ

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh, năng
suất và chất lượng của các tổ hợp ngô nếp lai.
- Thời gian nghiên cứu: Vụ Thu Đông 2014.
3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình sản xuất ngô nếp trên thế giới và Việt Nam
2.1.1. Tình hình sản xuất ngô nếp trên thế giới
Trên thế giới ngô nếp cũng đã được nghiên cứu từ lâu, tuy nhiên do năng
suất thấp và nhu cầu sử dụng trước đây không cao nên nên ít được quan tâm đầu
tư nghiên cứu. Từ hơn nửa thế kỷ nay, ngô nếp được trồng và sử dụng như là
một hàng hóa ở qui mô nhỏ bởi những người nông dân ở một số nước Châu Á
như Thái Lan, Việt Nam, Lào, Myanma, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc
(Theo, Lertrat, K. and N.Thongnarin, 2008,[40]).
Ở Mỹ và các nước phát triển phần lớn sản lượng ngô nếp dùng để chế
biến tinh bột ngô nếp sử dụng trong công nghiệp chế biến thức ăn, bánh kẹo, keo
dán, công nghiệp giấy, ngoài ra nó còn được sử dụng dưới dạng sữa ngô làm gia
vị cho món salad. Tình hình phát triển tại Mỹ: Ngô nếp được trồng nhiều nhất ở
Mỹ, nhưng phần lớn diện tích được trồng ở miền trung ILLinois và Indiana, phía
bắc của Iowa, phía nam của Minnesota và Nebraska (US.Grains Council,
Advanced in Breeding Specialty maize types, 2000/2001) [46]. Việc sản xuất
ngô nếp ở Mỹ với lượng khá lớn, bắt đầu vào những năm 40 của thế kỷ 20. Theo
H.H.Schopmeyer thì sản lượng ngô nếp nếp sản xuất cho công nghiệp ở Iowa
xấp xỉ 356 tấn năm 1942 và 2540 tấn năm 1943 (Schopmeyer, H. H. 1943). Năm
1944, chỉ có 5 giống ngô nếp dùng cho việc sản xuất tinh bột. Năm 1943, tổng
số khoảng 81650 tấn hạt được sản xuất để đáp ứng nhu cầu amylopectin. Từ thế
chiến thứ II đến năm 1971 thì tất cả lượng ngô được trồng ở Mỹ để làm lương
thực và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Năm 2002, ước tính 1.200.000-
1.300.000 tấn ngô nếp được sản xuất ở Mỹ trên diện tích 200 nghìn ha, chỉ
chiếm 0,5% tổng sản lượng ngô nước này (US Grain Council, 2002) [46].
Những năm gần đây, diện tích ngô nếp hàng năm của Mỹ tăng lên khoảng

5
có ngô nếp ở một số nước Mỹ là 100%, đông Phi 24% còn các quốc gia khác.
Những năm gần đây, nhu cầu sử dụng ngô làm thực phẩm (ngô nếp, ngô đường ,
ngô rau) ngày càng tăng. Xuất khẩu hạt giống và các sản phẩm từ ngô nếp thực
phẩm đã mang lại thu nhập khá cao cho người sản xuất.
Ngô nếp ngày một trở nên quan trọng đối với thị trường Thái Lan và
nhiều nước khác ở Châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan
bởi mùi vị, độ ngọt, mềm dẻo khi sử dụng Bắp tươi. Thị trường xuất khẩu hạt
giống và ngô nếp đông lạnh ở Thái Lan đang có triển vọng, mở rộng cả trong và
ngoài nước (Trường đại học nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học
nông nghiệp 4).
Ở Trung Quốc, gần đây họ đã tạo ra giống ngô nếp lai cho năng suất cao
và chất lượng tốt như: Ngô nếp lai đơn màu trắng JYF 101 cho năng suất bắp
tươi trung bình là 15 tấn /ha; Ngô nếp lai đơn màu tím Jingkenou 218 cho năng
suất 12 tấn bắp tươi/ha…(“ New maize hybrids”, Báo cáo tại hội thảo 9 nước
khu vực Châu Á về cây ngô, 2005). Viện nghiên cứu ngô Quảng Tây đã chọn
tạo ra một số giống có năng suất cao và chất lượng tốt như You Mei Tou 601,
606… Đây là những giống có nguồn gốc á nhiệt đới, tương đối phù hợp với điều
kiện Việt Nam và có thể sử dụng làm vật liệu tạo dòng thuần.
2.1.2. Tình hình sản xuất ngô nếp ở Việt Nam
a. Một số kết quả nghiên cứu, chọn tạo giống ngô nếp ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực được trồng phổ biến, nhiều nhất ở
miền núi. Có nhiều loại ngô được xếp vào các hạng ngô tẻ (trắng mềm), ngô nhỏ
(ít tinh bột, ăn cả lõi như rau), ngô nếp (dẻo hạt), ngô vàng (hạt cứng nhưng sản
lượng cao nên dùng cho gia súc), (Các giống ngô mới và kỹ thuật trồng - Nhà
xuất bản Hà Nội).
Theo các nghiên cứu phân loại ngô địa phương thì ngô ở Việt Nam tập
trung chủ yếu vào hai loài phụ chính là đá rắn và ngô nếp. Ngô nếp được phân
bố ở khắp các vùng trong cả nước, với nhiều dạng màu hạt khác nhau: trắng,
6

năm 2011, Trung tâm Nghiên Cứu Thực Nghiệm Nông Nghiệp Hưng Lộc đã thu
thập, lưu giữ và đánh giá được 855 dòng ngô nếp; 42 dòng nếp ngọt. Kết quả thử
khả năng kết hợp và lai tạo được 392 tổ hợp lai. Khảo sát đánh giá và tuyển
chọn được 21 tổ hợp lai ưu tú, những tổ hợp lai này có thời gian sinh trưởng
ngắn tương đương với đối chứng MX10 và Tím dẻo 926, xác định được 5 tổ hợp
lai triển vọng nhất là VK6; VK10; VK 24; VK36; VK37.
Các tác giả Nguyễn Hữu Đống, Phan Đức Trực, Nguyễn Văn Cương -
Viện Di Truyền Nông nghiệp, và Ngô Hữu Tình - Viện Nghiên cứu Ngô đã
gây đột biến bằng tia gama, kết hợp với xử lý Diethylsulphat ở ngô nếp thu
được một số dòng biến dị có các đặc tính nông học quý so với giống ban đầu
(Nguyễn Hữu Đống và cs, 1997).
Thời gian gần đây, các nhà tạo giống Việt Nam bắt đầu chuyển hướng
sang tạo giống nếp lai và đã tạo được một vài giống nếp lai không quy ước có
triển vọng như: MX2, MX4, MX6, MX10 của Công ty cổ phần Giống cây
trồng Miền Nam, Bạch Ngọc, NL2, nếp Nù của công ty Lương Nông. Ngoài ra,
một số giống nếp lai quy ước được trồng ở các tỉnh phía Nam, phần lớn có
nguồn gốc từ Đài Loan, Thái Lan, và một số công ty giống quốc tế. Đặc biệt là
giống ngô ăn tươi của nước ngoài được ưa chuộng trong sản xuất của công ty
Sygenta Việt Nam có bắp lai đơn Wax 22, Wax 33, Wax 44. Đồng thời Viện
Nghiên cứu Ngô đã thu thập nguyên liệu và tạo ra hàng loạt các dòng thuần
ngô nếp phục vụ chương trình chọn tạo giống ngô nếp lai. Hàng loạt các tổ hợp
nếp lai mới triển vọng đã được tạo ra và đang được thí nghiệm ở nhiều vùng
sinh thái ở Miền Bắc.
Tại Viện nghiên cứu và Phát triển cây trồng thuộc Học Viện Nông Nghiệp
Việt Nam, từ năm 2000-2009 đã tiến hành thu thập được 166 mẫu ngô nếp địa
phương tại các tỉnh miền núi Tây Bắc. Các giống Ngô thu thập một phần bảo tồn,
một phần làm thuần và hiện nay có khoảng 2.500 mẫu giống tự phối S
1
-S
5.

9
101,88 tạ/ha (NL77A) đến 111,12 tạ/ha (HN106). Chất lượng ăn tươi như độ
dẻo, hương thơm các giống tương đương đối chứng Wax 44. Giống qua 2 vụ
khảo nghiệm có triển vọng: VS99 tím, VS10, Fancy111, Cp1003.
Năm 2013, Trung tâm Khảo kiểm nghiệm Giống, sản phẩm cây trồng
Quốc gia tiến hành khảo nghiệm đối với 11 giống ngô nếp được gửi từ 7 đơn vị
khác nhau. Giống NH90 của Công ty CP Giống cây trông trung ương được đánh
giá là có triển vọng qua 3 vụ khảo nghiệm. HN90 có thời gian sinh trưởng 89
ngày, năng suất bắp tươi trung bình đạt 102,69 tạ/ha, cao hơn giống đối chứng
Wax44, chất lượng ăn tươi ngon hơn Wax44. Các giống ADI601 (Công ty
ĐTTM và PTNNADI), Fancy172 (Công ty Advanta India Ltd), HUA601 và
HUA518 (Viện Nghiên cứu và Phát triển Cây trồng – Học viện nông nghiệp
Việt Nam) được đanh giá là có triển vọng qua 2 vụ khảo nghiệm. Các giống này
có chất lượng ăn tươi ngon hơn đối chứng Wax44, năng suất bắp tươi đạt từ
93,55 – 99,44 tạ/ha, đều cao hơn đối chứng. Giống HN92 (Công ty CP
Giống Cây trồng trung ương) qua 1 vụ khảo nghiệm cho thấy có nhiều ưu điểm
nổi trội về năng suất và chất lượng ăn tươi cao hơn đối chứng Wax44.
Công ty sygenta Việt Nam nhập khẩu, khảo nghiệm giống Wax50 tại Việt
Nam cho thấy đây là giống có thời gian từ gieo đến thu bắp tươi ngắn (60 – 62
ngày), sinh trưởng và phát triển tốt, trạng thái cây và bắp tốt, chống chịu khá,
năng suất đạt từ 80 – 100 tạ/ha, chất lượng ăn tươi mềm, dẻo, ngon. Wax50
được công nhận là giống cây trồng mới vào tháng 2/2012.
Tháng 12/2013, giống ngô nếp lai HN90 (Công ty CP Giống cây trồng
trung ương) được công nhận sản xuất thử tại miền Bắc với những ưu điểm nổi
bật như: hình dạng cây đẹp, chống đổ tốt, bắp to và dài, năng suất bắp tươi khá
ổn định từ 90 -100 tạ/ha, ăn tươi ngon.
c. Tình hình sử dụng giống ngô nếp lai tại Việt Nam.
Theo Điều tra của Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống cây trồng trung
ương thì diện tích ngô nếp nước ta chiếm gần 10% diện tích trồng ngô cả nước.
10

cũng được nông dân trồng phổ biến như: Nếp lai số 1, MX2, MX4, MX10,
HN88, HN90…
2.2. Nguồn gốc, phân loại và đặc tính cây ngô nếp
Những nghiên cứu gần đây đã có những phát hiện về nguồn gốc cây ngô
như Rong-lin wang, Adrian Stec, Jody Hey, Lewis Lukens & John Doebly, 1999
cho rằng ngô được thuần hóa từ loài cỏ mexican hoang dại teosinte (Zea mays
ssp. Parviglumis hoặc ssp mexicana). Những bằng chứng khảo cổ học chứng
minh rằng thời gian thuần hóa ngô vào khoảng 5000 đến 10.000 năm trước đây,
mặc dù nguồn gốc gần đây của ngô từ teosinte, những cây này khác biệt sâu sắc
về hình thái. Một điểm khác biệt chủ yếu là teosinte điển hình có nhánh cờ dài
trên đỉnh bông cờ trong khi ngô có nhánh đỉnh cờ ngắn bằng bắp. Phân tích di
truyền nhận thấy rằng teosinte branched 1 (tb1) như là một gen tương hợp rộng
điều khiển sự khác biệt này.
Porcher Michel H và công sự cho biết ngô nếp đã được phát hiện ở
Trung Quốc từ năm 1909. Cây này biểu hiện những tính trạng khác thường các
nhà tạo giống ở Mỹ một thời gian dài sử dụng các tính trạng này là chỉ thị
những gen ẩn trong các chương trình chọn tạo giống ngô. Năm 1922 các nhà
nghiên cứu đã phát hiện nội nhũ của ngô nếp chỉ chứa amylopectin và không có
amylose ngược lại trong ngô thường có chứa cả hai. Đến tận đại chiến thế giới
thứ II nguồn amylopectin chính là từ sắn nhưng khi người Nhật cung cấp các
dòng ngô nếp thì amylopectin được sử dụng chủ yếu từ ngô nếp.
Có giả thuyết cho rằng ngô nếp có nguồn gốc ở Đông Nam Á mà
Trung Quốc, Miến Điện, Philipin là quê hương đầu tiên của nó. Nhưng sau
đó người ta thấy rằng đó là kết quả của một đột biến thông thường của các giống
ngô răng ngựa biểu hiện gen Wx xảy ra đột biến trong điều kiện trồng trọt không
bình thường tạo thành gen lặn wx, chúng có thể xuất hiện ở các vùng khác nhau
trên trái đất (Grebense 1954, dẫn theo Nguyễn Thị Lâm, 1997).
12
Ngô được chia thành một số nhóm chính quan trọng là:
- Ngô bột - Zea mays L. subsp. mays Amylacea Group

ngay cả có cách ly tốt và trong chọn lọc hạt gieo cũng cần loại bỏ tất cả hạt ngô
thường lẫn trong lô hạt hoặc hạt ngô nếp đã thay đổi do trôi dạt di truyền. Chất
lượng của ngô nếp cao hơn hạt ngô thường như Collins cho biết cao hơn khoảng
16 %, độ ẩm hạt ngô nếp cao hơn xấp xỉ 1% nhưng khá biến động như Gallais
nghiên cứu độ ẩm hạt tinh bột ngô nếp cao hơn ngô thường 2-3%.
Người ta cho rằng, năng suất của ngô nếp ưu thế lai cũng như ngô có chất
lượng protein cao có năng suất giảm đi so với bình thường. Nhưng những giống
nếp lai và các giống nếp thường khi nấu chín có độ dẻo, mùi vị thơm ngon, giá
trị dinh dưỡng cao. Chính vì vậy ngày nay ngô nếp góp phần không nhỏ trong
đời sống con người, nó được sử dụng làm lương thực và thức ăn chăn nuôi gia
súc, gia cầm. Một số nước ở Châu Á đang sử dụng rất thông dụng như: Hàn
Quốc, Philipin, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều quốc gia khác.
2.3. Tình hình nghiên cứu thời vụ gieo trồng ngô nếp ở Việt Nam
Gieo đúng thời vụ đối với ngô là rất cần thiết, gieo quá sớm gặp hạn, rét
ngô sinh trưởng và phát triển yếu. Đối với vùng cao gieo quá sớm không những
bị rét mà còn có thể bị mưa đá khi ngô mới mọc. Ngược lại gieo quá muộn đối
với ngô ruộng sẽ thu hoạch chậm làm trễ thời vụ cấy lúa. Thời vụ gieo ngô
ruộng thích hợp từ tiết lập Xuân (4/2) đến hết tháng 2 dương lịch (Nguyễn
Mộng,1968) [5]
Ngô là cây nhiệt đới, ưa ấm và ẩm, khi trời lạnh, ngô mọc và phát triển
kém. Tổng tích ôn của ngô khoảng 2000-2200
0
C đố với giống ngô ngắn ngày,
2400-2600
0
C đối với giống dài ngày (Lưu Trọng Nguyên, 1965; Đào Thế Tuấn,
1977; Trần Hữu Miện, 1987) [6], [8], [4].
Nhiệt độ trung bình ngày thích hợp cho ngô 22-28
0
C, dưới 18

C sau 15 ngày
mọc, ở nhiệt độ 8-10
0
C sau 27 ngày mới mọc (Trần Hữu Miện, 1987) [4].
Ngô là cây trồng cạn không đòi hỏi nhiều nước, tuy nhiên trong vòng đời
mỗi cây cũng cần khoảng 200-220 lít nước. Ở thời kỳ đầu, khối lượng chất xanh
của cây chỉ chiếm 1-2% so với cây trưởng thành, diện tích lá nhỏ, cây phát triển
chậm, nên không cần nhiều nước. Ở thời kỳ ngô 7-13 lá cần 35-38m
2
nước/ha/ngày (Trần Hữu Miện, 1987) [4]. Đây cũng là thời kỳ khủng hoảng
nước của ngô. Qua nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy nếu hạn với độ ẩm 40%
độ ẩm tối đa ở thời kỳ trỗ cờ đến kết hạt, sẽ ảnh hưởng tới năng suất nhất. Còn
nếu ẩm độ đất 50-60% thiếu 20% lượng nước cần, ở thời mọc đến 8 lá, không
những không giảm năng suất mà còn có chiều hướng tăng năng suất hơn đầy đủ
nước, bởi lẽ bộ rễ ngô được huấn luyện ngay từ đầu để phát triển xuống tầng đất
sâu dưới lòng đất để hút nước cung cấp cho cây. Tuy vậy ngô cũng là cây rất
nhạy cảm với việc thừa độ ẩm đặc biệt là giai đoạn cây còn nhỏ, khi điểm sinh
trưởng còn nằm dưới mặt đất. Qua nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy nếu giai
đoạn cây con, đất quá ẩm thì ngô bị chết hàng loạt hoặc sinh trưởng chậm, do
đất bí chặt làm cản trở tới sự phát triển của bộ rễ. Thời kỳ 10-15 lá nếu độ ẩm
đất 90-100%, đủ nước nhưng thiếu không khí, lá chuyển sang màu vàng, lá
mỏng, quang hợp giảm 30-35% so với độ ẩm đất 70-80%, cuối cùng năng suất
giảm 15-16% (Trần Hữu Miện, 1987) [4]. Vì vậy việc bố trí thời vụ thích hợp sẽ
né tránh được điều kiện ngoại cảnh bất thuận như hạn hoặc úng. Ở vùng Đông
Bắc, vụ ngô Thu nếu gieo quá sớm gặp mưa nhiều hạt rất dễ bị thối hoặc cây
con sinh trưởng kém.
15
Theo Ngô Hữu Tình (1997) [7] thời vụ gieo ngô ở một số vùng nước ta
như sau:
* Vùng đồng bằng sông Hồng và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc: Có 4 vụ

hạt.Kèm theo sâu bệnh hại nhiều như: sâu ăn lá, sâu đục thân…
Vào giai đoạn trỗ cờ, tung phấn thường gặp thời tiết bất thuận làm giảm
năng suất và chất lượng.
Khó khăn trong việc làm đất.
2.4.2. Biện pháp khắc phục
* Làm đất
Thực hiện triệt để kỹ thuật làm đất tối thiểu, lên luống cao , khoảng cách
trồng hợp lý, đảm bảo mật độ cây trồng và thoát nước tốt khi mưa lũ xảy ra.
* Bố trí giống, cơ cấu và thời vụ gieo trồng
- Về thời vụ: Kết thúc gieo trồng các giống ngô lai đơn trước 30/9, các
giống ngô nếp, ngắn ngày trước 10/10.
- Về cơ cấu giống: Sử dụng các giống có thời gian sinh trưởng ngắn cho
năng suất cao, chất lượng tốt như: NK4300, NK66, NK6654, , B21, CP999,
CP333, B06…, các giống ngô nếp lai HN88, MX4, MX6, MX10…
* Chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật:
Tăng cường công tác chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào
sản xuất ngô vụ đông.
* Kỹ thuật làm ngô bầu, ngô bánh, ngô mạ, kỹ thuật bón phân, phòng trừ sâu
bệnh, nhất là bệnh nghẹt rễ, huyết dụ ở giai đoạn đầu sâu cắn râu, đục thân giai
đoạn trỗ, sâu ăn lá…
* Đẩy nhanh việc ứng dụng kỹ thuật mới như: quy trình sử dụng phân viên nén
chậm tan.
17
- Làm tốt công tác tiêu úng đầu vụ, đáp ứng yêu cầu nước cho giữa và
cuối vụ đông, để khi gặp những trận mưa lớn đầu vụ đông, hoàn toàn có thể chủ
động rút kiệt nước trong thời gian cho phép. Đồng thời thực hiện các biện pháp
để phòng trừ sâu bệnh kịp thời.
2.5. Cơ sở khoa học của đề tài
2.5.1. Ưu thế lai và ứng dụng trong chọn tạo giống
Ưu thế lai là hiện tượng di truyền, trong đó con lai biểu hiện sức sống, các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status