BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*** NGUYỄN THỊ THUẬN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC,
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ DÒNG
CHÈ MỚI TẠI PHÚ HỘ PHỤC VỤ CHO CHẾ BIẾN
CHÈ XANH VÀ CHÈ OLONG CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN ĐÌNH VINH
triển Chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên tôi,
khích lệ để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên Nguyễn Thị Thuận
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
1.3. ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4
2.1.1. Cơ sở sinh học 4
2.1.2. Cơ sở sinh lý học 4
2.1.3. Cơ sở thực tiễn của sản xuất chè 5
2.2. Nguồn gốc, phân loại của cây chè 5
2.2.1. Nguồn gốc 6
4.2.1. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng thân cành của các dòng chè nhập nội
và lai tạo. 43
4.2.2. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng búp của các dòng chè nhập nội và lai tạo 45
4.3. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng chè nhập nội
và lai tạo. 50
4.4. Điều tra sâu bệnh hại của các dòng chè nhập nội và lai tạo 53
4.5. N ghiên cứu về chất lượng của các dòng chè nhập nội và lai tạo 55
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
5.1. Kết luận 68
5.2. Đề nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
2.1 Sản lượng chè thế giới trong những năm gần đây 11
2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng chè trong nước 12
4.1 Đặc điểm thân cành của các dòng chè nghiên cứu 34
4.2 Đặc điểm kích thước hình thái lá các dòng chè nghiên cứu 35
4.3 Đặc điểm hình thái lá của các dòng chè nghiên cứu 37
4.4 Đặc điểm kích thước búp của các dòng chè nghiên cứu 39
4.5 Đặc điểm hình thái búp của các dòng chè nghiên cứu 41
4.6 Đặc điểm cấu tạo hoa của các dòng chè nghiên cứu 42
4.7 Tình hình sinh trưởng của các dòng chè nghiên cứu 44
4.8 Đợt sinh trưởng và thời gian sinh trưởng của các dòng, giống chè
nghiên cứu 46
4.9 Động thái tăng trưởng chiều dài búp của các dòng chè nghiên cứu
(vụ xuân 2014) 47
lịch sử lâu đời. Theo Trà Kinh của Lục Vũ thì uống chè có từ thời Thần Nông cách
đây 4000 năm. Trải qua rất nhiều thăng trầm, song lịch sử của cây chè từ trước đến
nay là quá trình phát triển không ngừng. Từ lúc con người dùng sản phẩm sơ khai là
lá tươi, nụ hoa, đến nay con người đã phát hiện chè có rất nhiều công dụng: Là đồ
uống bổ dưỡng, có tác dụng chữa bệnh, kháng sinh tốt và làm thực phẩm tốt.
Cây chè chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế, xã hội của người dân Việt
Nam, không thể thiếu trong giao tiếp, lễ nghi, cưới xin, hội hè Ngoài ra, chè còn
là cây trồng cho sản phẩm xuất khẩu có giá trị kinh tế. Hiện nay, cây chè được coi
là cây xóa đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh
thái. Quy hoạch các vùng chè tập trung, bao gồm sản xuất nông nghiệp - dịch vụ, đã
hình thành các cụm dân cư, nhằm góp phần cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho
nhân dân, nhất là tại các vùng sâu vùng xa của đồng bào các dân tộc ít người ở
Trung du, miền núi Phía Bắc và Tây Nguyên.
Mặc dù đứng thứ 5 thế giới về diện tích và sản lượng chè nhưng đời sống của
người trồng và chế biến chè ở nước ta vẫn rất khó khăn do giá trị sản phẩm thấp,
thiếu sự đa dạng các mặt hàng sản phẩm. Xuất khẩu chè của Việt Nam chủ yếu là
chè đen, tỷ lệ các mặt hàng cao cấp có giá trị cao như chè xanh chất lượng cao hay
chè Olong còn rất thấp,… Một trong những nguyên nhân quan trọng đó là ở nước ta
còn thiếu các giống chất lượng cao.
Để nâng cao năng suất và chất lượng chè ở Việt Nam, đa dạng hóa sản
phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ
các biện pháp từ chọn tạo giống đến thâm canh, chăm sóc, chế biến, và thị trường.
Trong đó, công tác chọn tạo giống chè năng suất cao, chất lượng tốt luôn được quan
tâm hàng đầu. Trong những năm gần đây Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi
phía Bắc đã tiến hành đồng bộ các phương pháp chọn tạo và nhân giống, từ công tác
nhập nội giống chất lượng cao, chọn lọc cá thể, lai tạo, đột biến, thu thập bảo quản
nguồn gen.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
kiện sinh thái của các vùng chè. Từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng được
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, góp phần nâng cao thương hiệu cho
ngành chè Việt Nam.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.1. Cơ sở sinh học
Chè là loại cây giao phấn, tỷ lệ tạp giao lên đến 95% nên nếu trồng bằng hạt
thì tỷ lệ đồng đều của cây con rất thấp, cây con không giống cây mẹ về các đặc
điểm hình thái, các tính trạng về năng suất và chất lượng. Đây là đặc điểm có ý
nghĩa lớn về tính đa dạng sinh học, là nguồn vật liệu khởi đầu trong công tác chọn
tạo giống, đồng thời là điều chúng ta cần lưu ý trong sản xuất đặc biệt là trong việc
nhân giống. Cây chè từ khi tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới, đưa ra sản xuất
cần có thời gian dài. Do đó các nghiên cứu chè là sự kế thừa và phát triển nối tiếp
nhau, từ lựa chọn các cá thể tốt đến đánh giá khảo nghiệm về năng suất chất lượng
và qui trình trồng trọt chế biến không thể tách rời mà phải liên hoàn và kế tiếp nhau.
Để chọn lọc các giống chè mới, các nước áp dụng nhiều phương pháp khác nhau
như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây đầu dòng, lai hữu tính, nhập nội giống, gây đột
biến Trong đó phương pháp lai hữu tính và chọn lọc cá thể được chú ý và có nhiều
thành công nhất theo PGS, TS Vũ Thị Thư, TS Đoàn Hùng tiến và cs (2001).
2.1.2. Cơ sở sinh lý học
Chè là cây lâu năm, có chu kỳ sống rất dài có thể đạt 100 năm hoặc lâu hơn,
chia làm 2 chu kỳ phát triển là: chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ.
vùng có lợi thế, có giá trị kinh tế cao, được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường Trung
Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo và một số nước Đông Nam Á. Trong những
năm gần đây, chè Olong đang dần xâm nhập vào thị trường các nước Âu Mỹ,… và
là một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị.
Trong thực tế sản xuất hiện nay, các giống chè trong nước chủ yếu phù hợp
với chế biến sản phẩm chè đen, các giống phục vụ cho chế biến chè xanh đặc biệt là
chè xanh chất lượng cao và chè Olong còn rất hạn chế. Trong những năm
2000 - 2005, nhằm khắc phục tình trạng thiếu giống chè chất lượng cao, được sự chỉ
đạo của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp và PTNT, công tác chọn tạo giống chè
được đẩy mạnh, đồng thời vừa chọn tạo giống chè trong nước, vừa tăng cường việc
nhập nội giống từ nước ngoài. Cần nhanh chóng chọn tạo ra nhiều giống chè mới có
năng suất, chất lượng cao, phù hợp cho chế biến chè Olong để mở rộng diện tích,
thay thế dần các giống chè cũ năng suất, chất lượng thấp ở Việt Nam.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
2.2. Nguồn gốc, phân loại của cây chè
2.2.1. Nguồn gốc
Theo hai nhà thực vật học Condolk và Vavilov trên thế giới có 7 Trung tâm
chính phát sinh và phát triển cây trồng, trong đó có 3 Trung tâm ở châu Á, 2 Trung
tâm ở châu Mỹ và 1 Trung tâm ở châu Phi. Cây chè có nguồn gốc từ châu Á
(Đỗ Ngọc Quỹ, Đỗ Thị Kim Oanh, 2011).
Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của cây chè dựa trên những cơ
sở lịch sử, khảo cổ hay thực vật học.
- Cây chè có nguồn gốc từ Vân Nam, Trung Quốc: Các nhà khoa học Trung
Quốc như Su-Chen-Pen, Jao- Dinh cho rằng: Đầu tiên cây chè được mọc từ Vân Nam
sau đó hạt được di chuyển theo các dòng sông đến các nước khác và từ đó lan ra cả
vùng rộng lớn.
- Dựa trên cơ sở khoa học: “Trung tâm khởi nguyên cây trồng” thì cây chè có
nguồn gốc từ Trung Quốc, nó được phân bố ở các khu vực phía Đông và phía Nam,
nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu dinh dưỡng không thể chia ra được những nhóm riêng rẽ và
chuẩn xác, do đó đặc điểm sinh thực đã được nhiều tác giả đề xuất trong phân loại.
Đối với cây chè, bộ phận sinh thực ổn định hơn, trong đó hoa chè được xem là đặc
điểm phân loại chủ yếu, các chỉ tiêu được xem xét gồm: Cuống hoa, đài hoa, tràng
hoa, nhị hoa, nhụy hoa và tua đầu nhụy v.v.
Theo Cohen Stuart, C. P. (1916) phân loại cây chè thuộc ngành hạt kín
(Angiospermae), lớp hai lá mầm (Dicotyledonae), bộ chè (Theales), họ chè
(Theaceae), chi chè (Camellia), loài chè (Camellia sinensis) và tên khoa học là
Camellia sinensis (L) O. Kuntze.
Theo tác giả Ngô Phúc Liên, người Trung Quốc (2006) đã dựa vào đặc
điểm hoa chè, tập quán thân cành và lông của cành lá non để phân biệt các loài
chè như sau:
+ Loài Camellia tachangensis (Đại xưởng trà) có hoa to hoặc rất to, số cánh
hoa trên 10, cánh hoa xếp xít nhau, cánh hoa dày, hoa màu trắng, đài hoa không
lông, bầu nhụy không lông, đầu nhụy chia 5 hoặc 6, thân gỗ lớn hoặc nhỏ, cành chè
non không lông, búp tôm không lông, kích thước lá chè to hoặc rất to, vỏ quả dày
3 - 5 mm. Loài này không làm đồ uống, phân bố ở vùng phía Đông Vân Nam, Tây
Bắc Quảng Tây và Tây Nam Quý Châu của Trung Quốc.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
+ Loài Camellia taliensis (Đại lý trà) có hoa to hoặc rất to, số cánh hoa
10 - 13, cánh hoa xếp lên nhau, cánh hoa dày, hoa màu trắng, đài hoa không
lông, bầu nhụy có lông, đầu nhụy chia 5 hoặc 4, thân gỗ lớn hoặc nhỏ, cành chè
non không lông, búp tôm không lông hoặc ít, kích thước lá chè to hoặc rất to, vỏ
quả dày 2 -3 mm. Loài này uống không ngon, phân bố ở vùng phía Nam Vân
Nam của Trung Quốc.
+ Loài Camellia carassicoluma (Hậu trục trà) có hoa to hoặc rất to, số cánh
hoa trên 10, cánh hoa xếp xít nhau, cánh hoa dày, hoa màu trắng, đài hoa không
lông, bầu nhụy có lông, đầu nhụy chia 5 hoặc 4, thân gỗ nhỏ, cành chè non không
* Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla)
Chè Trung Quốc lá to thuộc dạng thân gỗ nhỏ, phân cành dày, lá to, trung
bình dài 12-15 cm, rộng 5 - 7 cm, răng cưa sâu không đều, đầu lá nhọn, búp to
trung bình có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp cho cả chế biến
chè xanh và chè đen. Chè Trung Quốc lá to có khá nhiều hoa, quả, có khả năng
chịu đất xấu. Nguyên sản của chè Trung Quốc lá to là ở Vân Nam, Tứ Xuyên -
Trung Quốc. Ở Việt Nam chè Trung Quốc lá to phân bố nhiều ở các tỉnh Trung du
như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái… nên còn được gọi dưới tên
khác là chè Trung Du (Lê Tất Khương, 1997).
* Chè Shan (Camellia sinensis var Shan)
Chè Shan có đặc điểm thân gỗ, phân cành thưa, trong điều kiện tự nhiên có
thể cao từ 6 - 10m, lá to dài, có nhiều răng cưa sâu đều, đầu lá nhọn, búp to, có
nhiều lông tơ trắng mịn, trông như tuyết cho nên chè Shan còn được gọi là chè
Tuyết. Chè Shan có thể cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp cho cả chế biến
chè xanh và chè đen. Chè Shan ít hoa, quả hơn chè Trung Quốc lá to, phân bố ở địa
hình núi cao, ẩm, mát. Nguyên sản của chè Shan là Vân Nam (Trung Quốc), Mianma,
và phân bố nhiều ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, ở cao nguyên Lâm Đồng
* Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var Assamica)
Là loại chè có dạng thân gỗ cao, to, lá to mặt lá gồ ghề, nhiều gợn sóng, dạng
lá bầu dục, búp to, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp cho chế
biến chè đen và chè xanh. Chè Ấn Độ ít hoa, quả, chịu rét kém, được trồng nhiều ở
Ấn Độ, Mianma,Vân Nam (Trung Quốc).
Ngoài bốn thứ chè trên, Việt Nam còn có rất nhiều dạng chè trung gian giữa
chè Trung Quốc lá to và chè Trung Quốc lá nhỏ, Trung Quốc lá to với chè Shan …
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Các giống chè lai đã tỏ rõ ưu thế trong sản xuất vì chúng được tích hợp bởi nhiều
gen quý của cả bố lẫn mẹ và ngược lại đã khắc phục được những nhược điểm vốn
có của giống bố, mẹ.
Thuý Ngọc, Thiết Quan Âm, Olong lá to,…
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
Các tỉnh Trung du như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh
Phúc, Bắc Giang nơi có độ cao so với mực nước biển dưới 500m, là nơi tập trung của
các giống thuộc thứ chè Trung Quốc lá to, chè Assamica (Ấn Độ) như: Giống Chè
Trung Du, giống PH
1
, PH11, LDP1, LDP2, PH8, PH9 và các giống chè lai khác.
2.3. Tình hình sản xuất chè trong nước và thế giới
2.3.1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới.
Chè là đồ uống phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, được sản xuất ở hơn 30
nước và có hơn 100 nước tiêu dùng chè với khối lượng lớn. Trên thế giới hiện có
khoảng 50 quốc gia sản xuất chè, trong đó Châu Á có 18 nước, Châu Phi có 19
nước, Châu Mỹ có 11 nước, Châu Đại Dương có 2 nước. Theo FAO (2014), sản
lượng chè thế giới trong 3 năm (2010 - 2012) được ghi ở bảng 2.1.
Bảng 2.1: Sản lượng chè thế giới trong những năm gần đây
(ĐVT: Tấn)
TT Quốc gia Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
1 Trung Quốc 1.450.000 1.623.000 1.700.000
2 Ấn Độ 991.182 966.733 1.000.000
3 Kenya 399.006 377.192 369.400
4 Srilanca 331.400 327.500 330.000
5 Thổ Nhĩ Kỳ 235.000 221.600 225.000
6 Việt Nam 198.466 206.600 216.900
7 Iran 167.717 103.890 158.000
8 Inđônêxia 150.342 150.200 150.100
9 Argentina 88.574 96.572 100.000
10 Các nước khác 560.564 551.114 568.718
Đơn vị
2008 2009 2010 2011 2012
Diện tích
(Nghìn ha)
108,8 111,4 113,2 114,4 115,96
Năng suất
(Tấn chè khô/ha)
1,59 1,67 1,75 1,81 1,87
Sản lượng
(Nghìn tấn chè khô)
173,5 185,7 198,466 206,6 216,9 Đứng thứ 5 thế giới về diện tích và đứng thứ 6 về sản lượng chè thế giới,
trong những năm gần đây, ngành chè Việt Nam có những chỉ tiêu phát triển mạnh
mẽ. Cụ thể, trong 5 năm (từ năm 2008 đến 2012) sản xuất chè cả nước tăng dần cả
về diện tích, năng suất và sản lượng.
Từ năm 2008 đến năm 2012, diện tích trồng chè trong cả nước liên tục được
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
mở rộng. Từ 108,8 nghìn ha năm 2008, đến năm 2012 mở rộng lên 115,96 nghìn ha,
tăng 7,16 nghìn ha (6,59%). Năng suất và sản lượng chè khô cũng liên tục tăng lên
đáng kể. Đến năm 2012, cả nước đạt năng suất trung bình 1,87 tấn/ha (tăng 17,6%
so với năm 2008) và sản lượng đạt 216,9 nghìn tấn (tăng 25% so với năm 2008).
2.4. Các Nghiên cứu về cây chè trong và ngoài nước
2.4.1. Nghiên cứu trên thế giới
2.5.1.1. Nghiên cứu về giống
Thế giới coi công tác chọn tạo giống chè là nhiệm vụ quan trọng nhất để tạo
ra các sản phẩm mới, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Mục tiêu của chọn giống
phương pháp lai hữu tính đã được áp dụng rộng rãi và thu được nhiều thành tựu.
- Theo tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Đỗ Thị Kim Oanh (2011) từ những năm 50
của thế kỷ 20, Ấn Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt, trong
đó có 102 giống chè được nhân bằng phương pháp vô tính. Đến năm 2003, Ấn Độ đã
có trên 80% diện tích chè được trồng bằng giống tốt chủ yếu là giống chè Assamica
được chọn lọc bằng phương pháp chọn lọc cá thể.
Theo Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương (2000), L. Rajanna and M. Ramakrishnan1
(2010) và S.M.Kamunya (2009), Ấn Độ, Nhật Bản, Srilanca, Trung Quốc, Gruria …
đã sử dụng công nghệ sinh học trong chọn giống chè tốt, dùng phôi non, phôi hom
bồi dưỡng thành cây chè hoàn chỉnh. Sử dụng phương pháp lai, sử dụng ưu thế lai để
tạo ra giống chất lượng cao phục vụ cho sản xuất.
Bằng phương pháp công nghệ sinh học năm 1990 Ấn Độ đã chọn ra dòng
tam bội TV29 có tiềm năng cho năng suất cao.
Bằng phương pháp chọn lọc cá thể tại Tocklai đã chọn ra các giống TV1,
TV23 có sản lượng và chất lượng khá.
Phương pháp lai hữu tính được Ấn Độ rất quan tâm đã chọn ra giống VTA
54 có năng suất và chất lượng khá. Từ cặp lai TV1/19,31,14 tại Tocklai đã chọn ra
giống TS449 có năng suất cao, chất lượng khá có khả năng chịu hạn tốt. Cũng bằng
phương pháp lai hữu tính đã chọn ra các giống TS450; TS462, TS463, TS464,
TS491 và TS520 đều là các giống sinh trưởng khoẻ có khả năng chịu hạn rất tốt
(Trịnh Khởi Khôi, Trang Tuyết Phong, 1997).
Công tác chọn dòng trên thứ chè Assamica cũng được Ấn Độ đẩy mạnh,
trong đó đã chú trọng chọn ra những giống chè thích nghi cho những vùng có độ
cao, độ ẩm khác nhau.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
- Nhật Bản là nước đầu tiên nhập giống chè từ Trung Quốc. Bắt đầu từ
những năm 1952, Nhật Bản đã xây dựng chế độ đăng ký các giống chè tốt, các Sở
Nông lâm các tỉnh đã đăng ký 33 giống tốt, trong đó chủ lực là giống Yabukita.
Page 16
sản xuất cần thời gian dài. Theo thống kê đến năm 1990 của 11 nước và khu vực
trồng chè trên thế giới có số lượng giống chè mới tạo ra là 446 giống, trong đó có 387
giống vô tính chiếm 77%, giống lưỡng hệ, đa hệ vô tính 22 giống chiếm tỷ trọng
4,93%, giống hữu tính chọn lọc 37 giống chiếm tỷ trọng 8,3%. Tỷ trọng phổ cập
giống chè tốt trong sản xuất cao nhất ở Trung Quốc và Đài Loan trên 90%, tỷ lệ phổ
cập giống mới ở Ấn Độ và Kênia cũng đạt tới 80% (Trịnh Khởi Khôn, Trang Tuyết
Phong, 1997). Để chọn lọc các giống chè mới, các nước cũng áp dụng nhiều phương
pháp khác nhau như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây đầu dòng, lai hữu tính, nhập nội
giống, gây đột biến, công nghệ sinh học, Trong đó phương pháp lai hữu tính và
chọn lọc cá thể được chú ý và có nhiều thành công.
2.4.1.2. Nghiên cứu đặc tính sinh vật học của cây chè
Các đặc điểm hình thái của cây chè (thân, lá, búp), đặc tính sinh trưởng của
cây chè, thời gian sinh trưởng (bắt đầu, kết thúc sinh trưởng búp …), số đợt sinh
trưởng búp/năm… có quan hệ chặt chẽ với khả năng cho năng suất và chất lượng
chè nguyên liệu. Do vậy nghiên cứu đặc tính sinh vật học cây chè nhằm tuyển chọn
giống chè tốt luôn được các nhà chọn giống trên thế giới quan tâm.
Nghiên cứu về sinh trưởng phát triển của cây chè, tác giả A.Alidatde (1964)
cho thấy sự hình thành các đợt sinh trưởng là: khi trên búp chè có 5 lá thì ở nách các
lá thứ nhất, thứ hai đã có những mầm nách, khi lá thứ 6 xuất hiện thì trên búp chè
có mầm nách thứ 3, khi lá thứ 7 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách lá thứ tư.
Ông cũng cho rằng: khi mầm chè qua đông có 2 lá đầu tiên bao bọc mầm chè là lá
vảy ốc, tiếp theo là lá cá. Những mầm nách của những lá vảy ốc, lá cá là các mầm
ngủ, các mầm nách của lá thứ 4 thứ 5 của đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển
thành búp của đợt sinh trưởng thứ 2.
Nghiên cứu thời gian hoàn thành một đợt sinh trưởng búp, các tác giả Carr
(1992), Squire (1979), Tan ton (1982) đã đưa ra giá trị trung bình là 47,5 ngày tuy
nhiên số ngày cho 1 đợt sinh trưởng biến động từ 30-42 ngày vào mùa hè và
70- 160 ngày vào mùa đông.
già và lá bánh tẻ. Nếu tỷ lệ lá già và lá bánh tẻ càng cao thì chất lượng nguyên liệu
chè càng giảm.
Ở Trung Quốc, Ấn Độ và Srilanka, dùng số lá nhiều hay ít đế xác định độ
non già và cũng thông qua đó mà đánh giá chất lượng nguyên liệu chè (Trạm
Nghiên cứu cây Á nhiệt đới, 2006).
- Để đánh giá chất lượng búp chè, người ta chủ yếu quan tâm đến hàm lượng
các chất tanin, catechine, chất hòa tan, axit amin, đường. Trong đó, các hợp chất
tanin, axit amin và đường có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng chè xanh và chè
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 18
oolong. Theo các tác giả Cuôcxanov 1952, Bacutrava 1958, Djemukhadze 1976,
hương và vị đặc trưng của chè được hình thành bởi tác dụng chủ yếu của tanin và
các sản phẩm oxy hoá của chúng. Hàm lượng tanin trong chè phụ thuộc nhiều yếu
tố khác nhau như giống chè, độ cao địa hình, chế độ canh tác, thời vụ thu hoạch, độ
non già của búp chè.
Mối quan hệ giữa axit amin và đường khử tới chất lượng chè xanh và chè
Olong được các nhà khoa học nghiên cứu về chè thống nhất như sau (Đỗ Văn Ngọc,
Trịnh Văn Loan, 2008): Búp chè, trong quá trình chế biến chè xanh, chè Olong
(nhiệt độ cao), axit amin tác dụng với đường để tạo thành các chất thơm (tạo ra mùi
thơm trong chè thành phẩm).
Tại Nhật Bản, theo Katsuyuki Yoshida (2008), các nhà chọn giống chè khi
chọn giống chỉ duy nhất theo hướng chế biến chè xanh. Chỉ tiêu quan trọng nhất khi
chọn ra giống chè tốt là có hàm lượng axit amin càng cao càng tốt, các giống chè
Nhật Bản phổ biến có hàm lượng axit amin từ 2,5 - 3%.
Các giống chè khác nhau có hàm lượng đường hòa tan cũng khác nhau, theo
Kharepbava G.L (1969) cho biết trong búp giống chè Grudia có hàm lượng đường
hoà tan trung bình đạt từ 2,5 - 3% khối lượng chất khô. Hàm lượng đường hòa tan
còn phụ thuộc vào độ non già của búp, thời vụ thu hoạch khác nhau.
2.4.1.5. Nghiên cứu các tính trạng có liên quan đến chất lượng