Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng của một số giống lúa ngắn ngày trên vùng đất cát pha trong vụ xuân 2014 tại thành phố Vinh, Nghệ An - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN NGỌC THẮNG
ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN,
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ
GIỐNG LÚA NGẮN NGÀY TRÊN VÙNG ĐẤT
CÁT PHA TRONG VỤ XUÂN 2014
TẠI THÀNH PHỐ VINH, NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NGỌC THẮNG
ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN,
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ
GIỐNG LÚA NGẮN NGÀY TRÊN VÙNG ĐẤT
CÁT PHA TRONG VỤ XUÂN 2014
TẠI THÀNH PHỐ VINH, NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Quang Phổ
NGHỆ AN - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là
do tôi thực hiện. Các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi
sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn.
Học viên

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1. Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới 4
1.1.1. Nghiên cứu về nguồn gốc, phân bố và phân loại cây lúa 7
1.1.2. Nghiên cứu đặc điểm di truyền của cây lúa 11
1.1.3. Các chỉ tiêu về chất lượng và đặc điểm di truyền 18
1.1.4. Nghiên cứu về các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây lúa 23
1.1.5. Nghiên cứu về khả năng thích ứng các điều kiện ngoại cảnh
của cây lúa 23
1.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở Việt Nam 28
1.2.1. Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam 28
1.2.2. Tình hình nghiên cứu lúa tại Việt Nam 30
1.3. Tình hình sản xuất lúa tại Nghệ An 34
Chương 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1.Vật liệu nghiên cứu 36
2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 36
2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu 37
2.3.1. Chỉ tiêu nghiên cứu sinh trưởng phát triển của các giống 37
2.3.2. Chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng, phát triển: 38
2.3.3. Chỉ tiêu về sinh lý và sinh hóa của các giống 39
2.3.4. Các chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 40
2.3.5. Chỉ tiêu nghiên cứu về khả năng chống chịu các điều kiện ngoại cảnh 41
2.3.6. Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại 42
2.3.7. Đánh giá chất lượng hạt của các giống lúa thí nghiệm 44
2.4. Quy trình kỹ thuật áp dụng 45
iii
2.5. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 45
2.6. Phương pháp xử lý số liệu: 45
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1. Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển 46
3.1.1. Tình hình sinh trưởng của mạ 46

5 Đ/C Đối chứng
6 HSQH Hiệu suất quang hợp
7 NSLT Năng suất lý thuyết
8 NSTT Năng suất thực thu
9 TGST Thời gian sinh trưởng
10 TKSTPT Thời kỳ sinh trưởng phát triển
11
o
C Độ C
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa của Việt Nam 2006÷2012 29
Bảng 1.2. Kết quả sản xuất lúa ở Nghệ An 2008÷2013 35
v
Bảng 3.1. Tình hình sinh trưởng giai đoạn mạ của các giống lúa tham gia thí nghiệm 46
Bảng 3.2. Sự tăng trưởng chiều cao qua các thời kỳ sinh trưởng của các
giống lúa tham gia thí nghiệm 48
Bảng 3.3. Số lá trên thân chính của các giống lúa tham gia thí nghiệm qua 51
Bảng 3.4. Diện tích lá (LA)của các giống lúa tham gia thí nghiệm…………….52
Bảng 3.5. Chỉ số diện tích lá của các giống lúa tham gia thí nghiệm 53
Bảng 3.6. Khả năng tích luỹ chất khô của các giống tham gia thí nghiệm 54
Bảng 3.7. Hiệu suất quang hợp của các giống tham gia thí nghiệm 56
Bảng 3.8. Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa tham gia thí nghiệm 57
Bảng 3.9. Khả năng đẻ nhánh và tỷ lệ thành bông của các giống lúa
tham gia thí nghiệm 59
Bảng 3.10. Thời gian từ bắt đầu đến kết thúc các thời điểm sinh trưởng
phát triển của các giống lúa thí nghiệm 60
Bảng 3.11. Tình hình sâu bệnh hại của các
giống lúa tham gia thí nghiệm 65
Bảng 3.12. Khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất thuận 68
Bảng 3.13.

phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, cung cấp nguyên liêu cho công nghiệp và
là sản phẩm hàng hóa xuất khẩu chính ở nhiều nước trên thế giới.
Ở Việt Nam là một nước có vị trí địa lý nằm trọn trong vùng nội chí tuyến
Bắc bán cầu có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Là vùng có điều kiện khí hậu nóng ẩm
nên rất thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng phát triển. Với diện tích lãnh thổ trải dài
trên 15 vĩ độ từ Bắc vào Nam (8
0
30

N÷22
0
23

N) đã hình thành nên những châu
thổ phì nhiêu cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm chủ yếu cho hàng chục
triệu người trên cả nước và cho ngành công nông nghiệp xuất khẩu. Hiện tại, lúa
có diện tích và sản lượng lớn nhất trong các cây lương thực ở Việt Nam, có vai
trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là nguồn xuất khẩu lớn thu
ngoại tệ cho đất nước năm 2012 xuất khẩu 7,2 triệu tấn gạo, thu về 3,7 tỷ đô la
(Tổng cục Thống kê 2012).
Nghệ An có diện tích đất tự nhiên là 1.648.821 ha, đất sản xuât nông
nghiệp trong đó diện tích sản xuất lúa nước năm 2005 là 104.439 ha và đến năm
2010 là 101.515 ha giảm 2.924 ha. Đối với sản xuất lúa nước nghệ An cơ cấu hai
mùa chính là vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu. Do thời gian gần đây có hiện tượng
2
thời tiết cực đoan, lũ lụt hạn hán xẫy ra thường xuyên, khí hậu thay đổi thất
thường và xuất hiện một vùng tiểu khí hậu mới đó là thời gian mùa đông rút ngắn
lại và thời gian chiếu sáng dài hơn, nắng nhiều hơn và lượng mưa phân bố không
đều đã gây ra hiện tượng hạn hán nghiêm trọng rồi có thời điểm lại gây mưa to
và kéo dài trong nhiều giờ liền gây ngập úng cục bộ và trên toàn vùng, đây là

tham gia nghiên cứu.
- Từ kết quả của vụ Xuân 2014, lựa chọn ra được những giống có triển
vọng, phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương và khu vực để bổ sung vào
bộ giống lúa năng suất, chất lượng của Nghệ An.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
- Giống là yếu tố hàng đầu quyết định đến năng suất của cây trồng, đồng
thời cũng là yếu tố có tầm quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Giống có năng
suất cao, chất lượng tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho sản xuất. Kết
quả nghiên cứu sẽ góp phần mô tả, đánh giá đặc trưng hình thái, sinh trưởng, phát
triển, năng suất và phẩm chất của một số giống lúa mới ngắn ngày có triển vọng để
làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo.
- Kết quả nghiên cứu sẽ giúp bổ sung các dẫn liệu khoa học cho bộ giống
lúa ngắn ngày có năng suất, chất lượng cao ở Nghệ An.
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp thêm một số giống lúa mới
ngắn ngày có giá trị kinh tế cho địa phương để cơ cấu vào sản xuất đại trà nhằm
nâng cao sản lượng trên đơn vị diện tích và chất lượng nông sản, góp phần tăng
thu nhập cho người trồng lúa ở Tỉnh Nghệ An.
4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới
Cùng với sự phát triển của loài người, nghề trồng lúa được hình thành và
phát triển. Trình độ thâm canh cây lúa của nông dân ngày một nâng cao. Các
giống lúa địa phương không ưa thâm canh, khả năng chống chịu kém, năng suất
thấp đã không đáp ứng được nhu cầu lương thực cho toàn cầu. Vì thế việc tạo ra
các giống lúa có năng suất cao, ưa thâm canh, thích nghi với điều kiện sinh thái
từng vùng là vấn đề hết sức cần thiết. Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) trải
qua hơn 40 năm tồn tại và phát triển đã lai tạo, trên 40.000 dòng theo các hướng
khác nhau chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt trồng phổ biến trên thế giới. Các

bước ngoặt to lớn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc nói riêng và
trên toàn thế giới nói chung [54]. Những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21
Trung Quốc tập trung vào việc lai tạo các giống lúa lai 2 dòng và đang hướng tới
tạo ra các giống lúa lai 1 dòng siêu cao sản (siêu lúa) có thể đạt năng suất 18
tấn/ha/vụ. Nhờ đó đã làm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của Trung Quốc,
góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho một nước đông dân nhất thế giới. Các
giống lúa lai của Trung Quốc được tạo ra trong thời gian gần đây đều có tính ưu
việt hơn hẳn về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu, bệnh. Các
giống lúa lai như: Nhị ưu 838, Khải Phong 1, Nhị Ưu 986, D. Ưu 725. D. Ưu 527.
Ấn Độ là một nước có diện tích trồng lúa đứng đầu thế giới đồng thời Ấn
Độ cũng là nước đi đầu trong cuộc “cách mạng xanh” về việc đưa các tiến bộ
khoa học kỹ thuật nhất là giống mới vào sản xuất, làm nâng cao năng suất và sản
lượng lúa gạo của Ấn Độ. Viện nghiên cứu giống lúa Trung ương của Ấn Độ
được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa là nơi tập trung nghiên cứu,
lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản xuất. Bên cạnh đó Ấn Độ cũng là nước có
giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên thế giới như giống lúa: Basmati,
Brimphun có giá trị rất cao trên thị trường tiêu thụ. Ấn Độ cũng là nước nghiên
cứu lúa lai khá sớm và đã đạt được một số thành công nhất định, một số tổ hợp
6
lai được sử dụng rộng rãi như: IR58025A/IR9716, PMS8A/IR46, ORI 161, ORI
136, 2RI158, 3RI 160, 3RI 086, PA-103
Nhật Bản và Hàn Quốc là nơi có diện tích trồng lúa ít nhưng năng suất
bình quân cao. Nhật Bản có 2 triệu ha, Hàn Quốc có 1,2 triệu ha nhưng năng suất
đạt trên 60 tạ/ha [55]. Có được kết quả đó là do cây lúa được gieo trồng trong
điều kiện thời tiết thuận lợi nhất, công tác giống lúa của Nhật cũng được đặc biệt
chú trọng nhất là các giống chất lượng. Các nhà khoa học Nhật Bản đã lai tạo và
đưa vào sản xuất các giống lúa vừa có năng suất cao, chất lượng tốt như
Koshihikari, Sasanisiki, Koenshu, đặc biệt ở Nhật đã lai tạo được 2 giống lúa
có mùi thơm đặc biệt, chất lượng gạo ngon và năng suất cao như giống:
Miyazaki1 và Miyazaki2. Cho đến giờ các giống này vẫn giữ được vị trí hàng

chất tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, thâm canh.
1.1.1. Nghiên cứu về nguồn gốc, phân bố và phân loại cây lúa
* Nguồn gốc cây lúa
Về nguồn gốc cây lúa, nhiều tác giả trên thế giới đã đề cập tới nhưng cho
đến nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau. Phần lớn các tác giả khảo cổ cho
rằng cây lúa có nguồn gốc ở vùng đầm lầy Đông Nam Á, là cây dễ dàng cho
năng suất cao và có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất trong các loài cây lương thực
khác. Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 100 nước trồng lúa. Vùng phân bố
khá rộng, cây lúa có thể trồng từ 53 vĩ độ Bắc đến 35 vĩ độ Nam bán cầu. Nhưng
do điều kiện thâm canh mỗi nước, mỗi vùng khác nhau nên có sự chênh lệch khá
lớn về diện tích, năng suất và sản lượng.
Tác giả Bùi Huy Đáp, (1999) [14], đã khái quát về lịch sử cây lúa như sau:
Tổ tiên xa xưa của cây lúa trồng ngày nay là cây lúa hoang dại sống
ở châu Á và châu Phi. Ở châu Á qua các hình thái lúa dại con người đã thuần hóa
và tuyển chọn thành cây lúa châu Á (Oryza sativa L.). Ở châu Phi cũng từ các
hình thái khác nhau của lúa dại con người cũng đã thuần hóa và tuyển chọn để
trở thành cây lúa châu Phi (Oryza glaberrima). Như vậy, chúng ta có thể thấy
rằng cây lúa nước có nguồn gốc từ lúa hoang dại.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, vấn đề nguồn gốc của cây lúa đã
được thảo luận rất nhiều, với sự tham gia của nhiều ngành khoa học khác nhau
8
như khảo cổ học, di truyền học, sinh thái học, … vẫn còn nhiều bàn luận về
nguồn gốc của cây lúa nhưng người ta vẫn khẳng định lúa là cây trồng cổ, có vai
trò quan trọng bậc nhất với con người.
* Phân bố của cây lúa
Cây lúa có thể thích nghi rộng trong nhiều điều kiện khác nhau về sinh
thái: Nhiệt đới xích đạo, cận nhiệt đới, nhiệt đới, … và tại những vùng trồng lúa
này lại hình thành nên nhiều loại hình sinh thái mới khác nhau.
Tuy nhiên, đối với lúa trồng châu Á thì khả năng thích ứng rộng hơn, nên đã
sớm du nhập sang châu Âu, châu Đại Dương và kể cả châu Phi. Còn lúa trồng châu

năng suất và sản lượng lúa không ngừng được tăng lên.
Vào năm 1960 diện tích trồng lúa trên thế giới mới chỉ có 134.390 triệu
ha, năng suất 20,3 tạ/ha; sản lượng 308.767 triệu tấn. Nhưng đến năm 1992 diện
tích trồng lúa trên thế giới đã tăng lên 197.168 triệu ha; năng suất đạt 35,7 tạ/ha;
sản lượng đã tăng lên 523.475 triệu tấn. Có một số điển hình về sản xuất lúa gạo
như: Úc đạt năng suất 67 tạ/ha, Nam Triều Tiên đạt 63 tạ/ha, Mỹ đạt 49,8 tạ/ha.
Theo nghiên cứu của Viện lúa Quốc tế IRRI năm 1990 thì nước có diện tích
trồng lúa lớn nhất là Ấn Độ 42,2 triệu hecta, Trung Quốc 33,1 triệu ha, Đinh Văn
Lữ, (1978) [32].
* Phân loại cây lúa
Giống lúa trồng ngày nay bắt nguồn từ các giống lúa hoang dại, xuất hiện
từ xa xưa nên việc phân loại là rất khó khăn.
Đã có nhiều nghiên cứu về sự phân loại của cây lúa. Năm 1753 ông
Lineaeus đã liệt kê chỉ có một loài sativar trong genus này. Sau đó năm 1833, một
số nhà xếp loại khác đã thu được nhiều loại khác nhau, có từ nhiều nguồn gốc khác
nhau trên thế giới. Qua phân loại lúa là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tìm
ra các nguồn vật liệu phục vụ cho công tác giống, đặc biệt là trong lai lúa. Đồng
thời phân loại lúa đã giúp các nhà khoa học tìm ra nhiều hơn các nguồn gen làm
phong phú vật liệu di truyền. Và tất cả với mục đích giữ gìn nguồn gen và tạo ra
ngày một nhiều hơn các giống lúa tốt, theo mục đích của con người. Có những
cách phân loại cây lúa sau:
- Dựa vào sự thích nghi với điều kiện điều ngoại cảnh, người ta phân thành:
10
Lúa rẫy: Là những giống lúa có thể chịu hạn tốt, canh tác chủ yếu dựa vào
nước mưa.
Lúa tưới tiêu: Trồng ở vùng có nhiệt độ thích hợp hoặc nhiệt độ thấp.
Lúa ruộng nước trời: Lúa ruộng cạn (5÷25 cm), sâu vừa (25÷50 cm),
thường bị hạn hoặc bị ngập nước.
Lúa thuỷ triều: Lúa nước ngọt, mặn phèn và than bùn.
Lúa nước sâu: Lúa ruộng cạn (25÷50 cm), sâu (50÷100 cm) và thật sâu

Oryzasatival là một loài lưỡng bội, có số lượng nhiễm sắc thể đơn bội n =12 và
lưỡng bội 2n = 24, có 8 loài lúa dại có nhiễm sắc thể 2n = 48.
Những năm gần đây các nhà khoa học nông nghiệp quan tâm đến những
tính trạng quan trọng của cây lúa như: hình thái cây, chiều cao cây, tính chống
chịu, yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng gạo đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.
* Thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng của cây lúa tính từ nẩy mầm cho đến khi chín, dao
động 90÷180 ngày, tùy vào từng giống và điều kiện ngoại cảnh. Thời gian sinh
trưởng của cây lúa còn phụ thuộc vào thời vụ gieo cấy có điều kiện ngoại cảnh
khác nhau. Ở miền Bắc do thời tiết biến động trong năm, nhất là nhiệt độ nên
thời gian sinh trưởng cũng thay đổi theo thời vụ cấy. Nắm được quy luật thay đổi
thời gian sinh trưởng của cây lúa là cơ sở để xác định thời vụ gieo cấy, cơ cấu
giống, luân canh tăng vụ ở các vùng trồng lúa khác nhau.
Thời gian sinh trưởng của cây lúa do nhiều gen điều khiển nên di truyền
số lượng được biểu hiện rất rõ khi nghiên cứu phổ phân ly ở F2 của con lai giữa
giống có thời gian sinh trưởng ngắn với giống có thời gian sinh trưởng dài. Trong
quần thể F2 có nhiều cá thể sinh trưởng ngắn hơn và dài hơn hẳn bố mẹ (Nguyễn
Hồng Minh, 1999) [36].
*Chiều cao cây lúa
Chiều cao cây là một chỉ tiêu hình thái liên quan đến nhiều đặc tính như:
khả năng đẻ nhánh, chịu úng, chịu thâm canh, đặc biệt là tính chống đổ (Bùi Huy
Đáp, 1980) [13]. Theo Guliaeb và Gujop (1978) [54] xác định có 4 gen kiểm tra
chiều cao cây. Khi nghiên cứu các dạng lùn tự nhiên và đột biến, ông nhận thấy có
trường hợp tính lùn được kiểm tra bằng một cặp gen lặn, có trường hợp cả hai cặp
12
và đa số trường hợp do 8 cặp gen lặn kiểm tra là d1, d2, d3, d4, d5, d6, d7, d8.
Các nhà khoa học tại IRRI (1970) [57] khẳng định rằng: “Các giống lúa
lùn có nguồn gốc từ Trung Quốc (Dee - geo - Wao - gen, I - geo - fze) chúng
mang gen lùn, lặn nhưng không ảnh hưởng gì đến chiều dài bông, rất có ý nghĩa
trong chọn giống”.

nước tưới.
*Bộ lá lúa và khả năng quang hợp
Bộ lá lúa là một đặc trưng hình thái giúp phân biệt các giống khác nhau,
đồng thời lá lúa là cơ quan thực hiện chức năng quang hợp.
Theo Nguyễn Hữu Tề và cộng sự (1997) [39] cho rằng trong một phạm vi
nhất định có mối tương quan thuận giữa diện tích lá và lượng quang hợp. Hệ số
diện tích lá phụ thuộc vào giống (hình dạng lá đứng hay lá rủ, mật độ cấy, lượng
phân bón).
Nguyễn Văn Hiển (2000) [20] cho biết: lá đứng thẳng được kiểm tra bởi
một gen lặn có hệ số di truyền cao, cặp gen này có tác dụng đa hiệu vừa gây nên
thân ngắn, vừa làm cho bộ lá đứng cứng.
Độ dài lá có quan hệ đa hiệu với gen xác định chiều cao cây, nhưng bị chi
phối mạnh bởi điều kiện ngoại cảnh (IRRI, 1970) [57].
Độ dày lá, góc lá có quan hệ chặt chẽ với khả năng kháng sâu bệnh, khả
năng quang hợp và ảnh hưởng đến năng suất lúa.
Tính trạng lá đòng dài, đứng di truyền độc lập với gen lùn kiểm tra độ dài
thân và độ dài các lá phía dưới (IRRI, 1970) [57].
*Tính ngủ nghỉ của hạt
Tính ngủ sinh lý của hạt đa gen. Sự ngủ nghỉ kéo dài và ngủ từng phần là
trội so với không ngủ, tính ngủ có liên kết với tính phản ứng quang chu kỳ và di
truyền độc lập với các tính trạng chín sớm, kiểu cây, kiểu hạt và chất lượng hạt
(Nguyễn Văn Hiển, 2000) [12].
*Về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
- Số bông trên đơn vị diện tích
- Số hạt trên bông
- Số hạt chắc trên bông
14
- Khối lượng 1000 hạt.
Trong các yếu tố trên thì số bông có tính quyết định và hình thành sớm
nhất, yếu tố này phụ thuộc nhiều vào mật độ cấy, khả năng đẻ nhánh, khả năng

tốt để có năng suất cuối cùng cao.
Theo Yosida (1979) [53] các giống lúa thấp cây, ngắn ngày là hướng chọn
tạo giống lúa mới trên thế giới, do đó có những ưu điểm sau:
- Các giống chín sớm có tổng tích ôn nhỏ hơn.
- Các giống thấp cây có chiều hướng đẻ nhánh nhiều hơn nên dẫn đến
năng suất cao hơn.
- Những giống này có phản ứng đạm cao, lá thẳng, ngắn, hẹp, dày, xanh
đậm, chịu thâm canh cao.
- Giống có thân ngắn, cứng giúp cây lúa chống đổ.
* Độ xếp sít hạt/bông và bông hữu hiệu/khóm
Khi nghiên cứu về các yếu tố cấu thành năng suất thì số hạt trên bông
cũng là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến số hạt trên bông và mật độ hạt
trên bông.
Theo Chang T (1970) thì Locus "DN" chi phối cách sắp xếp hạt trên bông.
Theo Dzuba (1976), Trần Duy Quý (1997) [38] thì bông ngắn hạt xếp sít do hai
gen lặn chi phối Dt, Dn, Lp và Lx.
Ở điều kiện tối ưu trong các yếu tố cấu thành năng suất thì số bông/m
2
đóng góp khoảng 75% năng suất, cũng theo Chang T.T (1970) [8] thì số lượng
bông hữu hiệu trên khóm do 3 đến 5 locus kiểm tra tính trạng này.
* Tính trạng chín sớm
Tính trạng chín sớm cũng do nhiều gen qui định, trong đó có gen trội Ef
có trong giống CI
11037
Gen này được phân ly độc lập với gen sd
1
và gen không râu
(gl). Gen chín sớm rất dễ phát hiện, chỉ cần điều tra trước khi hoa nở vài ngày là
phát hiện ra.
* Tính chống chịu sâu bệnh

MacKill và Bonman (1992) thì tính chống bệnh đạo ôn hoàn toàn có thể do gen
trội, trội không hoàn toàn hoặc do gen lặn quy định. Theo Kinoshita (1991),
MacKill và Bonman 1992) thì có ít nhất 30 locus gen kháng bệnh đạo ôn đã được
phát hiện. Trong số này có 20 gen chính và 10 gen quy định tính giả định số

Trích đoạn Khả năng chống chịu sâu bệnh hại Khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất thuận Một số đặc trưng hình thái của các giống lúa thí nghiệm Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa Một số chỉ tiêu về phẩm chất gạo của các giống lúa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status