Ảnh hưởng của gibberellin đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng của xà lách vụ Xuân - Hè 2008 tại thành Phố Huế - Pdf 68

PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu được trong bữa ăn hàng ngày
của mỗi người Việt. Theo (2002) và ICARD (2004) thì hầu hết các hộ gia đình
đều tiêu thụ lượng rau tăng hơn so với năm trước đó. Các loại rau được tiêu thụ
nhiều nhất là rau muống (95% số hộ), cà chua (88%). Hộ gia đình Việt Nam tiêu
thụ trung bình 71kg rau quả/người/năm, trong đó rau chiếm 3/4.
Xà lách (Lactuca sativa L.) là loại rau ăn sống phổ biến, có giá trị dinh
dưỡng cao, cung cấp cho cơ thể người các chất khoáng, enzim, hợp chất hữu cơ,
đặc biệt nguồn vitamin E và C phong phú và rẻ tiền. Ngoài ra, trong xà lách còn
chứa chất lactucarium có hoạt tính sinh học cao, có tác động đến thần kinh, làm
giảm đau và gây ngủ. Xà lách còn có tác dụng giải nhiệt, kích thích tiêu hóa, lợi
sữa, trị ho, suy nhược tâm thần, táo bón, thấp khớp. Từ cây xà lách có thể chiết
ra một loại dịch như nhựa để chế thành xirô hoặc để khô làm thành viên thuốc
chữa bệnh. Xà lách là loại rau được làm xa lát quan trọng nhất. Xà lách quyết
định chất lượng của hỗn hợp rau tươi và tính ngon miệng, nên được người tiêu
dùng ưa chuộng, nhu cầu và khả năng tiêu thụ quanh năm rất lớn.
Xà lách là loại rau ăn lá có đặc điểm sinh trưởng như: cây thấp; rễ ngắn, ăn
nông; có thể trồng dày; có khả năng cho năng suất cao; thích ứng rộng trên nhiều
vùng sinh thái; ít sâu bệnh; thời gian sinh trưởng ngắn ngày, quay vòng/6 - 7 lần/
năm... nên mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nếu được đầu tư thâm canh đúng mức,
đẩy mạnh trồng xà lách là điều kiện sử dụng có hiệu quả các loại đất, góp phần
cải tạo đất trong chế độ luân canh thích hợp, tận dụng được sức lao động ở địa
phương, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo thêm nhiều sản
phẩm cho xã hội, đáp ứng nhu cầu rau xanh tại chỗ ngày càng cao của nhân dân.
Tuy nhiên, xà lách yêu cầu đất tơi xốp, thoáng khí, giàu chất dinh dưỡng,
yêu cầu ẩm độ cao trong suốt chu kỳ sinh trưởng. Thêm vào đó việc khó bảo
1
quản khi di chuyển xa đã làm cho xà lách khan hiếm và có giá trị cao trên thị
trường miền Trung.

1.2. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây xà lách
trồng trên đất thịt nhẹ dưới ảnh hưởng của GA
3
.
- Xác định được nồng độ GA
3
phù hợp cho xà lách khi trồng trên đất thịt
nhẹ ở Thành Phố Huế.
- Xác định được nồng độ GA
3
phù hợp cho sự nảy mầm của hạt và sinh
trưởng của cây xà lách con.
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu về khả năng sinh trưởng và năng
suất xà lách dưới ảnh hưởng của GA
3
trên đất thịt nhẹ và xử lý GA
3
đến sự nảy
mầm của hạt và sinh trưởng của cây con trên đĩa petri và cốc nhựa.
- Thời gian nghiên cứu:
+ Thí nghiệm 1: từ ngày 23 đến ngày 28 tháng 3/2008
+ Thí nghiệm 2: từ ngày 27 đến ngày 2 tháng 4/2008
+ Thí nghiệm 3: từ ngày 16/4 đến ngày 6/5/2008
- Địa điểm:
+ Thí nghiệm 1và 2: tiến hành trong phòng.
+ Thí nghiệm 3: vùng đất thịt nhẹ tại phường Tây Lộc – Thành phố Huế.
1.4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Ý nghĩa khoa học:

Dưới lớp cúc: Asteridae
Bộ cúc: Asterales
Họ cúc: Compositae
Chi: Lactuca, có số lượng nhiễm sắc thể là 8, 9, 17 cặp.
Có rất nhiều loài hoang dại được sử dụng như nguồn chống chịu sâu bệnh.
Giống xà lách (Lactuca sativa L.) có khoảng 300 loại, có 7 cấp độ nhiễm sắc thể
như 2n = 10, 16, 18, 32, 34, 36, 48, vv...Nhưng chỉ có 4 loại được công nhận từ
việc thành lập nhóm nhân giống hữu ích bởi các phương pháp đã có ở giai đoạn
1940 - 1960. Các loài đó là:
+ Lactuca sativa: là loài thông dụng nhất, có nhiều dạng khác nhau, năng
suất cao phẩm chất ngon được người dân ưa thích và được trồng rộng rãi ở nhiều
nơi.
+ Lactuca serriola: loại này có hạt rất nhỏ, mầm hình thành ngay ở thân, lá
tương đối nằm ngang có thể có răng cưa ở mép lá hoặc bản lá hình cánh hoa
hồng.
4
+ Lactuca saligna: bản lá trải ngang và có răng cưa.
+ Lactuca virosa: có hạt và phẳng, lá có màu xanh lục nhạt có cả dạng hai
năm và hàng năm. Mỗi loài có 2n = 18. L. sativa và L. serriola giao phấn tự
nhiên với nhau và có thể được xếp cùng một loài. L. saligana và L. virosa khác
nhau rõ rệt. L. saligana trông giống L. serriosa nhưng chúng có thể phân biệt
bằng nhiều đặc điểm hình thái học.
- Các giống xà lách: xà lách không cuốn mùa đông và xà lách cuốn ăn ngon,
giòn, năng suất cao, thời gian sinh trưởng dài, được người dân ưa chuộng. Ngoài
ra còn có giống xà lách thu hoạch về mùa Hè, loại này được trồng ở vùng Tây
Tựu – Hà Nội.
- Rau diếp: có 2 loại
+ Rau diếp xoắn: năng suất cao, ăn ngon, giòn, được người dân ưa thích,
trồng nhiều.
+Rau diếp thẳng: lá vàng hoặc lá xanh, bản lá mỏng, chịu nóng, gân đắng;

B
1
(mg) - - 0,14
B
2
(mg) - - 0,12
PP (mg) - - 0,70
Tro (g%) - - 0,8
Xellulose (g%) - - 0,5
Ca (mg) 20,16 50,0 77,0
Fe (mg) 0,62 0,7 0,9
P (mg) - - 34,0
K (mg) 162,4 - -
Thiamin (mg) - 0,09 -
Riboflavin - 0,13 -
(Nguồn: viện ung thư Mỹ 1998; viện dinh dưỡng quốc gia Ấn Độ 1980; thành
phần hoá học thức ăn Việt Nam, 1980)
6
- Giá trị kinh tế
Xà lách chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu cây lương thực, thực phẩm
nói chung và các loại rau nói riêng. Cây lương thực như: Lúa, ngô, cao lương,
khoai, sắn... chủ yếu cung cấp năng lượng cho con người. Cây thực phẩm bao
gồm các loại đậu, rau, gia vị... nhằm bổ sung chất dinh dưỡng các loại.
Trong các loại rau thì xà lách có diện tích trồng nhiều nhất nên chiếm một
vị trí đáng kể trong cơ cấu cây rau các loại. Với khoảng thời gian sinh trưởng
đến thu hoạch ngắn, xà lách thường được trồng gối vụ, trồng xen giữa 2 vụ cây
lương thực như ngô, khoai, sắn... Nhờ vậy nó góp phần tăng thu nhập cho nông
dân, tạo thêm việc làm cho hàng trăm người lao động ở khu vực nông thôn. Xà
lách còn giúp đất được luân canh với giai đoạn ngắn để đất có thời gian tiêu huỷ
chất hữu cơ và phục hồi dinh dưỡng đất với loại cây trồng chính ở vụ tiếp theo.

và dẹt, có màu nâu vàng.
2.1.4. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây xà lách
Đối với xà lách, tuỳ giống mà lá có thể cuốn hay không cuốn, mép lá có
răng hay không có răng. Thân xà lách thuộc loại thân thảo và có một loại dịch
trắng như sữa dùng làm thuốc. Cây có bộ rễ phát triển nhanh.
- Yêu cầu về nhiệt độ:
Xà lách có nguồn gốc ôn đới, ưa nhiệt độ thấp. Tuy nhiên trong quá trình
trồng trọt, chọn lọc và thuần hoá, ngày nay cây xà lách có thể trồng được trên
nhiều vùng khí hậu khác nhau như nhiệt đới, cận nhiệt đới. Để cây sinh trưởng
tốt thì nhiệt độ thích hợp là 13 - 16
0
C. Nhiệt độ ngày và đêm rất quan trọng cho
sinh trưởng phát triển của xà lách. Nhiệt độ ngày và đêm thích hợp là 20/18. Xà
lách cuốn phát triển được trong khoảng 10 - 27
0
C.
- Yêu cầu về ẩm độ:
Cũng như các loại rau nói chung xà lách rất cần nước để phát triển do cây
có bộ lá lớn, tốc độ thoát hơi nước cao. Tuy nhiên nếu mưa kéo dài hay đất úng
nước sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng phát triển xà lách. Để đảm bảo nhu cầu
nước cho cây sinh trưởng tốt, ẩm độ thích hợp trong khoảng 70 - 80%.
8
- Yêu cầu về ánh sáng:
Ánh sáng là yếu tố quan trọng cho sự sống của thực vật. Đối với xà lách
ánh sáng thích hợp là ánh sáng vùng cận nhiệt đới với cường độ khoảng 17000
lux và 16 giờ. Để xà lách sinh trưởng bình thường và cho năng suất cao yêu cầu
thời gian chiếu sáng 10 - 12 giờ/ngày. Cường độ chiếu sáng không chỉ ảnh
hưởng đến quá trình tổng hợp chất hữu cơ cho cây, giúp cây tăng nhanh sinh
khối mà còn ảnh hưởng đến sự hình thành hoa.
- Yêu cầu về dinh dưỡng:

(triệu tấn)
Toàn thế giới 17999009 138,829 249,879
Trung Quốc 8266500 171,790 142,000
Ấn Độ 3400000 102,941 35,000
Việt Nam 525000 133,500 7,008
Philippin 500000 88,000 4,400
Liên Bang Nga 207000 162,802 3,370
Hàn Quốc 195000 318,966 6,219
Brazin 195000 115,385 2,250
Băngladét 150000 62,800 0,942
Thái Lan 145000 162,802 2,361
Italia 144000 180,556 2,600
Nhật Bản 110000 280,412 3,084
Phần Lan 75000 200,000 1,500
Hoa Kỳ 11050 771,801 0,853
(Nguồn: FAO,2006)
Từ bảng 2.2 cho thấy:
Diện tích trồng rau trên thế giới năm 2005 đạt 17.999.009 ha. Trong đó
nước có diện tích trồng rau lớn nhất là Trung Quốc với đến 8.266.500 ha, đứng
thứ hai thế giới về diện tích trồng rau là Ấn Độ với là 3.400.000 ha. Việt Nam là
một trong những nước có diện tích trồng tương đối lớn, 525.000ha, đứng thứ 3,
sau Trung Quốc và Ấn Độ. Bên cạnh các nước có diện tích trồng rau lớn thì cũng
có không ít nước có diện tích trồng rau nhỏ như Hoa Kỳ (11.050 ha), Phần
10
Lan(75.000 ha), Nhật Bản là nước có nhu cầu rau lớn nhưng diện tích trồng chỉ
110.000 ha.
Trong những năm gần đây cùng với sự thay đổi chủng loại rau và quá trình
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản suất đã làm năng suất rau của nhiều
nước trên thế giới tăng đáng kể. Ở một số nước, tuy có diện tích trồng không lớn
song lại cho năng suất khá cao như: Hoa Kỳ (778,01tạ/ha), Nhật Bản

Châu Âu 99357 26102 121 23153 102427
Châu Đại Dương 3321 419 -7 691 3042
(Nguồn: FAO, 2006)
Ở một số nước diện tích trồng rau không lớn nhưng năng suất lại đạt rất cao
như: Nhật Bản (245,5 tạ/ha), Hoa Kỳ (516,8 tạ/ha). Theo Gansen, năm 1992 nhu
cầu rau bình quân cho một người là 200 g/ngày, mức tiêu thụ đầu người là 73 kg/
năm (1996) và ngày có xu hướng tăng.
Bảng 2.4: Tiêu thụ rau tính theo đầu người trong ngày ở một số nước
Nước Rau (g/người/ngày) % so thế giới
Thế giới 250 100
Liên Xô(cũ) 564 225
Trung Quốc 280 112
Nhật Bản 197 71
Việt Nam 177 71
Ý 167 66
Ấn Độ 135 54
Pháp 122 49
Srilanca 120 48
Pakistan 69 27
(Nguồn: FAO, 1999)
Trước nhu cầu rau ngày càng tăng, một số nước trên thế giới đã có chính
sách nhập khẩu rau. Năm 2005, nước nhập khẩu rau nhiều rất thế giới là Pháp
12
(145,224 nghìn tấn); tiếp theo là các nước như: Canada (143,332 nghìn tấn); Anh
(140,839 nghìn tấn); Đức (116, 866 nghìn tấn). 5 nước chi tiêu cho nhập khẩu
rau lớn trên thế giới là: Đức (149.140 nghìn USD); Trung Quốc (80.325 nghìn
USD); Pháp (132.942 nghìn USD); Canada (84.496 nghìn USD); Nhật Bản
(75.236 nghìn USD).
2.2.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu rau ở Việt Nam
- Tình hình sản xuất:

(1000 tấn)
1999 2005 1999 2005 1999 2005
Cả nước 459,6 635,1 126,0 151,8 5792,2 9640,3
Đồng bằng sông Hồng 126,7 158,6 157,0 179,9 1988,9 2852,8
Trung du miền núi
Bắc Bộ
60,7 91,1 105,1 110,6 637,8 1008
Bắc Trung Bộ 52,7 68,5 81,2 97,8 427,8 670,2
Duyên hải nam
Trung Bộ
30,9 44,0 109,0 140,1 336,7 616,4
Tây Nguyên 25,1 49,0 177,5 201,7 445,6 988,2
Đông Nam Bộ 64,2 59,6 94,2 129,5 604,9 772,1
Đồng bằng sông
Cửu Long
99,3 164,3 136 166,3 1350,5 2732,6
(Nguồn: http://www.rauhoaquavietnam.vn)
Rau quả nước ta tuy đa dạng, phong phú và có diện tích lớn. Nhưng sự phát
triển chưa theo yêu cầu của thị trường, quy trình canh tác chưa đồng đều, nhiều
nơi còn lạc hậu. Mặc dù sản xuất rau phân bố đều trong cả nước, nhưng đa số
phát triển với diện tích manh mún, nhỏ lẻ. Phần lớn rau không đáp ứng được yêu
cầu của thị trường về chất lượng, kích thước, hình dạng, số lượng nên không đủ
tiêu chuẩn xuất khẩu.
- Tình hình tiêu thụ
Một số nghiên cứu về tình hình tiêu thụ các loại rau của Việt Nam trong
thời gian qua cho thấy rau là sản phẩm khá phổ biến trong các hộ gia đình.
Thành phần tiêu thụ rau thay đổi theo vùng, đậu, su hào và cải bắp là những loại
rau được tiêu thụ rộng rãi ở miền Bắc. Rõ nét nhất có thể thấy là trường hợp su
hào với trên 96% số hộ nông thôn ở miền núi phía bắc và Đồng Bằng Sông Hồng
tiêu thụ nhưng dưới 15% số hộ ở miền Đông Nam bộ và Đồng Bằng Sông Cửu

42 nước và vùng lãnh thổ thì đến năm 2004 chỉ còn lại 39 nước và năm 2005
còn lại 36 nước. Sự suy giảm này có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu vẫn là
do sản xuất manh mún, số lượng không tập trung, giá cao, đặc biệt lượng dư
thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép.
Bảng 2.8: Tình hình tiêu thụ rau trên đầu người ở Việt Nam
15
Năm
Dân số
(triệu người)
Tiêu thụ
(kg/người/năm)
Diện tích trồng
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
2000 82,10 82,30 500.000 135,20 6.760,00
2005 88,50 96,30 600.000 140,00 8.520,00
2010 95,80 105,90 700.000 145,00 10.105,00
(Nguồn: FAO, 2000)
* Tình hình sản xuất rau xà lách ở Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế năm trong khu vực bắc miền Trung, đây là vùng đang gặp
nhiều khó khăn, đất đai kém phì nhiêu, khí hậu khắc nghiệt. Tuy vậy, đây cũng
là vùng đa dạng về loại cây trồng nói chung và cây rau nói riêng vì là nơi giao
thoa gữa khí hậu hai miền Nam Bắc. Diện tích sản xuất rau toàn tỉnh Thừa Thiên
Huế trên 4.700 ha, song phân bố không đều, manh mún, nhỏ lẻ, sản xuất mang
tính thời vụ. Cơ cấu giống rau còn nghèo nàn, rau muống là loại rau phổ biến,
chiếm khoảng 32% diện tích (năm 2005), các loại rau còn lại được gieo trồng
phổ biến gồm: rau ăn lá (cải bẹ xanh, xà lách, tần ô, rau má, rau dền...và một số

A Lưới 138 158 65,5 66,7 904 1.054
(Nguồn: niên giám thống kê Thừa Thiên Huế, 2006)
Tóm lại diện tích rau của miền Trung chiếm 20% so với cả nước nhưng sản
lượng chỉ chiếm 11,2 %, điều đó chứng tỏ năng suất rau bình quân của các tỉnh
miền Trung thấp hơn năng suất rau của cả nước. Sản xuất rau trong vùng chủ yếu
là phục vụ tại chỗ, sản xuất rau ở đây hiện chỉ mới đáp ứng 40-50% nhu cầu,
lượng thiếu hụt được bổ sung từ nguồn rau của miền Bắc, Đà Lạt, thậm chí từ
nguồn nhập khẩu [13].
2.2.3. Tình hình nghiên cứu rau, xà lách trên thế giời và Việt Nam
* Trên thế giới:
17
Trong lĩnh vực sản xuất rau, trên thế giới có nhiều công trình và nhiều tác
giả nghiên cứu về rau. Cùng với việc thay thế dần tập quán canh tác rau, nhiều
nước đã chọn lựa được nhiều dòng giống rau phong phú, có chất lượng, năng
suất cao đáp ứng được các điều kiện canh tác và nhu cầu tiêu dùng trên thế giới.
Một trong những cơ quan nghiên cứu về rau đó là Trung tâm Nghiên cứu và Phát
triển rau Châu Á (AVRDC) đã nghiên cứu và phân phối nhiều nguồn gen rau có
uy tín cho các nước và địa phương trên thế giới. Đến năm 1993, có 67 quốc gia
trên thế giới đã dùng mẫu và giống rau của AVRDC, 17.618 mẫu rau được phân
phối ra thị trường và 5.390 mẫu rau được trung tâm AVRDC thu nhập để sử
dụng vào mục đích nghiên cứu.
AVRDC cũng đã có 40.000 giống biểu tượng cho sự độc nhất về giá trị
nguồn giống rau trên thế giới và đã tiến hành khảo sát những đặc tính các giống
rau ở Malaisia, Indonedesia, Philippin và Thái Lan. Ngoài ra, AVRDC đã có sự
hợp tác quốc tế ở Nhật về nguồn di truyền rau trong chu trình bảo tồn, đánh giá
và sử dụng nguồn rau, một mạng lưới canh tác ở miền nam Châu Á.
Về rau xà lách, E. D. Ward J. Ryder đã có nhiều nghiên cứu về giống rau xà lách
trên thế giới. Theo ông có 5 dòng xà lách phổ biến là:
Xà lách quắn đầu (Crisphead)
Xà lách La Mã (Romaine or cos)

dọc các khe suối (A Lưới, Nam Đông).
Một số đối tượng rau được nghiên cứu có kết quả tốt và được ứng dụng vào
sản xuất như so sánh giống, kỹ thuật canh tác, sử dụng chất kích thích sinh
trưởng, phủ luống cho rau từ năm 1996.
Nghiên cứu khu vực hóa một số giống nhập nội như giống dưa chuột, giống
bắp cải, giống ớt ngọt, giống ngô bao tử với mục đích thay thế một số giống địa
phương đã thoái hóa và đưa một số giống mới vào sản xuất.
Mới đây khoa Nông học đã triển khai đề tài đưa giống ngô bao tử vào sản xuất
tại xã Hương Long và bước đầu đánh giá giống ngô bao tử thích nghi với khí hậu
thổ nhưỡng vùng đất này, là cây có giá trị kinh tế cao.
19
Với sụ giúp đỡ của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển rau Châu Á
(AVRDC), từ năm 2000 nhóm nghiên cứu rau của khoa Nông học, trường Đại
học Nông Lâm Huế đã triển khai nhiều đề tài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực sau:
Nghiên cứu về giống rau: nghiên cứu tập đoàn các giống ớt cay, dưa chuột,
đậu cô ve, cà tím, cà chua, đậu tượng rau, ngô bao tử, …
Nghiên cứu về giống và kỹ thuật: sử dụng thuốc hóa học phòng trừ bệnh
thán thư trên cây ớt, héo dây trên dưa hấu, sử dụng phân khoáng cho dưa hấu.
Nghiên cứu liều lượng phân khoáng đối với hành hoa làm giống, thời vụ mật độ
đối với hành hoa, nghiên cứu hệ thống cây rau trên đất cát, tập đoàn giốmg ớt, cà
chưa nhập nội tại Thừa Thiên Huế,…
Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp lót Polyethylen đến sinh trưởng và
năng suất xà lách trồng trên đất cát biển Sơn Trà- Đà Nẵng.[4]
Nguyễn Văn Định, 1999 [6] điều tra tính đa dạng, thu thập, định danh một
số giống rau và thực vật sử dụng làm rau ở huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí
Minh trong mùa mưa. Kết quả điều tra, thu được 44 loài thuộc nhiều họ khác
nhau. Nhóm rau thu hái từ cây trồng có mục đích khác, có 5 loài như: cóc, điều,
khế, bắp chuối hột và chuối hột. Nhóm thu hái từ thực vật trong vườn nhà gồm
18 loài, 16 giống thuộc 13 họ. Nhóm rau thu hái từ thiên nhiên có 40 loài, 35
giống thuộc 28 họ. Tương tự, nghiên cứu tại Thừa Thiên Huế và Quảng Trị,

80%, người Kinh ăn rau trồng nhiều hơn, tỉ lệ rau hoang chỉ chiếm từ 10 - 30%.
Ở Đồng bằng Sông Cửu Long mức độ tiêu thu rau ít hơn, một phần rau ở sông
nước tươi hơn, tỉ lệ loại bỏ ít, mức độ tiêu thụ sắc dân được ước lượng là 0,25
kg/người/ngày. Trong đó rau hoang dã chiếm 50% [10]
Vũ Quang Hưng, khảo sát sự nảy mầm của một số hạt giống rau tại thành
phố Hồ Chí Minh, các loại hạt rau nảy mầm thấp và một số không nảy mầm, tùy
theo loại bao bì chứa hạt mặc dù chưa quá hạn sử dụng. Nguyên nhân chính là do
trong điều kiện tồn trữ ở nhiệt độ cao đã làm giảm sức nảy mầm của hạt. Các
loại bao bì tồn trữ hạt như bao bì thiếc, bao nhôm, chai thủy tinh đều bị ảnh
hưởng của nhiệt độ cao làm giảm tỷ lệ này mầm. [9]
Phan Thị Thu Hằng, Nguyễn Đình Mạnh. Tìm hiểu hiện trạng sản xuất rau
tại thành phố Thái Nguyên nhận thấy xu thế chung của nền sản xuất thâm canh là
việc sử dụng với lượng lớn và mất cân đối các loại phân hóa học, thời gian cách
ly đạm ngắn hơn nhiều so với qui định, đây là vấn đề phổ biến tại các vùng trồng
rau ở Thái Nguyên, thêm vào đó là thuốc bảo vệ thực vật với nhiều chủng loại
và liều lượng cao đã ảnh hưởng đến chất lượng rau. Trong tổng số mẫu điều tra
21
có đến 90% mẫu rau có hàm lượng NO
-
3
vượt quá qui định 2 - 11 lần, 100% mẫu
kiểm tra đều phát hiện kim loại nặng (Pb, Cd) hầu hết đều có một kim loại nặng
vượt quá qui định. [8]
Đông Sĩ Toàn điều tra thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại Thừa
Thiên Huế [19]. Nhận thấy chủng loại rau hiện có khá đa dạng, phong phú gồm
có 51 loại rau, trong đó phổ biến nhất là rau ăn lá và ăn quả với 17 loại. Có nhiều
loại rau có giá trị kinh tế cao như: mướp đắng, hành lá, ngò, đậu cô ve, đậu bắp,
cải. Nhưng chủng loại rau an toàn ít và không đa dạng, qua điều tra chỉ có nhóm
rau ăn lá gồm rau cải, xà lách là chủ yếu, rau gia vị chỉ có ngò, Prô và hành lá;
rau ăn quả có đậu cô ve, cà tím, đậu bắp, một số rau khác như xà lách xoong,

(auxinoxydaza, flavinaxydaza) khử tác nhân kìm hãm hoạt động của auxin.
Hiệu quả rõ rệt nhất của GA là kích thích mạnh mẽ sự sinh trưởng về chiều
cao của thân, chiều dài của cành, rễ, sự kéo dài của lóng cây hòa thảo. Hiệu quả
này có được là do ảnh hưởng kích thích đặc trưng của GA lên sự giãn theo chiều
dọc của tế bào (tăng auxin về vùng sinh trưởng mạnh).
GA có hiệu quả trong việc phân hóa giới tính, ức chế sự hình thành hoa cái
và kích thích hình thành hoa đực. Có thể sử dụng GA để tăng tỉ lệ hoa đực cho
cây có hoa đực hoa cái riêng biệt như bầu bí...
Gibberellin kích thích sự nảy mầm, chồi của hạt và củ. Do nó có tác dụng
phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ của chúng. GA có tác dụng hoạt hóa sự hình thành
các enzim thủy phân trong hạt như
α
-amylaza. Enzim này sẽ xúc tác phản ứng
biến đổi tinh bột thành đường, tạo điều kiện cho sự nảy mầm..
Trong nhiều trường hợp, GA có hiệu quả kích thích sự ra hoa. Theo học
thuyết của Trailakhian thì GA là một trong hai thành phần của horcmon ra hoa
(florigen) là GA và antesin. GA cần cho sự hình thành và phát triển của cuống
hoa, còn antesin cần cho sự phát triển của hoa. Xử lý GA có thể làm cho cây
ngày dài ra hoa trong điều kiện ngày ngắn hoặc làm cho bắp cải, su hào ra hoa
trong điều kiện Việt Nam.
Gibberellin ảnh hưởng rõ rệt đến trao đổi chất và các hoạt động sinh lí trong
cây do chúng có tác dụng điều hòa sinh tổng hợp tế bào, nảy mầm, ra hoa.
23
Trong sự sinh trưởng của quả và tạo quả không hạt thì GA có vai trò gần
giống với auxin. Một số cây trồng có phản ứng đặc hiệu với GA như nho, anh
đào...Trong việc sản xuất nho, biện pháp xử lý GA có ý nghĩa quan trọng việc
tăng tỉ lệ đậu quả và quả không hoặc ít hạt, tăng năng suất quả.
Gibberellin được sử dụng có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp. Người ta
tổng hợp GA bằng cách nuôi cấy nấm Gibberellin fujikura trong môi trường rồi
chiết thành gibberellin dạng thương phẩm.

phương pháp giâm cành để kích thích ra rễ. [19]
Tiêm, chích lên cây: thường dùng trong chiết cành cây giống, làm cho cành
mau ra rễ. Áp dụng trong công tác nghiên cứu để so sánh, xác định hiệu quả của
chất điều hòa sinh trưởng ở các nồng độ khác nhau. [19]
Bôi lên cây: khi các phương pháp trên không thực hiện được thì người thực
hiện phương pháp bôi trực tiếp dung dịch lên cây. Chất điều hòa sinh trưởng có
thể được nhào trộn với các chất mang khác nhau như cao lanh … thành một chất
dẻo để đắp lên cây. Trường hợp này thường dùng để chiết cành cây giống, tạo
cho cành chiết nhanh ra rễ.
2.4. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
2.4.1. Cơ sở lý luận
- Tăng khả năng nảy mầm của hạt xà lách:
+ Ở Thừa Thiên Huế vào vụ Xuân – Hè thường gặp thời tiết nắng nóng và
khô hạn nên tỷ lệ nảy mầm của hạt xà lách thấp, khoảng 40%.
+ Việc đóng gói hạt xà lách trong bao thiếc giảm tỷ lệ nảy mầm do trong
bao nhiệt độ tự nhiên cao.
+ Gibberellin được sử dụng để xử lý cho một số loại rau khó nảy mầm như
cà rốt, su hào, hành. Kết quả xử lý GA trước khi gieo đã làm tăng tỷ lệ nảy mầm
của cà chua hồng 11%, su hào Sa Pa 18,5% và cải xanh 7%.[16]
25

Trích đoạn Ảnh hưởng của GA3 đến tăng trưởng chiều cao cây xà lách Ảnh hưởng của GA3 đến tăng trưởng chiều rộng lá xà lách Ảnh hưởng của GA3 đến hàm lượng sắc tố và axít hữu cơ Ảnh hưởng của GA3 đến một số chỉ tiêu sinh trưởng thu hoạch Ảnh hưởng của GA3 đến năng suất và hiệu quả kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status