Tiểu thuyết “Giông Tố” - Pdf 29

I Lí do chọn đề tài:
Trong tác phẩm văn học “Thành phần cơ bản của lời văn nghệ thuật
là lời gián tiếp – lời người kể chuyện, người trần thuật và lời trực tiếp – lời
nhân vật, được tổ chức theo cách thức hoạt động giao tiếp – lời đối thoại,
lời độc thoại” (21, 130).Bởi ngôn ngữ chỉ tồn tại, nhận biết và bộc lộ bản
chất thông qua việc hành chức của nó. Như vậy, lời nhân vật là một trong
nhưng thành phần có vị trí quan trọng trong toàn bộ lời văn nghệ thuật nó
là “phương diện quan trọng của tính tạo hình khách thể trong tác phẩm tự
sự và kịch” (43, 30). Đặc biệt”trong sử thi và tiểu thuyết, truyện vừa và
truyện ngắn, các lời đối thoại và độc thoại của các nhân vật chiếm mọt bộ
phận đáng kể, có khi là rất lớn của văn bản” (43, 30)
Lời kể là lời gián tiếp, là lời văn bản đảm đương chức năng trần thuật,
giới thiệu, miêu tả, bình luận con người và sự kiện là lời của người trần
thuật, người kể chuyện (46, 178) thì lời nhân vật là lời trực tiếp lời thoại là
hình thức kể bằng lời nhân vật, lời thoại còn được gọi là lời trực tiếp của
nhân vật trong văn học, là “hình thức kể chuyện cá thể hoá triệt để tính
cách và tình huống đối thoại” (46, 65) hai thành phần này được xây dựng
dựa vào chủ thể phát ngôn.
Nếu như nhân vật trong văn học trung đại thường mang tính chât ước
lệ, trang trọng thể hiện nhân vật đày tính khuôn mẫu của thời đại, thì đến
văn học hiện đại nói chung, Vũ Trọng Phụng nói riêng, nó đã đạt đến yêu
cầu cá thể hoá tới mức, người đọc chỉ cần nhắc tới những “Mẹ kiếp! Em
chã! Thế thì nước mẹ gì! …” là có thể nhớ ngay đến nhân vật nêu trong
cuốn truyện nào của ai.
Có lẽ cho đến nay không ai có thể phủ nhận vị trí và vai trò của Vũ
Trọng Phụng. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, nhà văn ấy có tính
sáng tạo và phong cách nghệ thuật độc đáo tạo ra tạng riêng cho nhưng
trang viết của mình. “Hiện tượng phức tạp” một thời ấy cho đến bây giờ
vẫn không ngừng thu hút những nhà nghiên cứu, phê bình khai thác, khám
phá. Bởi tác phẩm của ông mở ra những giá trị không cùng. Đó là sức ám
ảnh của những câu văn sắc nhọn như roi quất vào chế độ xã hội đương thời.

dường như được gắn vào đó.
Tính sư phạm của việc nghiên cứu đặc trưng nghệ thuật của lời nhân vật
trong “Giông tố” cũng là một lí do chúng tôi chọn lựa đề tài này. Thực tế
giảng dậy một tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông luôn đi từ nội
dung đến hình thức, phân tích “bổ ngang” ( tuần tự theo trình tự tuyến tính
của ngôn từ) hay “bổ dọc” (theo khía cạnh nội dung tác phẩm) ít nhiều đều
tách rời “ngữ” ra khỏi “văn”. Lời văn nói chung, lời nhân vật nói riêng giúp
học sinh cảm nhận cái hay cáo đẹp của một lớp ngôn từ sống động. Từ đó
nắm bắt giá trị tác phẩm, không chỉ là nội dung hình thức, mà còn là cả đặc
điểm phong cách tác giả. Học sinh có thể đối thoại với nghệ sĩ (về tư
tưởng), tạo tiếp văn bản (đồng sáng tạo) và nâng cao tính thẩm mỹ trong lời
nói của chính mình…
II. Lịch sử vấn đề:
Tiểu thuyết “Giông Tố” bắt đầu đăng trên Hà Nội báo từ số 1, ra
ngày 1/1/1936. Được 11 số thì tạm dừng; ít lâu sau lại đăng tiếp (vẫn ở báo
trên) nhưng với tên Thị Mịch. Năm 1937, tác phẩm được NXB Văn Thanh
in thành sách với cái tên ban đầu là “Giông Tố” (Theo 26, 264).
Ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm đã gây tiếng vang lớn, thu hút
nhiều bút mực quan tâm. Tới nay đã không ít công trình nghiên cứu về
sáng tác. Vũ Trọng Phụng nói chung, tiểu thuyết này nói riêng, chủ yếu
xoay quanh 3 nội dung; nhưng tính hiện thực sâu sắc, khả năng bao quát
hiện thực và nghệ thuật xây dựng điển hình Nghị Hách. Trong phần lịch sử,
ở phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến những ý kiến thuộc hướng
nghiên cứu lời văn và cụ thể là lời nhân vật “Giông Tố”.
Nhận xét về lời văn lối viết, Phạm Thế Ngũ đánh giá Tác phẩm là
“cây bút tả chân già dặn, linh hoạt như chụp được sự thật, trong những mẩu
đối thoại,nhưng xen con con không cần giải thích và bình luận mà tự nó nói
lên tất cả một ý nghĩa” (37, 513), hoặc “ Khi dừng lại 1 xen, lột trần 1 bộ
mặt, phơi ra ánh sáng một khía cạnh bẩn thỉu, bề ngoài cũng như bên trong,
ngòi bút ông nói rõ rệt cái linh hoạt, cái sắc sảo, đôi khi tàn nhẫn của nó (

Tới những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu lời văn nghệ
thuật hay đặc điêm ngôn từ nằm rải rác chủ yếu ở ba tiểu thuyết hiện thực
của Vũ Trọng Phụng. Đáng chú ý là các luận án, luận văn: Đặc trưng ngôn
ngữ tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ( Hà Công Tài), Tiếng cười Vũ Trọng
Phụng qua một số tác phẩm tiêu biểu ( Nguyễn Quang Trung) cùng các
luận văn: Những nét đặc sắc trong nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng (
Nguyễn Mạnh Quỳnh). Những đặc điểm cơ bản trong lời văn nghệ thuật
của Vũ Trọng Phụng (Châu Minh Hùng) – luận văn thạc sĩ ngữ văn,H,
2000; đặc biệt là luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Nguyễn Văn Phượng
với đề tài “ Ngôn từ nghệ thuật trong tiểu thuyết và phóng sự của Vũ Trọng
Phụng”, H, 2001)… Những tài liệu này đã cung cấp một lượng thông tin
đáng kể có liên quan đến đề tài chúng tôi đang xem xét.
Nguyễn Quang Trung, trong luận án “ tiếng cười Vũ Trọng Phụng
qua một số tác phẩm tiêu biểu” đã đề cập đến những vấn đề ngôn ngữ và
giọng điệu trào phúng của ông. Tác giả chú ý đến lời văn nghệ thuật của
Vũ Trọng Phụng trên cơ sở lý thuyết về ngôn ngữ tiểu thuyết cuả Bakhtin:
“ phát ngôn nghệ thuật trở thành điểm hội tụ của nhiều tiếng nói xã hội
khác nhau, đối tượng được soi chiếu từ nhiều điểm nhìn khác nhau và giữa
các tiếng nói ấy, tiếng nói nghệ sĩ đóng vai trò liên kết chúng, tạo thành bè
đệm cho tiếng nói của anh ta, giọng tác giả mật vai trò độc tôn để hoà vào “
cuộc đối thoại lớn” ( chữ dùng Bakhtin) một cách bình đẳng và dân chủ.
Đấy cũng là đặc điểm của lời văn nghệ thuật Vũ Trọng Phụng, là cơ sở để
một số nhà nghiên cứu cho rằng tác phẩm của ông là đa thanh, đa âm, đa
giọng” (61, 89).
Trong luận án “ Nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng”, tác giả
Đinh Trí Dũng đã phân tích về chức năng của các kiểu lời nói (đối thoại,
độc thoại, độc thoại nội tâm) trong quan hệ với hình tượng nhân vật của Vũ
Trọng Phụng: đối thoại lặp lại các từ, mệnh đề quen thuộc; đối thoại hỗn
loạn trong một đám đông, đối thoại trong đó nhân vật thường nhại lại ngôn
ngữ của một nhân vật khác. Các nhân vật không sử dụng ngôn ngữ thật sự

văn bản ngôn từ rất mới mẻ và độc đáo.
Những nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu thực sự là những
đóng góp hết sức quý báu vào việc thẩm thấu giá trị văn chương của Vũ
Trọng Phụng. Nó định hướng và mở ra con đường nghiên cứu, hướng suy
nghĩ để các nhà phê bình tiếp tục khơi sâu thêm.
Nhìn chung, những ý kiến về ngôn ngữ nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng
đều chú ý đến mối quan hệ giữa các kiểu lời nói và hình tượng nhân vật,
quan niệm nghệ thuật của tác giả. Trên cơ sở những hướng đi trên, chúng
tôi tiến hành tìm hiểu đặc trưng nghệ thuật của lời đối thoại trong “Giông
Tố”(Vũ Trọng Phụng).
III. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu của khoá luận.
1. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trên cơ sở lý thuyết về các kiểu lời nhân vật, người viết tiến hành tìm hiểu
đặc trưng nghệ thuật của lời nhân vật trong tác phẩm “ Giông Tố”( Vũ
Trọng Phụng), qua sự khảo sát, phân loại, phân tích, đánh giá. Mặt khác
chúng tôi đặt lời nhân vật trong mối quan hệ với kiểu nhân vật tương ứng.
2. Mục đích, yêu cầu:
- Tìm hiểu đặc trưng nghệ thuật của lời nhân vật trong một tác phẩm, cụ
thể là tiểu thuyết Giông Tố, góp phần nhận diện phong cách tác giả vể
phương diện ngôn từ, từ đó đánh giá vai trò, vị trí cũng như những đóng
góp về giá trị nghệ thuật của nhà văn đối với nền văn học nước nhà.
IV. Giới hạn vấn đề
Nếu nghiên cứu đầy đủ lời văn nghệ thuật thì phải nghiên cứu cả lời
người kể và lời nhân vật. Nhưng trong phạm vi một khoá luận chúng tôi chỉ
nghiên cứu một thành phần của nó là lời nói nhân vật, nhằm khai thác một
khía cạnh trong phong cách tác giả.
V. Phương pháp nghiên cứu.
VI. Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tham khảo, phần nội dung
khoá luận của chúng tôi bao gồm 3 chương.

ngôn từ nghệ thuật, một thành tố mà chức năng là tái tạo sự giao tiếp bằng
lời nói của các nhân vật.” (5, 26). Thuật ngữ này cũng được giải thích là: “
một trong các dạng thức của lời nói trong đó có sự hiện diện của người nói
và người nghe và mỗi phát ngôn đều trực tiếp hướng đến người tiếp chuyện
và xoay quanh một chủ đề của cuộc thoại.”(53, 93 – 94). Như vậy, xét
trong cấu trúc lời nói, đối thoại là một trong những thành phần cơ bản,
quan trọng, tạo nên lời nhân vật nói riêng, lời văn nghệ thuật của tác phẩm
noia chung.
I. Các kiểu lời đối thoại trong tiểu thuyết “Giông Tố” (Vũ Trọng
Phụng ):
1. Tần số và tỷ lệ xuất hiện
Tác phẩm Tổng số
trang
Tổng số
dòng
Số cuộc
thoại
Tổng số dòng
của các cuộc
Tổng số trang
của các cuộc
thoại thoại
Giông Tố 288 8100 68 5123 195
Qua thống kê có thể thấy, lời đối thoại chiếm tỉ lệ không nhỏ so với toàn bộ
lời văn của tác phẩm. So với “Số đỏ” – tác phẩm có đậm đặc lời đối thoại,
thì ở “Giông Tố” thành phần này còn được sử dụg ở cấp độ cao hơn (Tỷ lệ
đối thoại theo số trang: 67,71%, tỷ lệ đối thoại theo số dòng: 63,25%). Sự
có mặt áp đảo của các lời thoại trong “Giông Tố” nói riêng, tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng nói chung là một nét thuộc sở trường của nhà văn.


nhân vật là ông Lí, ông Phó Hội, ông Chánh và ông Đồ về việc có nên đệ
đơn kiện Nghị Hách hay không. Sau những lời đối thoại hợp xướng chất
đầy thêm tội ác của nhân vật văng mặt (Nghị Hách), ông Chánh hỏi ý kiến
mọi người (“Thế nào?”) và quyết định: Thế thì phải kiện cho bỏ mẹ nó đi
chứ? (1, 17). Đáp lại lời hùng hồn quả quyết của ông Chánh là lời bình tĩnh
của ông Lý: “- Nào biết là rồi nó bỏ mẹ hay chúng mình bỏ mẹ!” (1, 17)
Mỗi người một ý kiến, lý giải khác nhau. Cuộc thoại diễn ra với
những tranh luận chưa ngã ngũ và phải chờ đến khi “ông Đồ phải làm ầm ĩ
lên một hồi nữa, rồi người ta mới quyết định kéo nhau lên quan”(Tr19).
Điều quan trọng là qua đối thoại đám đông ấy, dù chưa xuất hiện nhưng
chúng ta cũng đã bước đầu được làm quen với Nghị Hách – một kẻ giàu có,
khét tiếng độc ác, đa dâm. Để rồi, tính cách này của hắn ngày càng được
làm rõ, hoàn thiện qua những chương tiếp theo. Chương kết thúc tác phẩm
cũng là cuộc đối thoại hỗn loạn của tập hợp đám đông, trong trận cuồng
dâm ở buổi dạ tiệc đập phá cuối cùng của Long và đám bạn bè của anh ta:
_ “ Bọn anh hùng hảo hán chúng ta cạn chén chúc vạn tuế cho phái
phụ nữ!
_ Phụ nữ vạn tuế!
_ Đồ ngu! ái tình vạn tuế!
_ Vạn tuế cho những anh chồng mọc sừng! Vive les cocus!

_ Hay! Hay! Bravo!
_Bis! Bis! Một lần nữa
_ Phải lắm, tuyệt! Nó ở đảng ố phụ!
_ Satan couduit le bal!
_ Nàng có một vẻ đẹp tiêu hồn!
_ Thế mới biết lòng thành khẩn đạo… Chúa công ơi!
_ Mọc sừng vạn tuế!
_ Rót đầy cốc cho trẫm!
_ ái khanh ơi! Nó chết! (1,282)

ở màn đối thoại trên, mục đích của hai nhân vật đều được thể hiện rõ
nét. Nếu như Tú Anh buộc tội cha nhằm đòi ông chịu trách nhiệm về hành
vi của mình( dẫn chứng là cuộc điều tra của nhà báo và của bản thân mình);
thì ngược lại, Nghị Hách – kẻ gây tội lại tìm mọi cách chạy tội bằng một
loạt những lí lẽ không thể chấp nhận (vì “xe ăng ban”, vì “buồn”, “đã trả nó
năm đồng” (1, 31)) Cuối cùng, hắn phải nhượng bộ, nghe theo lời của Tú
Anh, chứ không phải vì chịu trách nhiệm (“Thì tao mua con bé làm hầu chứ
gì?” (1, 31)). Như vậy, thông qua những lời thoại trực tiếp, các nhân vật đã
phần nào tự thể hiện mình, bộc lộ mục đích hội thoại của mình.
Cũng vậy, ở chương VI, trong màn đối thoại với huyện Liên, để tìm
cách giấu tội, chạy tội, Nghị Hách đã nói bằng lời vừa xu nịnh, chạy chọt
(“Thưa ngài”, “Thưa quan lớn”) lại vừa răn đe bằng quyền lực (“Thưa quan
lớn, đến quan tổng đốc và quan công sứ tỉnh nhà cũng không nỡ xử tôi như
thế”- (1, 53); và tiền bạc (“cách đây ít lâu, tôi có sai người nhà lên điều
đình một việc với quan lớn” (1, 53-54)).
Về thực chất, ở đối thoại này, các nhân vật tham gia giao tiếp
thường có mặt đầy đủ: bên trao- bên đáp. Tuy nhiên, trong tác phẩm có
trường hợp một bên nhân vật không hiện diện, do không cần thiết hoặc do
đặc trưng riêng của đối thoại ấy. Cuộc thoại giữa Nghị Hách và một tên “
tay chân” qua điện thoại (ở chương X) là ví dụ tiêu biểu. ở đây, người đọc
không hề biết được “phía bên kia” đối thoại như thế nào và cũng không cần
thiết phải biết nhưng có thể thấy, dù dưới bất kỳ hình thức đối thoại nào,
bản chất của Nghị Hách vẫn được lộ trần và mổ xẻ. Sự tàn bạo, vô lương
tâm của một ông chủ lắm tiền hiện lên đủ đầy, sinh động qua lời thoại của
chính hắn (“Nếu sợ lỗ thì hạ lương kíp phu ngày xuống hào hai… Thằng
nào phản đối thì đổi nó vào kíp đêm… Không thì loại vợ con chúng nó
ra…… Được đấy, thằng nào kỳ kèo thì đuổi hẳn?….(89- 90).
Màn diễn thuyết để tranh cử ghế nghị trưởng của Nghị Hách
(Chương XXIX) cũng là màn độc diễn đầy sinh động như thế. Vũ Trọng
Phụng đã thể hiện tài năng của mình khi xây dựng thành công những cuộc

lại bằng một giọng khác, một cách suy nghĩ khác”( 24, 77). Hay nói như
Bakhtin: “Ngay khi con người nói một mình, nó cũng nói với mình, nó
lưỡng hoá con người mình” (7, 18).
Trong “Giông Tố”, trường hợp nhân vật đối thoại với chính mình
thường rơi vào những nhân vật được tác giả ít nhiều dành cho “phần ưu ái”.
Thị Mịch- một nạn nhân đáng thương trong vụ hiếp dâm của Nghị Hách
từng đau khổ dằn vặt khi ở nhà thương: “Trời đất ơi! Thì ra vì mình dai dột
và tham lam” (1, 44). Người con gái trong trắng đoan trang, từng có người
yêu và ước vọng hạnh phúc nhưng tai hoạ bất ngờ đau đớn ập xuống, Mịch
không thể không nghĩ đến người yêu và sự phụ bạc của người tình: “Nếu
anh ấy hiểu cho thương cho thì chẳng nói làm gì. Nhưng anh ấy do thế mà
giảm lòng yêu hoặc lại nỡ rẻ rúng mình thì còn gì nữa. Mà nếu bị coi rẻ thì
đó chẳng phải lỗi tại mình, cái lỗi thấy tiền híp mắt lại mà ra đó ư? Trời ơi,
nhục!(1, 44). Quá lo sợ tình yêu tan vỡ mà Mịch đã đặt ra giả thiết về
Long. Rồi lại quay ra trách móc và kết tội bản thân. Ngòi bút Vũ Trọng
Phụng khá tinh tế khi nắm bắt và chuyển tải được nét tâm lý rất thực, rất
người ấy của nhân vật.
ở Long, loại đối thoại này xuất hiện khi nhân vật lục vấn bản thân
và quy buộc hành động của chính mình: “Bố chúng nó tuy đểu, tuy hại
mình, nhưng mà chúng nó thì có tội lỗi gì đâu? Sao mình lại bắt con phải
đền cho tội ác của ngừời bố?”(1, 111). Quá căm giận Nghị Hách, Long
từng nảy sinh ý định trả thù mà nạn nhân trút hận sẽ là hai người con gái
lão. Nhưng suy tính lại, Long lại thấy như vậy là bạc ác, phi lí và đê hèn.
Con người ấy cũng đã từng có ý nghĩ bội bạc với Mịch nhưng rồi lương
tâm lại lên tiếng không cho phép anh làm như vậy: “Không, Mịch tuy vậy
cũng đã được ta tha thứ. Nếu ta không yêu Mịch nữa, ta sẽ là bạc tình”.(1,
111).
Như vậy, trong “Giông Tố” chỉ có Long và Mịch là hai nhân vật
được Vũ Trọng Phụng miêu tả qua đối thoại với bản thân. Qua đó, ta hiểu
hơn một Thị Mịch luôn khát khao hạnh phúc, lo lắng sợ mất đi tình yêu; và

bộc lộ những suy nghĩ, quan điểm của mình về một vấn đề gì đó. Nó phát
huy tính tích cực chủ quan của từng nhân vật.
Đoạn thoại ở đầu tác phẩm ghi lại cuộc tranh luận khá dài về việc có
nên kiện Nghị Hách hay không giữa ông Đồ và các vị chức sắc trong thôn
khá tiêu biểu cho tình huống này. Lời thoại đã được nhà văn sử dụng đậm
đặc tới mức áp đảo (100% lời thoại). Sau những bất đồng quan điểm, đám
người ấy xung đột, nảy sinh va chạm với những lời cãi cọ phản đối nhau.
Ông Chánh hội phải ra oai để dẹp sự náo loạn nhưng cuộc thoại vẫn tiếp
diễn với lời Lý trưởng và một số nhân vật khác… Tiếp đến là lời ông Lý
đáp ông Chánh (“Nào biết là rồi nó bỏ mẹ hay chúng mình bỏ mẹ!” (1, 17)
và sau đó là sự phản ứng của ông Đồ: “Ông nói đến chó cũng không nghe
được” (1, 17). Cứ thế, lời qua tiếng lại giữa các nhân vật càng trở nên dữ
dội, biến thành những màn cãi cọ, làm cho cuộc tranh luận thành cuộc “đại
khẩu chiến” hỗn loạn đầy sát khí như cách gọi của Vũ Trọng Phụng. Trong
môi trường căng thẳng, bức xúc với những xung đột như thế, nhân vật
thường bị kích thích tới cực điểm. Lúc ấy, họ không chỉ hướng vào nhau,
tác động tới nhau theo kiểu: A hỏi- B trả lời mà chúng nổi xung lên:
“- Thôi
- Ông say rồi, tôi không dám nói nữa.
- Ông bảo ai say? Ông bảo ai say?” (1, 18)
Sự va chạm của các suy nghĩ, quan điểm giữa những người tham gia
hội thoại cuối cùng vẫn không dung hợp được dẫn tới những quyết định
khác nhau (Lý trưởng quyết “không kí vào đơn” trong khi những người
khác “đã kí cả rồi” (1, 18 – 19)).
Nếu như đọc “Số đỏ”, người ta khó quên được màn cãi lộn nổi tiếng
giữa hai bậc đại danh y Lang Tỳ và Lang Phế, thì tình huống này, rồi đến
cuộc bàn bạc tranh luận tay đôi đầy mưu mô giữa Nghị Hách với người Tây
về việc giành ghế nghị trưởng (chương XXI)… cũng để lại ấn tượng sâu
sắc không kém trong lòng bạn đọc. Nhưng nếu ở trên, các nhân vật bất
đồng ý kiến thì ở tình huống này, cả hai bên lại đều thoả mãn, đi đến thống

đốn! Ngủ lang!… Ngoại tình! … Hoang dâm”(1,252), là “Đồ chó cái”,
“con voi giày kia”(1,253)…. Chẳng kém, bà Nghị cũng chửi lại chồng: “Đồ
lường đảo! Quân giết người! Đồ lường thầy phản bạn! Quân hiếp
dâm!”(1,254).
Như vậy, Vũ Trọng Phụng không chỉ thuật tả rất giỏi màn cãi nhau
tập thể, ồn ào, náo nhiệt của đám chức sắc làng Quỳnh Thôn, mà còn rất
thành công trong việc dựng lại các màn cãi nhau tay đôi giữa các nhân vật.
Nói như GS Nguyễn Đăng Mạnh: “Vũ Trọng Phụng là người có tài năng
trong việc tạo dựng những tình huống như thế. Bởi nói như GS. Nguyễn
Đăng Mạnh : “ Ông quả là có biệt tài dựng nên những màn cãi cọ rất sinh
động và hài hước giữa các nhân vật”(36, 55).
Qua loại tình huống này, có thể thấy nhân vật của Vũ Trọng Phụng
rất sẵn sàng gây sự, chửi bới lẫn nhau. Họ “nghiện cãi nhau” sắn sàng nổi
xung với nhau bất cứ khi nào và về bất cứ vấn đề gì. Dường như chính cái
mầm được nảy nở ngay từ thuở ấu thơ và ngày càng được vun trồng đã
phần nào lây nhiễm vào tính cách dễ nổi nóng của nhân vật . Và chính ở
những cuộc cãi vã ấy lại chính là nơi nhà văn có thể xen vào đó dòng ngữ
lưu mà bộc lộ niềm căm uất của mình, rồi tha hồ nguyền rủa, đá móc, lột
mặt nạ cái bọn người nhâng nháo, lố bịch, đáng ghét trong đời sống xã hội
đương thời.
3. Tình huống tra hỏi:
“Giông Tố” là tác phẩm giàu kịch tính, mà rõ nhất có lẽ là qua màn
xử kiện của quan huyện - một màn đối thoại tra hỏi dồn ép mọi người vào
thế bị động, phải chấp nhận. Tác phẩm lôi cuốn bạn đọc ngay từ những
trang đầu bằng một vụ án gây xôn xao dư luận. Bị quan huyện trẻ Cúc Lâm
kết tội nhưng bằng đồng tiền, Nghị Hách đã cấu kết với quan trên để đảo
ngược tình thế, “đổi trắng thay đen” ngay giữa chốn công đường. Sau khi
ra lệnh bắt giam một nhà báo, quan gọi đến Thị Mịch:
-“ Mày có nhận của người ta năm cái giấy bạc một đồng, có phải
không?

phải nghĩ ngợi, còn văn Vũ Trọng Phụng làm người ta muốn … đấm đá
một ai đó”.
4. Tình huống hiểu lầm:
Tình huống này được biết tới như là sự “giao thoa” giữa hai hệ
thống, hiện tượng độc lập tuyệt đối có thể hiểu cùng một lúc theo hai nghĩa
khác hẳn nhau. Tạo ra tình huống hiểu lầm, Vũ Trọng Phụng để cho nhân
vật va chạm nhau, đụng đọ nhau, cọ xát nhau. Từ đó, nhà văn làm sáng rõ
bản chất con người họ.
Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng “Giông Tố” chỉ duy có một tình
huống loại này. Nhưng đây lại chính là nguyên nhân quan trọng gây nên
tấn bi kịch của cuộc đời Long- Mịch. Dưới sự sắp đặt của Tú Anh, Long và
Mịch đã hiểu lầm nhau. (Mịch tưởng Long phụ bạc nên tự ái, nhận lời lấy
Nghị Hách. Còn Long, anh cũng lầm rằng Mịch đã “tham vàng bỏ ngãi”
nên không phải đau khổ, ân hận, nhớ nhung, thương tiếc gì nữa). Vì thế,
khi gặp lại nhau tại ngôi nhà phố Quán Thánh, cả hai đều ném ra những lời
đầy mỉa mai, căm giận và hận thù. Bởi cả hai đều mang trong mình ý nghĩ
bị phản bội, dối lưà:
Long căm tức đáp:
“- Tôi muốn đến để hỏi rằng trong đời này, ai là người gây ra cái đau
khổ của tôi?
- Tôi? Tôi phụ cô? Tôi phụ cô mà tôi dằn lòng tha thứ cho cô, từ khi
cô còn nằm nhà thương? Tôi phụ cô, mà tôi đã từ hôn một nơi giàu có,
đương đêm khuya vượt mấy tỉnh về tìm cô? Tôi? Tôi phụ cô? Mà tôi lại
khổ thế này? Mà cô lại sung sướng như thế ấy? Tôi? Tôi phụ cô? Thật thế
đấy à? Hở giời?”(1,194).
Đáp lại lời kết tội ấy, cũng là lời buộc tội đầy uất ức của Mịch:
“ Anh vẫn yêu tôi như thế này a? Anh vẫn giận tôi đến thế này ư?
Anh giết tôi đi!.. Long ơi, quân giả dối, quân khốn nạn! Đừng mong đeo
mặt nạ mà lừa tôi đâu!”(1,195).
Như vậy, nghĩa là Long và Mịch vẫn yêu nhau. Quá ngây thơ và

giao tiếp bị phá vỡ. Chủ thể phát và chủ thể nhận lệch kênh nhau. Nội dung
phát ngôn trở nên vô nghĩa. Vì thế, những giải mã “ trật khớp” hoá buồn
cười. Con người trở nên điếc đặc, hoá thành những sinh thể giao tiếp đờ
đẫn, vô nghĩa lý. Quan hệ người- người bị rạn nứt nghiêm trọng.
Như vậy, tổ chức xây dựng đối thoại chính là sở trường của nhà
văn họ Vũ. Đối thoại giữa các nhân vật trong “Giông Tố” thường rất giàu
kịch tính. Do yêu cầu phản ánh mâu thuẫn đời sống một cách bức thiết, Vũ
Trọng Phụng đã đặt các nhân vật của mình vào nhiều mối quan hệ phức
tạp, với những tác động va chạm lẫn nhau. Lời đối thoại của chúng vì thế
cũng luôn xuất hiện trong những tình thế giằng co mâu thuẫn. Sự tiếp xúc
ngôn ngữ nhiều khi là những cuộc đụng độ tinh thần căng thẳng, quyết liệt,
tạo ra những bước chuyển tình thế đột xuất. Có thể nói, phần lớn các
chương trong tiểu thuyết này có thể chuyển sang kịch một cách dễ dàng.
Đặt nhân vật trong những tình huống mang tính kịch đầy ấn tượng, gay cấn
như thế, một mặt gây bất ngờ hứng thú cho người đọc; mặt khác làm nổi
bật khía cạnh nào đó trong tính cách, tâm lý nhân vật. Vai trò của người
trẩn thuật đã được giản lược tối đa, “trao quyền” cho các nhân vật, với dày
đặc lời đối thoại của nhân vật. Cùng “ kịch hoá tự sự”, các tình huống kịch
và ngôn ngữ đối thoại giàu kịch tính xuất hiện với mật độ cao đã góp phần
đắc lực trong việc chuyển tải nội dung, tư tưởng của tác phẩm.
III. Chức năng nghệ thuật của lời đối thoại trong tiểu thuyết “Giông
Tố” của Vũ Trọng Phụng :
Tác giả Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa qua công trình “
Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học” cũng đã làm sáng
rõ văn bản nghệ thuật như là một thành tố của hoạt động giao tiếp, nhằm
tìm một hướng phân tích tác phẩm văn chương dưới góc độ giao tiếp ngôn
ngữ. Khi tìm hiểu vai trò của các kiểu lời nói trong tác phẩm văn xuôi tự
sự, các tác giả xác định: “ Lời đối thoại giữa các nhân vật là một thành
phần chủ yếu trong kết cấu của tác phẩm tự sự. Chức năng chủ yếu của đối
thoại thực sự, đối thoại không chỉ mang tính chất miêu tả hoặc chuyển dẫn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status