Chủ đề trong tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ của Vũ Trong Phụng - Pdf 27

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vũ Trọng Phụng là một trong những tên tuổi nổi bật hàng đầu trong
nền văn xuôi Việt Nam trước cách mạng. Dư luận coi ông là kiện tướng
xuất sắc của khuynh hướng “tả chân” đương thời. Xung quang Vũ Trọng
Phụng đã từng có những cuộc tranh cãi nảy lửa và trong nhiều năm, ông trở
thành một “vụ án văn học” nghiêm trọng kéo dài. Từ khi có công cuộc “đổi
mới” trên đất nước, “vụ án” đó mới chính thức được giải tỏa và vị trí xứng
đáng của nhà văn trong lịch sử văn học dân tộc được khẳng định dứt khoát.
Người xưa đã từng nói “các cuốn sách có số phận của mình”. Rất nhiều tác
phẩm vừa ra đời đã “cộm lên” trong dư luận người đọc vài ba năm, hay vài
mươi năm, rồi sau đó chìm hẳn vào lãng quên dưới lớp bụi của thời gian.
Với Vũ Trọng Phụng - đời văn và tác phẩm vừa buổi ra mắt đã phải hứng
chịu nhiều búa rìu của dư luận. Sự “quan tâm” ấy là thước đo tài năng
người nghệ sĩ nhưng đồng thời cũng là nỗi khắc nghiệt mà cuộc đời đã
dành sẵn cho những số phận tài năng.
Vũ Trọng Phụng là một hiện tượng văn học độc đáo trong giai đoạn
1930 – 1945. Chỉ với chín năm cầm bút ngắn ngủi, Vũ Trọng Phụng đã để
lại cho nhân loại một kho tàng vô giá về thể loại văn học như: truyện ngắn,
tiểu thuyết, phóng sự, kịch… Nhưng có lẽ giữa sự phong phú và đa dạng
của nhiều thể loại ông thành công nhất là tiểu thuyết.
Các tiểu thuyết của ông luôn đề cập đến những vấn đề của xã hội,
khái quát được một phạm vi cuộc sống hết sức rộng lớn mà ta không thể
tìm thấy được ở những sáng tác khác của những nhà văn cùng thời.
Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ là những tác phẩm tiêu biểu trong hệ thống
sáng tác của Vũ Trọng Phụng, đã nếm trải nhiều sống gió của dư luận khác
nhau, và vị trí của chúng đến nay đã được xác lập trong văn hóa nhà nước.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách toàn diện, khoa học để thực sự
làm chủ di sản văn học phong phú và khá phức tạp của Vũ Trọng Phụng
vẫn còn đang tiếp tục. Và trong sự nhìn lại đối với di sản văn học đó trên

phương tiện thông tin báo chí, phát thanh, phát biểu về tác phẩm và tác giả
Vũ Trọng Phụng. Đáng Chú ý là Hội thảo khoa học kỷ niệm 50 năm ngày
mất Vũ Trọng Phụng do Viện Văn học và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức
3
tháng 10 - 1989, tại Văn miếu Hà Nội. Đã có hơn hai mươi bản tham luận
của các Giáo sư, Tiến sĩ, Phó giáo sư, các nhà nghiên cứu phê bình Văn học
đọc tại hội nghị, bước đầu nhận thức lại và khẳng định lại một lần nữa vị trí
của nhà văn và tác phẩm trong văn học sử Việt nam.
Qua việc nghiên cứu và tìm hiểu các tác giả đi trước chúng tôi nhận
thấy các tác giả đã nghiên cứu khá toàn diện về Vũ Trọng Phụng và sự
ngiệp văn chương của ông, tiếp nối thành tựu đó chúng tôi chọn đề tài “Chủ
đề trong tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ của Vũ Trong Phụng”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng
Chủ đề trong Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ của Vũ Trọng Phụng.
Phạm vi
Đề tài nghiên cứu chủ đề trong ba tác phẩm Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ
4. Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài trên tôi đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu như
- Thi pháp học
- Phương pháp phân tích, thống kê
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của đề tài được
kết cấu trong 3 chương:
Chương 1: Vũ Trọng Phụng và tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ
Chương 2: Chủ đề trong Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ
Chương 3: Các yếu tố nghệ thuật thể hiện chủ đề trong Giông tố, Số
đỏ, Làm đĩ.
4

5
cuốn tiểu thuyết cuối cùng mà Vũ Trọng Phụng trăng trối khi chết được
đem mấy tờ bản thảo để lót đầu.
Toàn bộ văn nghiệp của ông từ phóng sự đến truyện ngắn, tiểu
thuyết, kịch, báo chí, văn chính luận; từ tư tưởng, quan niệm nghệ thuật đến
bút pháp hiện thực, nghệ thuật tả chân là một sự thống nhất cao. Do đó, khi
đề cập đến nhà tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, không thể không nhắc đến các
thể loại văn học khác của ông để làm rõ thêm.
Ông bắt đầu tham gia viết văn với truyện ngắn đầu tay Chống nạng
lên đường (1930) và đều đặn cho đến ngày ông mất có đến 41 truyện ngắn
và 4 di cảo truyện ngắn. Theo thống kê trước đây, năm 1934, không thấy
truyện ngắn nào xuất hiện. Gần đây TS. Peter Zinoman (Mỹ) phát hiện
thêm 9 truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng ở thư viện quốc gia Pháp. Tất cả
những truyện ngắn trên đều viết năm 1934. Không đặt lên những vấn đề to
lớn như trong phóng sự và tiểu thuyết, truyện ngắn Vũ Trọng Phụng đi vào
những chuyện nhỏ nhặt thường ngày nhưng đó là những chuyện thực sự
làm động lòng người đọc.
Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng kêu gọi lòng yêu thương con người
với con người, không nên vì hoàn cảnh mà trở nên xa lạ, khô cứng đến
nhẫn tâm kể cả những người thân yêu, ruột thịt. Mỗi số phận mỗi con người
được nêu lên bên trong ẩn chứa một sự đồng cảm, một nỗi lòng của chính
tác giả. Phần lớn truyện ngắn chuyên khai thác vấn đề tâm lý như Cái ghen
của đàn ông, Lòng tự ái, Máu mê, Một đồng bạc, Con người điêu trá... Ngòi
bút phân tích của ông tỏ ra khá tinh tế và sắc sảo. Đây cũng là đóng góp
mới mẻ của Vũ Trọng Phụng vào sự hiện đại hóa thể loại truyện ngắn ở
nước ta.
Qua truyện ngắn, ta bắt gặp ở Vũ Trọng Phụng một phong cách riêng
biệt, gợi nhiều hơn tả. Đọc xong truyện ngoài cái buồn vẩn vơ cũng bắt
người đọc không thôi suy nghĩ, day dứt; bên trong truyện, đằng sau câu chữ
cô đọng những triết lý nhân sinh, đậm chất nhân văn cao cả.

ông thẩn thấu qua từng trang sách.
1.1.2. Sự nghiệp văn chương của Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng là nhà văn đa tài. Ông vừa là nhà phóng sự, nhà tiểu
thuyết, vừa là nhà báo, nhà viết kịch. Và, ở chừng mực nào đó, dựa vào văn
phẩm, cũng có thể gọi ông là nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục, nhà
cải cách, nhà văn hóa, nhà cách tân nghệ thuật... Nhưng thành công, đóng
7
góp to lớn nhất của ông vào văn học là tiểu thuyết. Bên cạnh đó ông cũng
khá thành công trong lĩnh vực phóng sụ với các tác phẩm “Cạm bẫy người,
Kỹ nghệ lấy Tây”, truyện nhưngắn của ông cũng khá đồ sộ với hơn 25 tác
phẩm tiêu biểu như “Một đồng bạc, tình la dây oan, người có quyền”…
Nếu tiểu thuyết là phản ánh bứa tranh xã hôi, phản ánh hiện thực đời
sống thì Giông tố, Vỡ đê là bức tranh vẽ đầy đủ chi tiết, chân thật đời sống
người dân dưới thời nô lệ; Số đỏ, Làm đĩ, Trúng số độc đắc là một nét khác
xuất thần là bật lên những vết thương rướm máu của cái xã hội được che
phủ bên ngoài lớp sơn văn minh Âu hóa; Dứt tình, Lấy nhau vì tình lại là
một đường cày tâm lý, khơi mở tâm hồn, nhận thức về phương diện tình
yêu, hôn nhân.
Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng không hướng đến những cái xa vời
thoát ly cuộc sống. Nó chính là cuộc sống đang diễn ra từng ngày, từng giờ
mang đậm tính thời sự mà Nguyễn Đăng Mạnh cho đó là “những chân
dung chưa ráo mực”: nhiều nhân vật trong Giông tố, Số đỏ được xem như là
những bức chân dung ký họa chưa ráo mực của một số tên tuổi có thực lúc
bấy giờ.
Tạ Thu Thâu cho rằng muốn biết xã hội Việt Nam ra sao chỉ cần đọc
tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Dương Nghiễm Mậu khẳng định: “Trong tác
phẩm của Vũ Trọng Phụng là tất cả thời đại ông sống.”
Hiện lên trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng không chỉ một mảng,
một khía cạnh, một xã hội khu biệt thành thị hay nông thôn mà là bức tranh
toàn cảnh. Nhân vật của ông nhung nhúc đủ hạng người có tốt, có xấu, có

Văn Thanh, Hà Nội, in trọn vẹn năm 1937.
Mịch, một cô gái quê, trong một đêm trăng đi gánh rạ, bị Nghị Hách,
một triệu phú, lừa vào xe hơi để cưỡng dâm. Ông đồ Uẩn, bố của Mịch và
lý dịch trong làng đưa đơn kiện. Họ được quan Huyện Liên, trẻ tuổi, đã
từng đỗ khoa Tiến sĩ Luật ở Pari, có ý bênh vực nhưng Nghị Hách được
quan Tổng đốc che chở, đã đánh bại đối phương dễ dàng. Quan Huyện trẻ
phải từ chức; quan Huyện mới về bên Nghị Hách ra mặt. Cuối cùng, do sự
thu xếp của Tú Anh – con cả của Nghị Hách, Giám đốc một trường tư thực
lớn ở Hà Nội - Mịch trở thành vợ lẽ của lão, trong khi lão đã có 11 cô nàng
hầu. Còn Long, thư ký làm công của Tú Anh và là chồng chưa cưới của
9
Mịch, trở thành vị hôn phu của Tuyết, con gái lớn của Nghi Hách cũng do
sự thu xếp của Tú Anh. Nghị Hách được sự ủng hộ của một công ty tư bản
Pháp đang muốn móc ngoặc với lão để nắm độc quyền nước mắm, lại ra
tranh cử Nghị viện và quyết giành cả ghế nghị trưởng. Bổng có một ông già
bí mật xuất hiện. Ông già đó là Hải Vân, nguyên bạn cũ của Nghị Hách, đã
từng bị lão lừa đẩy vào tù rồi cướp vợ; giờ đây ông hoạt động ở nước ngoài
mới trở về, không định trả thù xưa, chỉ muốn kiếm một cách đường hoàng
từ người bạn cũ ghê gớm này một món tiền lớn để gây quỹ cho tổ chức
cách mạng. Ông đến xem mạch đất và số tử vi cho lão. Do ông bố trí Nghị
Hách được chứng kiến cảnh vợ cả lão ngoại tình. Bên giường dâm phụ ông
già còn vạch cho Nghị Hách biết: chính Long là con đẻ lão do lão quyến rũ
vợ ông mà sinh ra, còn Tú Anh thì lại là con của ông chứ không phải như
Nghị Hách tưởng lầm!... Mặc dù đau đớn về tinh thần, Nghị Hách vẫn lao
vào những thủ đoạn hoạt động tranh cử. Để mua tiếng “bình dân”, lão đã
phát chẩn cho dân nghèo và được thưởng Bắc Đẩu bội tinh. Lão còn trâng
tráo tuyên bố trong một bữa tiệc sang trọng rằng lão chọn Long “đứa trẻ mồ
côi vô thừa nhận” (mà giờ đây lão biết là máu mủ lão), làm chồng con gái
lão!... Một đêm “Giông tố” mịt mùng bên bờ biển, Hải Vân chia tay Tú
Anh để lên đường. Ông khuyên con ở lại “Cố gắng làm những việc hữu ích

giao thiệp với những họa sĩ Típ Phờ Nờ, đốc tờ Trực Ngôn, nhà chính trị
bảo hoàng Jôzep Thiết, ông Phán dây thép mọc sừng... Cô Tuyết, con gái út
cụ cố Hồng, em gái Văn Minh, thì phải lòng Xuân, rủ hắn thuê buồng trên
khách sạn Bồng Lai ở Hồ Tây. Rồi hắn được bà Phó Đoan mời làm người
giáo dục cho cậu Phước “con trời con phật” của bà, được sư Tăng Phú mời
làm cố vấn báo Gõ mõ cổ động cho việc chấn hưng đạo Phật!. Trong không
khí đầy sự giả trá ấy, Xuân được mọi người kính nể, sợ hãi. Sự ngây ngô
của hắn được coi là nhũn nhặn; hắn càng khinh người thì càng được kính
trọng. Vợ chồng Văn Minh biết rõ lý lịch hèn hạ của Xuân thì ở vào tình
thế há miệng mắc quai, còn phải tìm cách tô vẽ cho Xuân để nếu cần có thể
gả em gái đã mang tiếng hư hỏng cho hắn. Đến khi vô tình gây ra cái chết
của cụ tổ, cái chết mà tất cả con cháu cụ mong đợi, Xuân hóa ra lại có công
lớn với mọi người! Sau đó, Văn Minh dẫn Xuân đi đăng ký làm tài tử quần
vợt, tham dự giải vô địch trong dịp vua Xiêm sang thăm Bắc Kỳ nay mai.
Rồi dịp may ấy đã đến. Anh chàng vị hôn phu của Tuyết bày mưu hại Xuân
song ngẫu nhiên Xuân biết được, bèn tương kế tựu kế, khiến cho hai đối thủ
11
quần vợt lợi hại của hắn bị bắt trước hôm thi đấu. Thế là, trước khi hai đức
vua và các “quý quan” cùng hàng vạn công chúng Hà thành, Xuân được cử
ra đọ tài với quán quân quần vợt Xiêm La. Cuộc đấu đang diễn ra sôi nỗi,
hồi hộp thì bỗng Xuân được lệnh phải thua, vì “phải giữ gìn mối thiện cảm
của một nước lân bang”, tránh thảm họa “núi xương sông máu”!. Sau trận
đấu về, Xuân đứng trên mui ô tô mà diễn thuyết rất hùng hồn theo lời nhắc
của ông bầu Văn Minh, giải thích cho đám đông công chúng “ngu dại” rằng
hắn đã “chối từ danh vọng riêng” để cứu vãn “trật tự và hòa bình của Tổ
quốc”! Mọi người vỗ tay như sấm hoan nghênh một “bậc vĩ nhân”, “anh
hùng cứu quốc” vừa mới tránh cho họ nguy cơ chiến tranh! Hắn được Phủ
Toàn quyền quyết định ân thưởng Bắc Đẩu bội tinh, được Hoàng đế An
Nam ân thưởng Long bội tinh, được Hội Khai trí tiến đức mời vào Hội. Cụ
cố Hồng sung sướng tuyên bố gã Tuyết cho hắn...

mưa gió làm một gái giang hồ. Sau này tình cờ Huyền gặp lại người quen
cũ sau một hồi tâm sự nàng đem hết tâm huyết của mình viêt thành một
quyển nhật ký cho đời...
Làm đĩ, tác phẩm gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh tố cáo chế độ giáo
dục của xã hội đương thời.
13
Chương 2 Chủ đề trong Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ
2.1. Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ nhìn từ góc độ đề tài
Đề tài, thuật ngữ chỉ phạm vi các sự kiện tạo nên cơ sở chất liệu đời
sống của tác phẩm đồng thời gắn liền với việc xác lập chủ đề của tác phẩm.
Tầm quan trọng của khái niệm đề tài là ở chỗ, nếu chưa nhận ra đề
tài, thì chưa bước vào tiếp nhận hình tượng. Tuy nhiên, từ hiện tượng nghệ
thuật sinh động nhận ra loại con người và cuộc sống được phản ánh trong
tác phẩm không phải là một việc đơn giản.
Giới hạn của phạm vi đề tài có thể được xác định rộng hẹp khác
nhau. Đó có thể là một giới hạn bề ngoài, ở giới hạn bề ngoài đề tài thuộc
các phạm trù xã hội, lịch sử đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, đối
tượng nhận thức của văn học là cuộc sống, con người xã hội với tính cách
và số phận của nó, với quan hệ nhân sinh phức tạp của nó. Do vậy, cần đi
sâu vào phương diện bên trong của đề tài. Đó là cuộc sống nào, con người
nào được miêu tả trong tác phẩm.
Đề tài của tác phẩm là một phương diện nội dung tác phẩm, là đối
tượng đã được nhận thức, kết quả lựa chọn của nhà văn. Đó là sự khái quát
về phạm vi xã hội, lịch sử của đời sống được phản ánh trong tác phẩm.
Thực chất đề tài là một khái niệm về loại của hiện tượng đời sống
được miêu tả. Có bao nhiêu hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài.
Khái niệm loại của đề tài không chỉ bắt nguồn từ bản chất xã hội của
tính cách, mà còn gắn liền với loại hiện tượng lịch sử xuất hiện trong đời
sống và có âm vang trong đời sống tinh thần một thời, hoặc trong một giới
nào đó.

mặt trơ trẽn của bọn người trưởng giả, phè phỡn, đã chạy theo phong trào
bình dân như một cái “mốt” khi đó. Ngòi bút châm biếm sắc sảo của Vũ
Trọng Phụng cũng không quên đề cập đến phong trào “thơ mới” lãng mạn,
khuynh hướng nghệ thuật “hũ nút”, tới những tổ chức do thực dân đỡ đầu
như Hội Chấn hưng Phật giáo, Hội Khai trí tiến đức, tới cả bộ máy chính
quyền thực dân, từ đám cảnh sát đến Phủ Toàn quyền, Thống sứ, vua ta,
vua Xiêm cũng bị đưa lên cái sân khấu trò hề Số đỏ. Do đó, Số đỏ tuy chỉ
tập trung phê phán xã hội tư sản về phương diện đạo đức, sinh hoạt trong
tác phẩm vẫn có màu sắc thời sự rõ rệt. Số đỏ đã đưa ra một loạt chân dung
biếm họa rất mực sinh động về gần đủ loại nhân vật tiêu biểu cho cái xã hội
15
nhố nhăng đó: từ mụ me Tây đĩ thỏa dơ dáng đến cô “gái mới” lãng mạn hư
hỏng một cách có lý luận; từ một ông chủ hiệu may làm “cách mệnh trong
vòng pháp luật” bằng những mốt y phục phụ nữ tối tân đến các nhà mĩ
thuật hăng hái cổ động Âu hóa song cấm ngặt vợ con mặc tân thời; từ cụ cố
Hồng hiếu danh hũ lậu và đần độn đến ông Victo Ban - chủ khách sạn
Bồng Lai kiêm vua thuốc lậu; từ đốc tờ Trực Ngôn đồ đệ Frơt đến nhà cách
mạng bảo hoàng Jôzep Thiết, từ bọn lang băm đến giới cảnh sát; từ nhà sư
hổ mang cổ động chấn hưng đạo Phật đến đại diện Hội Khai trí tiến đức
vốn quý phái song “vẫn gá tổ tôm một cách bình dân”!... Không phải do
“Số đỏ” mà chính cái xã hội trưởng giả trụy lạc và bọn bịp bợm ấy đã tạo
nên một Xuân Tóc Đỏ, “người hùng” của nó.
Làm đĩ là một tác phẩm đã phải gánh chịu những đánh giá hẹp hòi,
định kiến. Có người kết án Vũ Trọng Phụng “khiêu dâm” và đã có một thời
gian dài tác phẩm không được đón nhận.
Làm đĩ là một thiên tả chân tiểu thuyết mục đích là hô hào nhà đạo
đức và bậc cha mẹ lo chăm đến hạnh phúc của con cái và phải để ý đến cái
sự mà những thành kiến hủ bại vẫn coi là điều bẩn thỉu, tức là cái sự dâm.
Khi bậc làm cha mẹ sẽ cứ mãi mãi không đủ tư cách truyền lại cho con cái
phần gia tài cao thượng ấy theo một quan niệm hoàn toàn đạo đức và bằng

phẩm.
Ở những tác phẩm văn học có nội dung cụ thể rộng lớn, cốt truyện
phức tạp, phân thành nhiều tuyến nhân vật thì người ta thường khu biệt
thành các chủ đề chính và các chủ đề phụ. Chủ đề chính được xem là vấn
đề bao quát, chủ đề chủ yếu nhất, còn chủ đề phụ là những vẫn đề có ý
nghĩa nhỏ hơn.
Chủ đề được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng chung quy lại
chủ đề là tư tưởng chủ đạo của tác phẩm.
Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng là tiểu thuyết tả chân xã hội; tiểu thuyết
phanh phui cái ác, cái xấu, tiểu thuyết của nỗi đau đời và lòng xót thương,
tiểu thuyết trào phúng châm biếm, các đặc điểm này kết hợp với nhau, đậm
nhạt theo liều lượng khác nhau trong từng tiểu thuyết.
Đề tài tập trung vào ba chủ đề sau: chủ đề về tệ nạn xã hội, chủ đề về
đạo đức, và chủ đề về cái dâm và sự tha hóa.
2.2.1. Chủ đề về tệ nạn xã hội
17
Bức tranh xã hội Việt Nam trước năm 1945 được khắc họa rõ nét
trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng. Trong lĩnh vực tiểu thuyết, ông tỏ ra
có khả năng nhanh nhạy, luôn nắm bắt thực tế, không ngừng phát hiện
những vấn đề mới, những mối quan hệ nảy sinh trong xã hội, để từ đó cho
ra đời hàng loạt tác phẩm có giá trị hiện thực lớn, tiêu biểu là Giông tố, Số
đỏ, Làm đĩ.
Cái linh hồn trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng chính là vấn đề về
xã hội. Đối với Vũ Trọng Phụng cái xã hội đương thời là cái xã hội “khốn
nạn”, “chó đểu”, cái xã hội đó toàn bọn thực dân quan lại, bọn tư sản, bọn
địa chủ giàu có mà tàn ác, bất nhân, đểu cáng. Ông phanh phui mổ xẻ
những tệ nạn xấu xa, vạch trần bản chất thối nát, rởm hợm, bịp bợm, lố
lăng, chỉ biết chạy theo tiền với lối ăn chơi đồi bại, không còn chút đạo lý
nào. Ông khám phá không ngừng cái “vô nghĩa lý” ở đời, phơi ra các thói
hư tật xấu, đập phá tan tành cái xã hội “chó đểu” ấy để hướng đến một xã

phẩm này. Giông tố đưa tầm nhìn của chúng ta từ thôn quê “xôi thịt” đến
thành thị “bơ sữa”, từ nhưng chốn ăn chơi trụy lạc, gái đĩ, thuốc phiện đến
những cảnh xa hoa cũng không kém phần trụy lạc. Ở thôn quê thì đủ các
mặt hào lý, gặp cơ hội nào cũng có thể tổ chức ăn uống, hút xách, đem lí sự
cùn ra cãi nhau, rồi chửi bới nhau, nhưng lên đến cửa quan thì run sợ hèn
nhát. Ở thành thị, thôi thì đủ hạng người, thượng vàng hạ cám. Những tay
doanh nghiệp sắc sảo, gian hùng, “coi đời như một canh bạc lớn”, “làm
việc thiện để quảng cáo cho mình” có chân trong các hội ái hữu, những
người đã từng chủ tọa những ban giải thưởng văn chương nhưng chưa hề
đọc hết một cuốn tiểu thuyết, những tay cổ đọng cho phật giáo mà lại đi
xây hàng dãy nhà xăm, những anh chủ ba bốn tiệm khiêu vũ mà đánh con
gái hộc máu vế tội ăn mặc tân thời, những anh vừa là chủ hiệu xe đám ma
vừa là người bán tem cho Hội bài trừ bệnh lao, mà lại bán cả thuốc lào
mốc.
Trong các tiệm hút của Hàng Buồm, hay trong nhà hát ả đào ở phố
Khâm Thiên, xuất hiện nhũng người trụy lạc. Có Vạn tóc mai, đứa con
hoang của Hách, đồ xỏ lá ba que, nói xấu bố để “làm tiền” bố, cũng dỡ đủ
trò lố lăng, thuốc phiện...Ở đây có đủ mặt các “nhân viên làng Bẹp”, những
thiếu phụ mặt bự phấn, môi tái nhợt, tóc búi, cổ đeo kiềng, mặc áo tân thời
cổ bẻ, những tên lính da trắng, da đen, rồi những ông giáo, những ông cử
19
nhân Tây học hẳn hoi, bề ngoài đạo mạo nghiêm nghị, nhưng đến đây thì
dở đủ trò đểu cáng.
Nhưng chưa hết, còn tệ nạn mê tín dị đoan, bà cả nhà nghị Hách- một
bà nhà “tử tế” ngoài bốn mươi chuyên môn nhảy đồng bóng và ăn nằm với
anh cung văn, một cô Tuyết gái tân thời hẹn hò với trai ở khách sạn.
Còn ở chốn quan trường thì sao? Một nơi đen tối, một ông quan
thuộc địa “cáo già” dùng những lời ngọt ngào, những hành động khôn khéo
để phỉnh dân, bốc lột dân cho dễ. Ngoài những quan cai trị đương chức,
đương quyền, lại có những ông quan cai trị đã về hưu, nhưng để ý tới

của xã hội đương trời, cho nên, dù ở góc nhìn nào: xã hội, chính trị, hài
hước, tâm lí... ông đều hướng vào kẻ thù của nhân dân, của dân tộc. Kẻ thù
đó là bọn thực dân, địa chủ phong kiến, tư sản mại bản. Chúng cấu kết
trong guồng máy chính trị xã hội đương thời để ra sức bóc lột, đàn áp, thực
hiên chính sách ngu dân, bần cùng, trụy lạc hóa nhân dân. Ông đã mạnh tay
lôi ra mặt sáng bộ mặt xâu xa, dâm đãng, bỉ ổi độc ác, xảo quyệt dẫu chúng
có được che dấu một cách khôn khéo, quỷ thuật, đánh bóng mạ vàng bởi
những phong trào, những hoạt động dưới danh nghĩa văn minh, âu hóa, tiến
bộ... âm mưu của bọn thực dân thật là thâm cay, nó làm cho tầng lớp thanh
niên Việt Nam sa chân vào trụy lạc mà quên đi lòng yêu nước thương nòi.
Những sân quần vợt, tiệm may Âu hóa của vợ chồng Văn Minh, khách sạn
Bồng Lai là những minh chứng.
Làm đĩ tuy là một cuốn sách giáo dục tâm lý thiên về phạm trù đạo
đức, nhưng ta thấy thấp thoáng trong đó những tệ nạn xã hội như gái điếm,
thuốc phiện, nhà chứa...ngay từ những trang đầu ta đã thấy xuất hiện dấu
hiệu của tệ nạn xã hội, những cái xấu xa được che đậy thật kín đáo, một nhà
chứa mà dù là những tay sành chơi nhưng nếu không có người mách nước
cho thì không bao giờ biết:
“Không! Dù là ngài đã ăn chơi lọc lõi, đã trải đời hết sức, đã biết rõ
đủ các mặt trái nhơ nhuốc của xã hội đi nữa, chắc ngài cũng phải đến phân
vân như chúng tôi mà thôi, chớ ngài không thể có ngay cái tính khinh đời
ngạo mạn dám tin ngay rằng sự mãi dâm lại có thể đóng đại bản doanh ở
trong một nơi như nhà này” [7, 436].
Thế đấy, tệ nạn xã hội đã lan vào mọi ngốc ngách của xã hội dưới
nhiều hình thức tinh vi khác nhau. Có lẽ những cái đó chỉ có Vũ Trọng
Phụng mới nhìn thấy.
21
Tệ nạn xã hội được Vũ Trọng Phụng nêu lên rất kỹ trong những tác
phẩm của mình, những nhân vật của ông không chỉ là trong hư cấu mà đó là
những nhân vật ngoài đời bước vào trong tác phẩm. Ông như là kính chiếu

Quân giết người! Đồ lường thầy phản bạn! Quân hiếp dâm!... Ừ mày cứ li
dị bà đi, rồi bà tố cáo tội lường gạt, tội giết người của mày trước pháp luật
cho mà xem! Mày về hỏi mười một con vợ lẽ của mày, xem có phải mày đã
hiếp chúng không? Có phải mày đã bỏ bã rượu vào nhà bố mẹ chúng, để bố
mẹ chúng bán rẻ cho mày không?” [7, 220]
Bao nhiêu việc mình làm y chưa từng chột dạ nhưng khi chứng kiến
vợ ngoại tình thì làm cho Hách như có dịp ôn lại cả quá khứ bỉ ổi của lão,
chính sau đó, trong bữa tiệc thiết đãi ở Tiểu Vạn Trường thành, hắn đọc
một bài diễn văn rất kêu, nói đến luân lý, đạo đức, bác ái, bình dân... Khi
đang thực hiện buổi diễn thuyết của mình thì óc lão hiện ra cảnh vợ chung
đụng với kẻ khác, nghĩ đến Long là con lão, đến Tú Anh là con riêng của
vợ mình thì bất chợt nước mắt ứa ra. Những giọt nước mắt đó làm cho
những người trong buổi diễn thuyết đó cảm động. Chưa bao giờ ngòi bút
Vũ Trong Phụng lại mỉa mai cay đắng như trong bài diễn văn đó. Đạo đức
gì ở Nghị Hách chứ? Phát chẩn cho bần dân nghèo ư? đó chẳng qua là âm
mưu trong việc thực hiện vươn lên chức nghị trưởng của y mà thôi. Phát
chẩn cho dân, đó là một nghĩa cử cao đẹp và nó xuất phát từ tình thương
của con người, hay nói cách khác là xuất phát từ đạo đức. Vậy mà cách
phát chẩn của Nghị Hách ta xem có được không. Bần dân thì chen chúc
nhau chờ bố thí từ sáng sớm vậy mà đến 8 giờ cuộc phát chẩn mới bắt đầu,
mà lại “bắt đầu bằng những roi vọt của lính và tiếng kêu khóc của dân”. Ấy
vậy mà sau cuộc phát chẩn đó lại là một bữa đại tiệc uy nghi cho việc dự lễ
gắn huy chương của y. Hắn thương gì dân chúng chứ, Hách chỉ xứng đáng
là một kẻ đạo đức giả. Đạo đức gì mà sắp xếp nên cuộc hôn nhân cho chính
hai đứa con đẻ của mình chứ. Đạo đức là cái nhân bản của con người,
nhưng dường như cái nhân bản đó đã không còn ngự trị trong con người
của Hách từ đã rất lâu rồi. Thật là không còn chút đạo đức nào khi cho hai
đứa con đẻ của mình lấy nhau, mà còn lại ra vẻ đạo đức:
“Thưa các bà, các cô, các ngài, đây là con gái tôi. Nó không lấy
chồng quan, nó không lấy trạng sư, bác sỹ. Nó lấy một người chồng nhũn

bậc làm cha mẹ lo chăm đến hạnh phúc của con cái và phải để ý đến cái sự
mà những thành kiến hủ bại vẫn coi là điều bẩn thỉu, tức là cái sự dâm” [7,
427]
Huyền một đúa trẻ có tính dâm từ nhỏ, nhưng tính dâm đó của
Huyền không được sửa đổi là do gia đình, bởi vì cách giáo dục của gia đình
24
sai lệch. Đạo đức của con người còn thể hiện qua giáo dục, thế nhưng gia
đình Huyền không giáo dục cho Huyền đến nơi đến chốn, mà trong thiên
ký sự của Huyền, cô đã trách gia đình mình đã không giảng dạy cho mình
để thằng Ngôn dạy cho. Không chỉ ở trong Giông Tố mà cả trong Làm đĩ
đạo đức dường như cũng trở nên tật nguyền. Ta xét phạm trù đạo đức ở
trong gia đình Huyền, trong lúc Huyền đang viết một bài luận Pháp văn tả
cảnh gia đình hạnh phúc thì hoàn cảnh lại trái ngược lại, bố thì dẫn vợ lẽ về
nhà, anh trai thi đi theo bọn mất dạy... Đạo đức gia đình rất quan trọng , nếu
ngay từ đầu gia đình giáo dục cho Huyền về giớ tính thì cuộc đời của
Huyền đâu phải từng bước sa ngã đi vào một con đường trụy lạc. Một quan
niệm về tâm lý và giáo dục, chỉ do đạo đức giả của con người muốn che
dấu đi sự tò mò của con trẻ. Mà Vũ Trọng Phụng trong lời tựa của mình
cho tác phẩm Làm đĩ kết luận.
“Khi các bậc làm cha mẹ sẽ cứ mãi mãi không đủ tư cách truyền lại
cho con cái phần gia tài cao thượng ấy theo quan niệm hoàn toàn đạo đức
và bằng sự thấu triệt đủ cả mọi lẽ sinh lý học, tùy theo niên hạn và trí thông
minh của chúng, thì sự lầm lẫn đáng ghê tởm sẽ cứ mãi mãi làm uế tạp mất
cái quý báu ấy mà tạo hóa đã phú cho ta, và sẽ ngăn cản bọn hậu sinh
không còn biết lần đường nào để đi đến chổ tận thiện, tận mỹ.” [7, 430]
Khi khảo sát Số đỏ ta cũng thấy đó những điều đau lòng mà đạo đức
không chấp nhận được. Có gia đình nào mà lại trông chờ từng ngày người
thân của mình rời xa cõi đời để mà sung sướng tổ chức đám tang, thỏa mãn
những cái sở thích tầm thường của mình chứ. Vậy mà có đấy, gia đình cụ
cố Hồng - một điển hình cho sự tha hóa về mặt đạo đức, một gia đình đại

đãng của Xuân Tóc Đỏ, tính dâm của Huyền, có ý nghĩa phê phán sâu sắc...
Nghị Hách, là một tên ác dâm, hết hiếp dâm vợ người rồi đến hiếp
dâm con gái tơ, rồi đem về nuôi như một lũ gái đĩ. Sự dâm ác đó còn được
thể hiện rõ ở chỗ Nghị Hách là một triệu phú, chuyên dùng sự khủng bố,
chuyên mua tất cả, làm xong tội ác cũng trả bằng tiền. Sau khi hiếp dâm
Mịch, làm hại cả một đời con gái, Nghị Hách cũng đã dùng tiền và thế lực
để che lấp tội ác của mình. Vũ Trọng Phụng đã không quá lời khi gọi Hách
là “con dê già” qua một lối viết tinh tế bằng lối phóng sự như sau:
“THỜI SỰ CÁC TỈNH
Phải chăng là một vụ cưỡng dâm?

Trích đoạn Chủ đề về cái dâm và sự tha hóa nhân cách Không thời gian trong Số đỏ Kết cấu hình tượng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status