BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
PHẠM THỊ PHƯƠNG LOAN
SỰ THA HÓA CỦA CON NGƯỜI TRONG
GIÔNG TỐ VÀ SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
được hoàn thành, tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành sâu sắc tới giảng viên hướng
dẫn khoa học Tiến sĩ Đỗ Hồng Đức - người đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và khích lệ
động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giảng dạy, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy
cô trong khoa Ngữ Văn, Ban Chủ Nhiệm khoa, phòng Quản lí khoa học, thư
viện trường Đại học Tây Bắc, Ban Giám Hiệu trường Đại học Tây Bắc đã tạo
điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ trong học tập và nghiên cứu
khoa học của mình.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn người thân, bạn bè, đặc biệt là tập thể lớp K50
ĐHSP Ngữ Văn đã động viên, ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn
thiện khóa luận này.
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Phương Loan
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.3. Phạm vi nghiên cứu 4
4. Mục đích nghiên cứu của khóa luận 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
5.1. Phương pháp khảo sát, thống kê 4
5.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp 4
5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu. 4
6. Những đóng góp của đề tài 5
7. Cấu trúc của khóa luận 5
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng tôi chọn khoá luận “Sự tha hoá của con người trong Giông tố và
Số đỏ của Vũ Trọng Phụng” vì những lí do cơ bản sau:
1.1. Vũ Trọng Phụng là tác giả có văn nghiệp khá đồ sộ. Mặc dù cuộc đời
ngắn ngủi (27 năm), nhưng trong quãng thời gian cầm bút, ông đã để lại nhiều
tác phẩm xuất sắc ở nhiều thể loại khác nhau, mà nổi bật hơn cả là tiểu thuyết và
phóng sự. Trong nền văn học Việt Nam nói chung và văn học 1930 - 1945 nói
riêng, Vũ Trọng Phụng có nhiều đóng góp. Vì thế, ngay từ khi còn sống và cả
khi đã qua đời, Vũ Trọng Phụng được giới nghiên cứu phê bình rất quan tâm. Đã
có rất nhiều những ý kiến tranh luận trái ngược nhau xung quanh vấn đề Vũ
Trọng Phụng, và trong một thời gian dài tác giả này đã trở thành hiện tượng khá
đặc biệt trong văn học. Vì vậy, việc tìm hiểu về tác giả Vũ Trọng Phụng vẫn là
điều cần thiết. Và cũng chính những điều đặc biệt, bí ẩn về nhà văn đã lôi cuốn
chúng tôi vào với khoá luận này.
1.2. Trong đó vấn đề tha hóa là một trong những vấn đề nổi bật trong
khuynh hướng sáng tác, tác phẩm của ông. Từ trước đến giờ cũng đã có những
nhà nghiên cứu đề cập đến vấn đề tha hoá trong các tác phẩm của Vũ Trọng
Phụng. Trên cơ sở đó, đã tạo nên sự tò mò, thôi thúc niềm đam mê, hứng khởi
của chúng tôi đối với đề tài này.
1.3. Vũ Trọng Phụng là tác giả lớn được giảng dạy trong trường phổ
thông và trường đại học. Thực tế cho thấy, việc giảng dạy tác giả này vẫn gặp
phải những khó khăn. Có lẽ là do số lượng tác phẩm cũng như số tiết học ở
nhà trường phổ thông, chuyên nghiệp con hạn chế. Như ở chương trình phổ
thông chỉ có một trích đoạn “Hạnh phúc của một tang gia” của tiểu thuyết Số
đỏ, hay ở nhà trường chuyên nghiệp thì cũng chỉ chiếm vài ba tiết dạy về Vũ
điểm, phương pháp luận nghiên cứu di sản văn học quá khứ nói chung.
Năm 18 tuổi, Vũ Trọng Phụng đã đến với văn chương qua một loạt truyện
ngắn trong chuyên mục Chuyện thứ hai đăng trên tờ Ngọ báo. Những tác phẩm
ấy vượt qua ý nghĩa thử bút, bước đầu đã phát lộ những dấu hiệu của một tài
năng. Ông bắt đầu được công chúng chú ý từ vở kịch Không một tiếng vang
(1931), các phóng sự Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934). Với các
tác phẩm này đồng nghiệp tôn vinh ông là “ông vua phóng sự đất Bắc”. Báo
chí càng viết nhiều hơn về ông khi chỉ trong năm 1936, ngoài tập phóng sự
nổi tiếng Cơm thầy cơm cô, các truyện ngắn Bộ răng vàng, Hồ sê líu hồ líu sê
sàng… Vũ Trọng Phụng lần lượt cho ra ba tiểu thuyết hiện thực xuất sắc
Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê.
Từ đó cho đến nay, theo sự thống kê chưa đầy đủ, đã có trên dưới 170
bài tiểu luận, phê bình viết về Vũ Trọng Phụng. Ngoài ra có hai cuốn sách viết
về riêng ông. Đó là Vũ Trọng Phụng – mớ tài liệu cho văn sử Việt Nam của Lan
Khai (Nxb Minh Phương, H.1941) và cuốn Vũ Trọng Phụng – nhà văn hiện thực
của Văn Tâm (Nxb Kim Đức, H.1957).
3
Vấn đề tha hoá là một trong những vấn đề nổi bật trong khuynh hướng
sáng tác của các nhà văn đương thời lúc bấy giờ và đặc biệt là trong các sáng tác
của Vũ Trọng Phụng. Giông tố và Số đỏ là hai tác phẩm tiêu biểu thể hiện đậm
nét vấn đề này. Và đây cũng là vấn đề được giới nghiên cứu quan tâm nghiên
cứu. Cũng đã có những công trình nghiên cứu đề cập gián tiếp hoặc trực tiếp đến
vấn đề tha hoá của con người mà tác giả Vũ Trọng Phụng đã nói đến trong hai
tác phẩm Giông tố và Số đỏ.
Trong bài viết “Sự thể hiện con người tha hoá trong các tiểu thuyết hiện
thực của Vũ Trong Phụng” của tác giả Đinh Trí Dũng đã đề cập đến hai tác
phẩm Giông tố, Số đỏ ở khía cạnh con người tha hoá. Với những đánh giá sắc
sảo về sự tha hoá trong hệ thống các nhân vật. Ở đây tác giả Đinh Trí Dũng cũng
đã nhắc đến khái niệm tha hoá thấy rõ theo nghĩa rộng. Đồng thời cũng hoạt kê
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp trong khóa luận của chúng tôi là sự tha hoá
của con người trong hai tác phẩm Giông tố, Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng -
một cây bút hiện thực trào phúng xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực phê phán
1930 - 1945 ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận của chúng tôi tập trung vào nhiệm vụ: tìm hiểu về nguyên nhân,
mức độ của sự tha hoá của các nhân vật trong hai tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Giông tố và Số đỏ phản ánh về nhiều vấn đề của xã hội nhưng khoá luận
này chỉ đi tìm hiểu về sự tha hoá của con người trong hai tác phẩm này.
4. Mục đích nghiên cứu của khóa luận
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục đích làm rõ hơn về thành công
của Vũ Trọng Phụng trong việc phản ánh sự tha hoá của con người. Từ đó, hiểu
sâu hơn về tài năng của Vũ Trọng Phụng. Ta không chỉ thấy ông là “ông vua
phóng sự đất Bắc”, mà còn là nhà “tiểu thuyết bậc thầy”. Qua đó thấy được Vũ
Trọng Phụng xứng đáng là một thiên tài, một vì tinnh tú lấp lánh trên bầu trời
văn học Việt Nam hiện đại. Qua đó ta thấy, hiểu được và đánh giá một cách
xứng đáng về vị trí của ông trong nền văn học Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp khảo sát, thống kê
Ở khoá luận này, phương pháp khảo sát, thống kê được sử dụng để hệ
thống những nhân vật trong hai tác phẩm có sự tha hoá, ở những mức độ và
phạm vi khác nhau.
5.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyên trong quá trình thực hiện đề
tài nhằm làm rõ sự tha hóa của con người trong hai tác phẩm Giông tố và Số đỏ.
5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đây là phương pháp quan trọng nhằm làm
nổi bật, khắc rõ thêm sự tha hóa của con người trong hai tác phẩm Giông tố và Số đỏ.
1.1.1. Cuộc đời
Vũ Trọng Phụng sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912 (tức ngày 11 tháng 9
năm Nhâm Tý) trong một gia đình rất nghèo ở Hà Nội (theo cách nói của Ngô
Tất Tố là nghèo “gia truyền”).
Ông thân sinh là Vũ Văn Lân, nguyên quán ở làng Hảo (tức làng Bần, Yên
Nhân, huyện Mĩ Hào, tỉnh Hưng Yên) làm nghề thợ điện ở xưởng xe ôtô
Ch.Biollot ở Hà Nội. Ông mất lúc Vũ Trọng Phụng mới 7 tháng tuổi.
Bà thân sinh là Phạm Thị Khách, sống bằng nghề khâu vá thuê, người
làng Vẽ, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông nay thuộc Thành phố Hà Nội. Bà ở vậy
nuôi con từ năm 24 tuổi, đây là một người mẹ chí từ của một người con chí hiếu.
Vũ Trọng Phụng lớn lên trong tình yêu thương ấm áp của mẹ và được cắp
sách đến trường. Năm 1921, Tý - tên sữa của Vũ Trọng Phụng bắt đầu học Pháp
văn ở trường Hàng Vôi (nay là trường viết văn Nguyễn Du), sau đó nữa học ở
trường Hàng Kèn (nay là chỗ trường Quang Trung), sau đó nữa là trường Sinh Từ.
Tuổi thơ của Vũ Trọng Phụng không được may mắn. Dù ở trong môi
trường nhà trường, nhưng do hoàn cảnh xuất thân mồ côi, nghèo khó và tách
biệt với đám học trò con nhà giàu không biết đến tình thương, nên Vũ Trọng
Phụng mang trong mình sự mặc cảm, yếu đuối và đơn độc. Và chính sự mặc
cảm đó đã ngày một lớn dần trong lòng cậu học trò thơ ngây để rồi tích đọng lại
thành nỗi bi phẫn, uất ức, thù hằn với đời, với xã hội.
Năm 1926, lúc 15 tuổi, Vũ Trọng Phụng đã đỗ bằng Tiểu học. Trong hoàn
cảnh gia đình rất bần cùng, Vũ Trọng Phụng chọn thi vào trường Sư phạm sơ
cấp với hi vọng có học bổng để đỡ phần nào nỗi vất vả cho mẹ nhưng không
thành. Từ đó Vũ Trọng Phụng phải bươn trải kiếm sống, lặn lội với hiện thực
nghiệt ngã. Khoảng tháng 10 năm 1926, Vũ Trọng Phụng xin được vào làm thư
kí ở nhà hàng Godard (chỗ Bách hóa tổng hợp bây giờ) nhưng chỉ được vài
tháng ông bị sa thải do say mê văn chương mà ít chú tâm vào chuyên môn. Sau
đó vào năm 1927 ông lại xin được chân đánh máy chữ ở nhà in Viễn Đông (Viễn
Đông ấn quán - IDEO). Nhưng do mê văn chương mà Vũ Trọng Phụng dành
thời gian việc công để viết văn, viết báo, nên chỉ sau 2 năm ông lại bị mất việc.
đằm thắm cũng là chịu ảnh hưởng của người mẹ thuộc nhiều ca dao, dân ca và
của quê hương xứ Huế với những điệu hò mái đẩy hết sức thiết tha. Vì vậy tìm
hiểu về con người của một nhà văn sẽ giúp chúng ta giải mã được dễ dàng
những tư tưởng của nhà văn ấy phản ánh trong tác phẩm.
Từ những lí luận trên, khi soi chiếu vào tác giả Vũ Trọng Phụng ta thấy
những điểm cần lưu ý về con người như sau:
Vũ Trọng là một con người thông minh từ thuở nhỏ. Lớn lên ông cũng đã
thể hiện mình là một cây bút đa tài. Vũ Trọng Phụng tham gia viết nhiều thể loại
8
văn học: kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, dịch thuật… và ở thể loại nào
Vũ Trọng Phụng cũng có được những thành công nhất định. Đặc biệt Vũ Trọng
Phụng nổi bật với mảng tiểu thuyết và phóng sự.
Do phần lớn cuộc đời Vũ Trọng Phụng sống ở thành thị, nên ông có một
vốn sống vô cùng phong phú ở nơi đây. Xuất thân trong cảnh nghèo hèn, lại phải
quay cuồng, chầy chật, vật lộn với những cuộc sống mưu sinh hằng ngày, nên
Vũ Trọng Phụng có cơ hội gần gũi với những người nghèo khổ thành thị. Ông
có dịp tiếp xúc thường xuyên với những hạng cùng đinh dưới đáy xã hội, đó là
con sen, thằng ở, là đám dân nghiện hút, bọn lưu manh, bon gái điếm… nên ông
có cái nhìn rất chân thật về họ. Tuy nhiên Vũ Trọng Phụng lai không được gần
gũi, tiếp xúc với những người lao động chân chính với sự trong sáng, khỏe
khoắn ở họ. Cho nên Vũ Trọng Phụng chưa có cái nhìn bao dung về người lao
động, những trang viết của ông về người lao động phần nhiều là méo mó, phiến
diện. Đồng thời Vũ Trọng Phụng cũng thông thuộc những hạng người thuộc
tầng lớp trên: bọn nghị viên, bọn thầu khoán, bọn me tây, bọn tư sản, bọn viên
chức, các loại người trong bộ máy cai trị đương thời… Đời sống xã hội ấy đã
cung cấp cho Vũ Trọng Phụng nhiều hình mẫu nhân vật, gây ra trong ông cái ý
thức mạnh bạo, sự cần thiết phải bày tỏ thái độ trước một thực trạng xã hội “vô
nghĩa lí”, đầy dẫy những tệ nạn, cũng như ý thức về thân phận và tình cảnh
nghèo khổ cơ cực của mình.
nhà văn, làm nảy sinh ở họ cảm hứng sáng tác. Nên việc lựa chọn những tác
động nào, những mảng hiện thực cuộc sống nào để phản ảnh trong tác phẩm
chính là xuất phát từ quan niệm nghệ thuật. Hay nói cách khác, quan niệm nghệ
thuật chính là cái để nhà văn lựa chọn phạm vi hiện thực để cấu tứ thành tác
phẩm văn học. Và mỗi một nhà văn lại có cách thể hiện quan niệm nghệ thuật
rất riêng, có người bộc lộ trực tiếp, có người bày tỏ gián tiếp. Nếu như Nam Cao
thường hé mở quan niệm nghệ thuật của mình thông qua phát ngôn hoặc suy
nghĩ của các nhân vật thì Vũ Trọng Phụng lại thể hiện nó một cách trực tiếp
thông qua các bài viết của mình.
Ngay từ khi bước vào con đường văn chương, Vũ Trọng Phụng đã khẳng
định cho mình khuynh hướng “tả thực” để theo đuổi đến cùng. Nghĩa là ông viết
về cuộc sống với tất cả những gì vốn có của nó, không màu mè, không tô vẽ,
không bôi hồng hay nhào nặn nó cho sáng sủa, cho tốt đẹp. Theo ông người viết
văn vác trên vai mình một chiếc gương khổng lồ để đi vào cuộc sống mà phản
ánh cho thực chất, triệt để cuộc sống ấy, dù cho nó có nhiều ung nhọt, xấu xa.
Trong bài viết “Thư ngỏ cho ông Thái Phỉ, chủ báo Tin văn về bài “Văn chương
dâm uế (in trên Hà Nội báo số 38 ngày 23/9/1936) Vũ Trọng Phụng có viết:
“Tôi là một trong những nhà văn sĩ tả chân” [1,205].
Như vậy Vũ Trọng Phụng đã khẳng định mình là một văn sĩ “tả chân” cũng
có nghĩa với ông viết về hiện thực xã hội trở thành một niềm thôi thúc, một nhu cầu
và trách nhiệm của người cầm bút. Hiện thực cuộc sống với nhan nhản cảnh tượng bỉ
ổi, đê hèn đã thẩm thấu vào tư tưởng Vũ Trọng Phụng để nó bật ra thành những
trang văn cay nghiệt. Những cảnh bê tha nghiện hút, những kẻ sống không lí tưởng
chỉ biết chúi đầu vào cờ bạc, ăn chơi, những kẻ trưởng giả chỉ quen dâm dật, hà hiếp
10
người nghèo là thế giới nhân vật chính trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng. Có thể
nói, tả thực cái xã hội “chó đểu”, “khốn nạn” Vũ Trọng Phụng không bỏ sót đối
tượng nào. Tất cả trở thành đối tượng để ông trút nỗi căm hờn của mình. Do vậy khi
viết về bọn trưởng giả, Vũ Trọng Phụng rất tài tình trong việc phanh phui bản chất
“nàng”, bởi chữ ấy nó thi vị lắm. Ông chỉ ra các tai hại của kiểu viết lãng mạn “tô
11
điểm cho gái đĩ ấy cái thi vị mà gái đĩ ấy không có, đến nỗi đọc xong chuyện người
ta chỉ thấy một gái đĩ làm gương cho thế gian noi theo!” [1,215].
Trong quan điểm nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng rất trọng sự thực, nhà
văn phải là người dám nói lên những vết thương của xã hội cho mọi người nghe,
không lảng tránh, không trốn chạy hiện thực. Đi ngược lại với điều ấy là văn
chương giả dối. Cho nên trong quan niệm nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng
không có chỗ cho những điều thanh cao, tao nhã, những thứ ấy chỉ là loại văn
chương xoàng xĩnh mà thôi.
Tuy vậy, do bị chi phối bởi tâm trạng bi quan, bi phẫn và tư tưởng định
mệnh chủ nghĩa cho nên cái nhìn của Vũ Trọng Phụng về hiện thực nhiều khi
lệch lạc, thậm chí là cực đoan, dẫn đến thế giới quan hay chính là quan điểm
nghệ thuật của ông có những biểu hiện sai lầm, thiếu nhất quán. Nhất là trong
cách nhìn của ông về con người là rất nghiệt ngã, chỉ toàn người xấu: “Riêng tôi,
xã hội này tôi chỉ thấy là khốn nạn, quan lại tham nhũng, đàn bà hư hỏng, đàn
ông dâm bôn, một tụi văn sĩ đầu cơ xảo quyệt” [1,219].
Công bằng mà nói thì trong thế giới quan của Vũ Trọng Phụng, mặc dù thống
nhất trong khuynh hướng “tả chân”, nhưng tư tưởng của ông cũng có chông chênh
dao động, cái nhìn về xã hội, về con người có phần đen tối. Song những hạn chế ẩy
cũng không làm mờ nhạt được một cây bút sắc sảo, tài năng, một người có quan
điểm hết sức tiến bộ và dũng cảm, dám nhìn thẳng vào hiện thực xã hội để phản ánh
nó một cách sinh động, chân thực, cho dù xã hội ấy là thối nát, dơ dáy.
1.3. Sự nghiệp sáng tác
Vũ Trọng Phụng là nhà văn “Tài danh bạc mệnh”, sự ra đi của ông đúng vào
lúc tài năng đang ở độ chín nhất, để lại niềm thương tiếc vô hạn cho nhiều đồng
nghiệp cũng như nhiều độc giả.
Mặc dù sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng diễn ra vẻn vẹn chưa đầy 10
năm, nhưng ông đã để lại cho hậu thế một di sản văn học đồ sộ, trong đó có
Trước hết, đó là khuynh hướng “tả chân” và tố cáo xã hội, thể hiện rõ
trong phần lớn các tác phẩm. Hơn hẳn các nhà văn trước năm 1930, Vũ Trọng
Phụng đã táo bạo, xông xáo trong việc “lật mặt trái” dơ dáy của xã hội thuộc địa
thối nát khi đó. Ngay từ sớm ông đã thể hiện mình là kẻ thù không đội trời
chung của xã hội đồng tiền. Giá trị hiện thực chủ yếu của sáng tác Vũ Trọng
Phụng thời kì này phần nào phản ánh được tình trạng bần cùng, phá sản, lưu
manh hóa của tầng lớp tiểu tư sản, dân nghèo thành thị và nông dân trong những
năm khủng hoảng kinh tế, tình trạng giàu - nghèo bất công và những tệ nạn
trong xã hội thành thị đương thời. Qua đó ông bày tỏ thái độ ghê gớm đến thói
lừa lọc, đểu giả, bất nhân, chà đạp lên chuẩn mực đạo đức, lên luân thường đạo
lí, chỉ biết đến tiền và nhục dục.
Tuy vậy, thời kì này Vũ Trọng Phụng cũng bộc lộ nhiều mặt yếu. Đó là
phạm vi phản ánh còn hẹp, đối tượng phản ánh chủ yếu là đám lưu manh và dân
nghèo ở thành thị; chưa đi vào đề tài hiện thực rộng lớn, điển hình, chiều sâu của
sự phản ánh cũng như tình cảm của nhà văn còn hạn chế.
13
Nhà văn lên án sự bất công, thối nát của xã hội, song chưa nhìn rõ mối
mâu thuẫn giai cấp và nguyên nhân sâu xa của những tệ nạn xã hội như lưu
manh, mại dâm… Những lời kết án đồng tiền tuy đanh thép nhưng chưa chỉ ra
được nguyên nhân căn bản khiến đồng tiền lũng đoạn xã hội là do thế lực sử
dụng đồng tiền.
Sáng tác Vũ Trọng Phụng thời kì này còn có những mâu thuẫn. Trong khi
phơi bày những ung nhọt của xã hội, phản ánh cuộc sống khốn khổ của người
nghèo, những nạn nhân của xã hội, ngòi bút Vũ Trọng Phụng rơi vào chủ nghĩa
tự nhiên lạnh lùng và có thái độ miệt thị đối với họ. Lối viết của Vũ Trọng
Phụng vẫn còn sống sượng hay đề cập đến cái dâm của con người như loài động
vật. Cũng trong thời kì này, tư tưởng bi quan định mệnh bắt đầu chi phối đến
sáng tác của Vũ Trọng Phụng, mặc dù nó chưa thực sự đậm nét và phổ biến. Chỉ
trong Dứt tình, tư tưởng này mới trở thành tư tưởng chủ đạo của tác phẩm.
thuộc đủ mọi tầng lớp, địa vị xã hội, có tính cách và số phận khác nhau.
Cũng trong năm 1936, Vũ Trọng Phụng còn cho ra mắt tiểu thuyết Làm đĩ
được viết theo kiểu “tiểu thuyết thực nghiệm”. Tuy nhiên cuốn tiểu thuyết này
không gây ra được nhiều chú ý như Giông tố hay Số đỏ
Ngoài ra, thời kỳ này, Vũ Trọng Phụng còn có hai phóng sự Cơm thầy
cơm cô và Vẽ nhọ bôi hề.
Sở dĩ trong thời kì này bút lực của Vũ Trọng Phụng đạt tới mức đỉnh cao
là do sự tác động mạnh mẽ của Mặt trận dân chủ và sách bao tiến bộ. Mặt khác
cũng là do bản thân Vũ Trọng Phụng đã vượt qua được sự bi quan phẫn uất của
chính mình.
Tựu chung lại, quá trình sáng tác của Vũ Trọng Phụng thời kỳ này có thể
được khác quát ở những điểm cơ bản sau:
Sự thành công đáng kể đầu tiên của Vũ Trọng Phụng thời kỳ này là ông
đã chú ý lên án giai cấp thống trị, lột trần bản chất dâm ô, đểu cáng, độc ác của
chúng. Đây là điều chưa có ở giai đoạn trước. Nhà văn đã phản ánh được hiện
thực trên bình diện mâu thuẫn xã hội, đả kích lực lượng thống trị xã hội, đồng
thời ông cũng phần nào tái hiện được biến chuyển, sự phân hóa phức tạp, dữ dội
của các giai cấp, nhất là quá trình tích lũy tư bản, phất lên làm giàu, leo lên địa
vị cao sang và quá trình bần cùng hóa, tha hóa phổ biến của các tầng lớp bị trị.
Nhất là Vũ Trọng Phụng không chỉ dừng lại ở việc nêu hiện tượng như giai đoạn
trước mà ông đã đi sâu khai thác những mối quan hệ bên trong hiện tượng được
phản ánh. Và ông đã thấy được người dân nghèo là nạn nhân của giai cấp thống
trị. Đáng chú ý là ở ba tiểu thuyết Giông tố , Số đỏ , Vỡ đê đều dụng chạm đến
hệ thống trật tự xã hội, đả kích trực tiếp hoặc gián tiếp vào bộ máy thực dân
phong kiến. Đồng thời ông cũng đã chú ý đến cuộc sống của người dân nghèo
chịu nhiều thiệt thòi và sự phản kháng của họ. Ở Giông tố là việc đi kiện của gia
đình Thị Mịch, trong Vỡ đê là đám dân chúng biểu tình có tổ chức.
Về phương diện nghệ thuật, thời kỳ tài năng và sáng tạo của Vũ Trọng
Phụng được phát triển mạnh mẽ nhất, ông đã xây dựng được một số nhân vật
điển hình sinh động bất hủ về xã hội tư bản thành thị. Những Vạn Tóc Mai,
thái độ hăng hái bao nhiêu thì giờ đây lại hời hợt bấy nhiêu.
Quay lưng với chính trị, Vũ Trọng Phụng lại tiếp tục viết về chủ đề sức
mạnh của đồng tiền, về sự tha hóa của những kẻ hám tiền. Đó là xã hội mà kẻ
không có tiền chỉ là con số không vô nghĩa lí, bị nhân tình bỏ rơi, bị tước quyền
làm bố (Quyền làm bố). Vì một đồng bạc, một người đứng đắn có học cũng có
thể trở mặt, cạn tàu ráo máng với bạn bè, hàng xóm láng giềng xưa kia thân thiết
(Một đồng bạc). Còn khi “trong tay đã có sẵn đồng tiền” thì con người bỗng đủ
mọi quyền uy, được mọi người kính nể, dù có làm việc càn dỡ thì xung quanh
16
cũng cứ xúm lại suy tôn. Đồng tiền ngự trị chi phối đến cả hành vi con người
(Trúng số động đắc). Một huyện ăn tết là phóng sự điều tra khá chân thực, miêu
tả lại thủ đoạn đục khoét ở huyện nha vào dịp Tết.
Những sáng tác của Vũ Trọng Phụng thời kì mặc dù có ý nghĩa tố cáo, thế
nhưng sự phê phán đồng tiền vẫn còn trừu tượng, mất đi ý nghĩa xã hội vì không
nhằm vào lực lượng sử dụng đồng tiền là tầng lớp thống trị, vào bản chất quan
hệ xã hội mà nhằm vào tâm lí “người đời” chung chung. Ông coi bản tính con
người ích kỉ, đó là chủ đề trở đi trở lại trong nhiều truyện ngắn, truyện dài,
truyện vui của Vũ Trọng Phụng thời kì này (Một đồng bạc, Cái ghen đàn ông,
Từ lí thuyết đến thực hành…)
Nếu như thời kì trước Vũ Trọng Phụng sắc sảo, xông xáo là thế thì giờ
đây lại tẩn mẩn đi vào những đề tài không có ý nghĩa xã hội gì (Đi săn khỉ, Lấy
vợ xấu, Một con chó hay chim chuột…)
Quay lưng với xã hội chính trị, ông đi vào phân tích tâm lí với quan điểm
bi quan sâu sắc về con người, coi bản chất con người là ích kỉ, khốn nạn, phủ
nhận khả năng con người có thể chiến thắng cái xấu và cải tạo xã hội. Dường
như ở thời kì này Vũ Trọng Phụng đã buông lỏng tay bút, ông không còn trụ
vững trên con đường hiện thực chủ nghĩa nữa. Ngòi bút “tả chân” của Vũ Trọng
Phụng vì thế trở nên mờ nhạt, thiếu sức sống.
Tiểu kết: Vũ Trọng Phụng là một nhà văn có cuộc đời bất hạnh, nhưng
báo số 1. Nó là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm, từng trải của Vũ Trọng
Phụng là sản phẩm của sự công hưởng giữa hiện thực cuộc sống bế tắc và tư
tưởng bi quan định mệnh của tác giả.
Còn Số đỏ, được đăng trên Hà Nội báo từ số 40 (ra 7/10/1936). Lê Cường
in thành sách lần thứ nhất năm 1938. Đây là thời điểm diễn ra nhiều biến động
trong tình hình xã hội và trong bản thân nền văn học.
Những năm 1930, phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân mặc
dù sôi nổi, nhưng liên tục bị thất bại. Thực dân Pháp tăng cường khủng bố, đàn
áp dìm các cuộc đấu tranh đó trong bể máu. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái 1930 dù
gây được tiếng vang nhưng kết cục lại rất bi thảm với hàng loạt cái chết của
những người cầm đầu. Sau vụ bạo động ở Yên Bái đó không khí trong xã hội trở
nên ngột ngạt, tù túng, người dân chìm nghỉm trong kiếp nô lệ. Những năm 1931
- 1935 là những năm thoái trào của cách mạng sau cao trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh
1930 - 1931, đây là thời kỳ có thể nói là khó khăn nhất trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, Đảng ta phải rút vào hoạt động bí mật và phải tuyên bố
giải tán để hoạt động dưới dạng “ Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác” . Các phong
trào nổi dậy của quần chúng ngày càng yếu ớt và liên tục bị đàn áp một cách hết
sứ dã man. Những phong trào cách mạng đó không những không làm lung lay
chủ nghĩa thực dân mà còn khiến chúng thêm điên cuồng và ngày càng mạnh tay
hơn trong việc đàn áp.
Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng của Vũ Trọng Phụng, khiến
ông không có cái nhìn lạc quan, tin tưởng vào vai trò của quần chúng, với ông, họ
18
chỉ là những đám đông thấp cổ bé họng, không có khả năng cách mạng. Vì vậy tư
tưởng hoài nghi về người lao động trở nên sâu đậm trong Vũ Trọng Phụng.
Thêm nữa là cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 trên phạm vi thế giới
cũng gây rối loạn trong xã hội Việt Nam. Nước ta vốn đã khủng hoảng, nay lại
thêm nạn khủng hoảng kinh tế, khiến cho mức độ khủng hoảng đó càng thêm
trầm trọng. Hàng loạt các doanh nghiệp bị phá sản, công nhân thất nghiệp tràn
19
cứ giằng co bên nọ bên kia, cứ ngẩn ngơ chẳng rõ, như Thị Mịch đến nhà
Nghị Hách, như Long xuống nhà bà Nghị ở Hải Phòng, như bố con Nghị
Hách bắt quả tang bà Nghị ngủ với hay đến thằng Cung Văn, như Nghị Hách
bỗng gặp lại Hải Vân, nghe Hải Vân nói vanh vách về tiền vận, hậu vận của
mình, như cả làng Quỳnh Thôn vừa hôm nào chứng kiến tai họa giáng xuống
gia đình cụ Đồ Uẩn đã lại được mời đến ăn cỗ cưới linh đình cô Mịch lấy
chính người đã gieo tai họa cho mình.
Nhưng số phận thay đổi, những tính cách chuyển biến mau lẹ, đột ngột
như giẫm đạp lên nhau, huých vào nhau, sinh ra những cuộc cãi nhau, chửi
nhau, chơi xỏ nhau, tạo ra những màn kịch để tô đậm cho sự thối nát, sự khốn
nạn của những con người tráo trở, đổi trắng thay đen, bị tiền và danh vọng
điều khiển.
Giông tố đã bày ra đủ cảnh tượng điên đảo, láo nháo, quay cuồng như một
cơn lốc. Nó làm tanh bành tất cả, lật tẩy tất cả mọi thứ mặt nạ đắp điếm lên một
cái thực chất bất công, tàn ác, đểu giả, thối nát, hết sức vô nghĩa lí của xã hội
Việt Nam thời thuộc Pháp.
Như vậy, tiểu thuyết Giông tố đã bao quát hiện thực trên phạm vi tương
đối rộng, dựng nên một bức tranh toàn cảnh với nhiều chi tiết hiện thực, hiện
thực đến phũ phàng. Đó là sự đông đúc phức tạp của một xã hội với đủ các
lớp người, hạng người khác nhau và tất cả đều là sản phẩm của chính xã hội
nhố nhăng.
Và cũng trong Giông tố đã bộc lộ khá hệ thống sự tha hóa của con người
ở mọi khía cạnh, mọi tầng lớp. Nhân vật, là hình thức khái quát hiện thực cuộc
sống, là hình thức thể hiện quan điểm của nhà văn về con người. Với các tiểu
thuyết của Vũ Trọng Phụng, người đọc không thể quên được thế giới nhân vật
độc đáo của ông, một thế giới đông đúc với đủ các kiểu người, đủ các khuôn
mặt, chen chúc, ồn ào, náo loạn trong bối cảnh xã hội đầy thăng trầm, điên đảo.
Trong nền chung đó, nhiều nhân vật của Vũ Trọng Phụng đã bước ra ngoài trang
đỏ, Văn Minh, TYPN, ông Phán mọc sừng, những người đàn bà “trinh tiết” như
cô Hoàng Hôn, Tuyết, bà Phó Đoan, những bộ y phục như Ngây thơ, Chinh
phục, Ỡ ờ, Hãy chờ một chút…; nhân danh “văn minh”, “tiến bộ”, “cải cách xã
hội” mà thực chất chỉ là ăn chơi trụy lạc, làm tiền, chà đạp trắng trợn lên mọi nề
nếp đạo đức truyền thống. Ngòi bút của Vũ Trọng Phụng cũng không quên đề
cập tới “phong trào thơ mới” lãng mạn, khuynh hướng nghệ thuật “hũ nút”, tới
những tổ chức do thực dân đỡ đầu như Hội Chấn hưng Phật giáo, Hội Khai trí
tiến đức, tới cả bộ máy chính quyền thực dân, từ bọn cảnh sát đến Phủ Toàn
quyền; thậm chí, các quan Toàn quyền, Thống sứ, vua ta, vua Xiêm cũng bị đưa
lên sân khấu trò hề Số đỏ. Do đó, Số đỏ tuy chỉ tập trung phê phán xã hội tư sản
về phương diện đạo đức, sinh hoạt - đây là một hạn chế - song tác phẩm vẫn có
màu sắc chính trị thời sự và có tính chất chiến đấu rõ rệt. Số đỏ đã đưa ra hàng
loạt chân dung biếm họa rất mực sinh động về gần đủ loại nhân vật tiêu biểu cho
cái xã hội tư sản nhố nhăng đó: từ mụ me Tây đĩ thõa dơ dáng đến cô gái mới
lãng mạn hư hỏng một cách có lí luận; từ ông chủ hiệu may làm “cách mệnh
trong vòng pháp luật” bằng những mốt y phục phụ nữ tối tân đến nhà mĩ thuật
hăng hái cổ động Âu hóa; từ cụ cố Hồng hiếu danh hủ lậu và đần độn đến ông