QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG Y TẾ VIỆT NAM
ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 trình bày tại đại hội đại
biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nêu rõ về vấn đề văn hoá xã hội: “Xây dựng
xã hội dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, công bằng, văn minh. Đến năm 2020, chỉ
số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; Tốc độ tăng
dân số ổn định ở mức khoảng 1%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; đạt 9 bác sỹ và
26 giường bệnh trên một vạn dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; Tập trung
phát triển mạnh hệ thống chăm sóc sức khoẻ và nâng cao chất lượng dịch vụ y
tế. Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá để phát triển
nhanh hệ thống y tế công lập và ngoài công lập; hoàn chỉnh mô hình tổ chức và
củng cố mạng lưới y tế cơ sở”.
Nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân,
Bộ Y tế xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống cơ sở y tế giai đoạn đến 2020
và tầm nhìn 2030 để cụ thể hoá đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước
trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở thời kỳ tiền Công nghiệp
hoá - Hiện đại hoá đất nước.
Phát triển y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển. Nhà nước
tiếp tục tăng đầu tư cho hệ thống y tế công lập, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá
để phát triển nhanh hệ thống y tế ngoài công lập; hoàn chỉnh mô hình tổ chức và
củng cố mạng lưới y tế cơ sở. Nâng cao năng lực của trạm y tế xã, hoàn thiện
bệnh viện tuyến huyện, nâng cấp bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến Trung ương.
Tiếp tục phát triển trung tâm y tế chuyên sâu tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, Huế, Đà Nẵng và Cần Thơ. Xây dựng một số cơ sở khám, chữa bệnh có
tầm cỡ khu vực. Khuyến khích các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế
thành lập các cơ sở y tế chuyên khoa có chất lượng cao. Khắc phục tình trạng
quá tải ở các bệnh viện, đặc biệt là bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh.
Đổi mới cơ chế hoạt động, nhất là cơ chế tài chính của các cơ sở y tế công lập
theo hướng tự chủ, công khai, minh bạch. Chuẩn hoá chất lượng dịch vụ y tế,
nhiệt đới gió mùa điển hình với hai mùa: mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5, mùa
mưa từ tháng 6 đến tháng 11. Quanh năm nhiệt độ vùng này cao, khí hậu ít biến
đổi nhiều trong năm.
Đặc điểm khí hậu Miền Trung, chịu ảnh hưởng của khí hậu của cả hai
miền: mùa mưa và mùa khô không cùng lúc với mùa mưa và khô của hai miền
khí hậu còn lại. Mùa hè, trong khi cả nước có lượng mưa lớn nhất, thì miền khí
hậu này lại đang ở thời kỳ khô nhất.
Khí hậu có quan hệ mật thiết đối với sức khoẻ con người. Trong thời kỳ
chuyển mùa, thời tiết thường có biến động lớn, đột ngột.
2. Kinh tế:
Nền kinh tế nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô
cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền
kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế bình quân hàng năm trong 5 năm qua (2006 – 2010) đạt 7%. Tổng vốn
2
đầu tư toàn xã hội gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2001 – 2005, đạt 42,9% GDP.
Mặc dù trong bối cảnh khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu,
nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đạt cao. Quy mô tổng sản
phẩm trong nước (GDP) năm 2010 tính theo giá thực tế đạt 101,6 tỉ USD, gấp
3,26 lần với năm 2000; GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD. Hầu hết các
ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá. Thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện;
đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục được thể chế hoá thành pháp luật, cơ chế
chính sách, môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện.
Kinh tế phát triển và ổn định là điều kiện tăng đầu tư cho y tế và tăng
cường sức khoẻ cho nhân dân. Theo quy luật chung, khi điều kiện kinh tế càng
phát triển thì tỷ lệ đầu tư cho y tế cũng càng tăng lên.
3. Xã hội:
Bên cạnh những thành quả đạt được trong quá trình chuyển đổi sang nền
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đã nổi lên những vấn đề mang tính xã
nước ta tuy còn trẻ so với một số nước công nghiệp phát triển, nhưng đang có xu
hướng già hoá so với các nước trong khu vực và mất cân bằng giới tính khi sinh
ngày càng cao. Quy mô dân số lớn và tiếp tục tăng, nên mật độ dân số Việt Nam
tăng từ 231 người/km2 năm 1999 lên 262/người/km² năm 2010. Cơ cấu dân số
biến đổi mạnh, tỷ trọng dân số của nhóm dưới 15 tuổi giảm từ 33% năm 1999
xuống còn 24,8% năm 2010. Ngược lại tỷ trọng dân số của nhóm 15 – 59
tuổi( nhóm chủ lực của lực lượng lao động) lại tăng từ 59% năm 1999 lên
65,8% năm 2010 và nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên tăng từ 8% năm 1999 lên
9,4% năm 2010. Chỉ số già hoá dân số (Tổng số người trên 60 tuổi/người dưới
15 tuổi) tăng 11% từ 24,5% năm 1999 lên 35,9% năm 2010. Tỷ lệ ngưòi cao
tuổi trong dân số cao sẽ làm tăng nhu cầu đảm bảo các phúc lợi xã hội cũng như
các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người già trong thời gian tới. Đồng thời,
nhóm phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ cũng rất lớn sẽ ảnh hưởng nhiều tới nhu cầu
sử dụng dịch vụ sức khoẻ sinh sản và chăm sóc trẻ em.
Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh là một vấn đề quan trọng cần
ưu tiên giải quyết. Tỷ số giới tính khi sinh đã tăng lên trong 10 năm, rõ nét nhất
là trong vòng 5 năm qua. Đến 2010 ước tính đã tăng lên 111 bé trai /100 bé gái.
Các nguyên nhân là tâm lý “ trọng nam khinh nữ”, cha mẹ già thường sống dựa
vào con trai và duy trì dòng họ tộc nối dõi tông đường, kèm theo đó là các biện
pháp chẩn đoán phát hiện giới tính sớm ngày càng phổ biến ở cả cơ sở y tế công
lập và tư nhân.
2. Công nghiệp hoá, đô thị hoá, di cư và thay đổi lối sống:
Công nghiệp ngày càng phát triển, diện tích đất nông nghiệp thu hẹp, tình
trạng người dân lao động ngày càng gia tăng lên thành phố tìm kiếm việc làm vì
vậy, dân số tăng cơ học ở các đô thị ngày càng cao, dân số vùng nông thôn giảm
dần. Số người di cư trong 5 năm qua là 3,3 triệu người, tăng 163 000 người. Sau
10 năm (1999 – 2009) tổng số người di cư tăng lên 1,4 triệu người. Đến nay đã
có 29,6% dân số sống ở khu vực thành thị (năm 1999 là 23,7% ). Sự gia tăng
nhịp độ của cuộc sống là yếu tố nguy cơ cho các bệnh tâm thần, tim mạch và
bệnh không lây nhiễm khác. Công nghiệp hoá tăng nguy cơ tiếp xúc với các yếu
xuất công nghiệp, nông nghiệp, chế biến thực phẩm liên doanh, liên kết với
nước ngoài, tư nhân phát triển ít quan tâm chú trọng đến việc đảm bảo vệ sinh
môi trường gây ô nhiễm tại khu đông dân cư thành phố.
B. THỰC TRẠNG VỀ SỨC KHOẺ NHÂN DÂN VÀ MÔ HÌNH
BỆNH TẬT:
1. Tình trạng sức khỏe
Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình nhưng ở mức thấp, với
tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm trên 6%. Những tác động của khủng hoảng
kinh tế thế giới cũng như thay đổi khí hậu làm chậm quá trình phát triển kinh tế
xã hội, qua đó ảnh hưởng đến việc thực hiện các chỉ tiêu sức khỏe đã đặt ra. Mặc
dầu vậy, trong những năm qua tình trạng sức khỏe của người dân Việt Nam đã
có những cải thiện rõ rệt, thể hiện ở một số chỉ số sức khỏe cơ bản như tuổi thọ
trung bình, tỷ suất tử vong trẻ em, tỷ số tử vong mẹ, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em
dưới 5 tuổi.
1.1. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi
5
Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi cũng giảm nhanh, từ 30‰ (năm 2001)
xuống còn 15,8‰ (năm 2010), đã đạt mục tiêu trong Kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội giai đoạn 2006-2010 là giảm tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi xuống còn
16‰.
1.2. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi
Số liệu thống kê của Bộ Y tế cho thấy tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi giảm
từ 42‰ năm 2001, xuống 27,5‰ năm 2005 và đến năm 2010 còn 23,8‰, đạt
mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2001-2010. Theo mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ,
đến năm 2015, Việt Nam cần giảm tỷ suất này xuống còn 19,3‰. Nếu tiếp tục
giữ được tốc độ giảm tỷ suất này đến năm 2015, Việt Nam sẽ đạt được Mục tiêu
Phát triển Thiên niên kỷ (MDG).
Hình 1: Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi (‰) giai đoạn 2001-2010
1.3. Về tỷ số tử vong mẹ
Về tỷ số chết mẹ, tỷ số này giảm từ 165/100.000 trẻ đẻ sống (năm 2001 -
2009 như đã đề cập ở trên, Tây Nguyên, Tây Bắc vẫn là các vùng có tỷ lệ suy
dinh dưỡng trẻ em cao nhất (kèm theo phụ lục). Tuy nhiên, chỉ số khác biệt giữa
các vùng về tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi giữa 2005 và 2009 cũng đã có xu
hướng giảm khá rõ rệt. Đây có thể là do đầu tư cho y tế ở giai đoạn này tăng khá
mạnh cho các vùng khó khăn (Tây Nguyên, Tây Bắc, Đồng bằng Sông Cửu
Long…) thông qua ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ và các dự án
ODA.
Còn một số lượng lớn trẻ em Việt Nam tử vong hàng năm. Mặc dù tử vong
trẻ em nước ta đã giảm một cách đáng kể nhưng với cơ cấu dân số có tỷ lệ trẻ
em cao (trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 6,7% dân số, ước tính khoảng 6.000.000 trẻ và
số trẻ sơ sinh ra đời hằng năm từ 1.200.000 đến 1.500.000) nên số trẻ tử vong
vẫn còn rất cao. Theo đánh giá của UNICEF
1
, hằng năm vẫn có tới 31.000 trẻ
dưới 5 tuổi tử vong, trong đó ước tính khoảng 16.000 là trẻ sơ sinh.
Suy dinh dưỡng trẻ em (thể nhẹ cân) mặc dù được cải thiện rõ rệt, song
vẫn còn cao so với nhiều nước trong khu vực. Suy dinh dưỡng thể thấp còi còn
khá nghiêm trọng với 31,9% trẻ em bị suy dinh dưỡng thể thấp còi. Suy dinh
dưỡng thấp còi đang khá phổ biến tại tất cả các vùng sinh thái trên cả nước
2
. Về
hậu quả, suy dinh dưỡng thấp còi là một dạng suy dinh dưỡng mãn tính, để lại
hậu quả lâu dài về thể chất khi trưởng thành, dễ mắc phải các bệnh khi trưởng
thành như: thừa cân béo phì, đái tháo đường và một số bệnh khác. Suy dinh
dưỡng thấp còi cũng liên quan chặt chẽ đến tử vong của trẻ em. Giảm suy dinh
dưỡng thấp còi sẽ trực tiếp cải thiện tầm vóc, thể lực và trí tuệ người Việt Nam.
Về cơ bản, Việt Nam đạt được tiến độ thực hiện các Mục tiêu phát triển
thiên niên kỷ vào năm 2015 về y tế, đặc biệt là MDG 4 và 5 về sức khỏe bà mẹ -
1
2.2. Gánh nặng bệnh tật
Kết quả của nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật và chấn thương đầu tiên ở
quy mô lớn được tiến hành tại Việt Nam được công bố năm 2011
4
. Kết quả cho
thấy tổng gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam năm 2008 là 12,3 triệu DALYs, trong
đó gánh nặng bệnh tật ở nam giới chiếm 56% tổng số gánh nặng. Gánh nặng
bệnh tật do tử vong sớm chiếm 56% tổng gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam.
Gánh nặng bệnh tật do các bệnh không truyền nhiễm chiếm 66% tổng
gánh nặng bệnh tật ở nam và 77% tổng gánh nặng bệnh tật ở nữ. Chấn thương
không chủ định (18%), các bệnh tim mạch (17%) và các bệnh tâm thần kinh
(14%) là các nhóm nguyên nhân chính của gánh nặng bệnh tật ở nam giới trong
3
7-8&'&0 9,8:;<=>$=!"#$%?@
4
"&'& ,'A-B- 'C.'&'8D 'A 9E':FG: :H &I
J
8,
J
K
J
'L-&)
3'2M'N&'1%O*P!%Q':HN&'1%!4R66
8
khi ở nữ giới các nhóm nguyên nhân chính của gánh nặng bệnh tật là các bệnh
tâm thần kinh (22%), các bệnh tim mạch (18%) và ung thư (12%).
Ở nam giới, đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật
(10%), tiếp đến là tai nạn giao thông (8%) và các rối loạn do sử dụng rượu (5%).
Ở nữ giới, trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật (12%),
tiếp đến là đột quỵ (10%) và khuyết tật về mắt (4%). Nhiễm khuẩn hô hấp dưới
gia, nước ta ghi nhận sự xuất hiện của 03 phân týp vi rút cúm A(H1N1), cúm
A(H3N2) và cúm B.Vi rút cúm A(H1N1) đã được ghi nhận tại 40 tỉnh, thành
phố với 498 trường hợp mắc có xét nghiệm dương tính, trong đó đã có 13
9
trường hợp tử vong tại 10 địa phương; các trường hợp tử vong chủ yếu có bệnh
mạn tính kèm theo chiếm 61,5%.
3.3. Sốt xuất huyết (SXH):
Trong 5 năm trở lại đây, số mắc sốt xuất huyết liên tục gia tăng, dịch SXH
không chỉ xảy ra ở các tỉnh thuộc khu vực miền Nam và miền Trung mà còn lan
rộng ra cả nước. Tuy nhiên năm 2010, số ca nghi mắc SXH lâm sàng được ghi
nhận 128.831 trường hợp mắc, 109 trường hợp tử vong. So với 2009
(105.370/87), số mắc cả nước tăng 22%, số tử vong tăng 25,3% so với cùng kỳ
2009 đối với từng khu vực:
- Miền Bắc (5 542/0): số mắc giảm 3,3 lần, tử vong giảm 4 trường hợp;
- Miền Nam (74 169/80): số mắc tăng 0,3%, tử vong tăng 6 trường hợp;
- Miền Trung (35 865/24): số mắc tăng 3,1 lần, số tử vong tăng 3 trường
hợp;
- Tây nguyên (13 255/5): số mắc tăng 8,9 lần, tử vong tăng 4 trường hợp;
3.4. Dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm (tả):
Sau nhiều năm được khống chế đã bùng phát trở lại vào năm 2007 với tỷ
lệ mắc là 2,24/100 000 dân. Trong giai đoạn từ năm 2000-2009, miền Bắc đã ghi
nhận tổng số 8 304 ca mắc tả, tăng tới 6 lần so với giai đoạn từ 1990-1999 (1194
ca). Riêng năm 2010 cả nước ghi nhận 317 trường hợp tả (không có tử vong) tại
18 địa phương; trong đó 301 trường hợp là người Việt Nam và 16 trường hợp là
người Cămpuchia;
3.5. Bệnh sởi:
Từ cuối năm 2008 và giữa năm 2010 đã bùng phát dịch sởi lớn trên cả
nước. Trong khoảng thời gian 21 tháng, dịch sởi đã xảy ra tại 63/63 tỉnh với 9
434 ca mắc. Lứa tuổi mắc sởi tập trung ở nhóm 1 đến 6 tuổi và 18 đến 26 tuổi.
3.6. Bệnh Rubella:
kể từ đầu vụ dịch đến nay có 50 108 người tử vong do HIV/AIDS. Tình hình
dịch HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2011, trên toàn quốc có giảm nhẹ cả số nhiễm
HIV, số bệnh nhân AIDS và số tử vong do HIV/AIDS, số trường hợp nhiễm
HIV phát hiện được báo cáo là 6 146 người, trong đó có 2 477 bệnh nhân AIDS
và 844 người tử vong do HIV/AIDS.
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe
4.1. Tình trạng Vệ sinh an toàn thực phẩm:
Tình trạng ngộ độc thực phẩm vẫn còn phức tạp, hàng năm xảy ra khoảng
gần 200 vụ ngộ độc thực phẩm trên 30 người mắc. Tổng số người ngộ độc thực
phẩm trong cả nước ước tính khoảng 1,2 đến 1,5 triệu người, số người tử vong
do ngộ độc thực phẩm khoảng 35 – 40 người. Tình trạng ngộ độc và tử vong do
các độc tố tự nhiên và hoá chất vẫn chiếm tỷ lệ cao. Tình trạng sử dụng các hoá
chất, phụ gia thực phẩm không đúng quy định trong quá trình nuôi trồng, sơ chế
chế biến thực phẩm vẫn còn khá phổ biến. Trong khi đó năng lực của các chi
Cục An toàn vệ sinh thực phẩm của các tỉnh/thành phố còn yếu do mới được
thành lập, thiếu cơ sở vật chất, phương tiện và nhân lực. Các đơn vị kiểm
nghiệm còn hạn chế về năng lực, chưa đáp ứng được các yêu cầu cấp bách trong
giám sát và xác định nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm.
4.2. Tình trạng sử dụng thuốc lá, rượu, bia:
Tình trạng sử dụng thuốc lá, rượu, bia, vẫn tồn tại trong cộng đồng dân
cư, xã hội, đặc biệt là lớp thanh niên và những người lao động tự do; tiêu thụ
thuốc lá ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng năm 1998 tỷ lệ hút thuốc lá ở
nam giới là 50%, năm 2005 là 56%. Tỷ lệ vẫn hút thuốc lá vẫn tăng lên từ 2004
11
đến 2009. Bên cạnh gánh nặng về bệnh tật, tử vong do hút thuốc còn tạo ra gánh
nặng về tài chính. Đã có quy định về cấm hút thuốc lá ở nơi công cộng, nơi đông
người nhưng việc thực hiện và các chế tài xử lý không đủ mạnh nên không có
kết quả trên thực tế. Sử dụng rượu bia không hợp lý có ảnh hưởng lớn tới sức
khoẻ thông qua 3 kênh: say rượu, nghiện rượu và ngộ độc do rượu. Tỷ lệ ưống
rượu cao ở nhóm có trình độ học vấn cao. Theo điều tra thanh thiếu niên Việt
biệt là các cơ sở cấp cứu ngoại khoa, chấn thương chỉnh hình.
C. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CƠ SỞ Y TẾ:
12
Cơ cấu tổ chức bộ máy hệ thống y tế từng bước được hoàn thiện và dần
ổn định ở cả Trung ương và địa phương. Sau một thời gian mạng lưới y tế huyện
bị phân chia thành 3 đơn vị, nay tổ chức tuyến cơ sở đã được điều chỉnh và dần
ổn định. Trung tâm y tế được thành lập thống nhất trên địa bàn cấp huyện thực
hiện hai chức năng y tế dự phòng, khám chữa bệnh và quản lý các trạm y tế xã/
phường; nơi có điều kiện tách riêng bệnh viện và trung tâm y tế chỉ thực hiện
chức năng y tế dự phòng quản lý các trạm y tế xã/phường.
Việc triển khai thực hiện nghị định số 43/2005/NĐ – CP về cơ chế tự chủ
mặc dù còn một số hạn chế cần khắc phục, nhưng đã tạo điều kiện để phát triển
và tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ sở y tế công lập.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực quản trị hệ thống y tế còn nhiều vấn đề cần
được đổi mới và hoàn thiện. Trước hết cần tăng cường năng lực quản lý, xây
dựng hoạch định chính sách, chiến lược ngành y tế để đáp ứng tốt hơn nhu cầu
đổi mới của hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả, phát triển. Bộ Chính
trị đã nhận định: “ngành y tế còn chậm đổi mới và còn lúng túng cả về nhận
thức và xây dựng cơ chế hoạt động”. Nhiều chính sách y tế còn chậm đổi mới
hoặc đổi mới chưa cơ bản, chưa đồng bộ.
I. Các cơ sở Y tế dự phòng:
- Tuyến Trung ương:
Các cơ sở y tế dự phòng tuyến Trung ương bao gồm 15 viện và Trung
tâm chuyên ngành thuộc Bộ Y tế (kèm theo phụ lục), thực hiện chức năng
nghiên cứu, đào tạo và chỉ đạo tuyến về các lĩnh vực: dịch tễ, vi sinh, miễn dịch
y học, ký sinh trùng, côn trùng y học, sức khoẻ, nghề nghiệp, tai nạn thương
tích, sức khoẻ môi trường, sức khoẻ trường học; dinh dưỡng cộng đồng và an
toàn vệ sinh thực phẩm.
- Tuyến tỉnh:
Tuyến tỉnh có 63 trung tâm Y tế dự phòng, 63 chi Cục An toàn vệ sinh
phòng tại các tỉnh chưa được quan tâm.
- Ngân sách đầu tư cho y tế dự phòng, trong 10 năm gần đây ngân sách
đầu tư cho y tế dự phòng trung bình là 17% tổng ngân sách toàn ngành y tế (chi
thường xuyên), trong khi đó nguồn thu phí và lệ phí không đáng kể. Với nguồn
kinh phí hạn hẹp này, các đơn vị y tế dự phòng, đặc biệt là tuyến tỉnh và huyện
hầu như không có đủ kinh phí để triển khai các hoạt động phòng, chống dịch chủ
động.
II. Các cơ sở khám chữa bệnh và phục hồi chức năng:
1. Cơ sở và giường bệnh:
Theo số liệu thống kê đến năm 2010 toàn quốc có 13 598 cơ sở với
252 747 giường bệnh, trong đó có 1 094 bệnh viện ( 44 bệnh viện tuyến Trung
ương với 20 610 giường bệnh, Tuyến tỉnh có 376 bệnh viện, với 105 803
giường; Tuyến huyện có 615 bệnh viện 55 190 giường; các cơ sở thuộc Bộ,
ngành khác có 36 bệnh viện và bệnh viện phục hồi chức năng (không kể Bộ
Quốc phòng và Bộ Công an) với 9 415 giường bệnh; Tính đến năm 2010 có 102
bệnh viện tư nhân và bán công với tổng số giường bệnh là 5 822 giường bệnh
(chiếm 0,7 giường bệnh/10.000 dân). Bệnh viện tư nhân chủ yếu tập trung ở các
Thành phố lớn như Hà Nội có 20 cơ sở với 554 giường bệnh, TP. Hồ Chí Minh
có 31 cơ sở với số giường là 2 407 giường, Đà Nẵng có 4 cơ sở với 328 giường
bệnh, TP. Huế có 4 cơ sở với 339 giường bệnh, Bình Dương có 4 cơ sở với 439
giường bệnh. Ngoài ra các địa phương khác có từ 1 đến 3 cơ sở với số giường
trung bình 50 giường bệnh/1 cơ sở.
Các bệnh viện chuyên khoa thuộc Bộ Y tế và các bệnh viện chuyên khoa
của các thành phố lớn, mang tính khu vực có quy mô từ 100 giường đến 1 000
14
giường, gồm các chuyên khoa ngoại, sản, nhi, lao và bệnh phổi, ung bướu, mắt,
răng – hàm – mặt, tai – mũi – họng, tâm thần, chấn thương chỉnh hình, bỏng, tim
mạch, lão khoa, nội tiết, huyết học và truyền máu, lâm sàng nhiệt đới, điều
dưỡng phục hồi chức năng; bệnh viện y học cổ truyền Trung ương.
2. Phân hạng bệnh viện:
chỉ số luân chuyển bệnh nhân) còn ở mức cao so với các nước trong khu vực.
Nguyên nhân dẫn đến quá tải ở tuyến trên là:
15
- Tình trạng xuống cấp của các cơ sở khám chữa bệnh tuyến quận, huyện;
- Giao thông thuận tiện, bệnh nhân có thể vượt tuyến lên bệnh viện tuyến
trên;
- Nhu cầu khám chữa bệnh với chất lượng cao và đa dạng của người dân
tăng, người bệnh có quyền tự lựa chọn nơi khám chữa bệnh, nên nhiều người đã
đến thẳng các bệnh viện lớn có uy tín chuyên môn, không còn tuân thủ tuyến
điều trị và hệ thống chuyển viện.
- Cơ chế tài chính, giá dịch vụ khám chữa bệnh và tác động không mong
muốn của một số chính sách.
- Tâm lý lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh của người dân;
4. Trang thiết bị kỹ thuật và quản lý:
Trong những năm qua, hệ thống bệnh viện đã được củng cố, nâng cấp và
đầu tư phát triển tương đối đồng đều từ tuyến huyện, tuyến tỉnh đến Trung ương
cả về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị kỹ thuật. Chính sách quốc gia về trang thiết
bị y tế đến năm 2010 được xây dựng với sự tham gia và đóng góp của các Bộ,
ngành và các đơn vị liên quan, bao gồm các mục tiêu chủ yếu, những giải pháp
tổng thể thuộc lĩnh vực quản lý, sản xuất, kinh doanh, khai thác sử dụng, nghiên
cứu khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành kỹ thuật thiết
bị y tế.
Hệ thống kinh doanh sản xuất, nhập khẩu trang thiết bị y tế được mở rộng
Cả nước hiện có 48 đơn vị nghiên cứu chế tạo và sản xuất trang thiết bị y tế với
621 sản phẩm được sản xuất trong nước và được Bộ Y tế cấp giấy chứng nhận
đăng ký lưu hành.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực trang thiết bị y tế còn một số vấn đề đáng quan
tâm đó là hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực trang thiết bị y tế còn hạn chế; Thiếu
thông tin đầy đủ về trang thiết bị y tế hiện có và công suất sử dụng theo tuyến
làm cơ sở để quản lý nhà nước và hỗ trợ các cơ sở y tế đầu tư hiệu quả trong lĩnh
tuyến xã nhằm thúc đẩy hoạt động của trạm y tế xã;
IV. Nguồn nhân lực y tế:
1. Mạng lưới đào tạo cán bộ y tế
Mạng lưới các trường đào tạo nhân lực y tế đã được mở rộng, hiện nay có
60/63 tỉnh có cơ sở đào tạo Trung học y tế trở lên, 14 Trường đại học Y Dược
bằng 8% số trường đại học trong cả nước, 5 Khoa y – điều dưỡng, 33 trường
Cao đẳng y tế bằng 14% các trường cao đẳng trong cả nước, 42 Trường trung
cấp; 19 cơ sở đào tạo sau đại học y dược, y tế công cộng; trong đó 17 cơ sở đào
tạo tiến sỹ (10 trường, 7 viện);
Nhìn chung, chất lượng nhân lực y tế đã tăng lên, nhiều loại hình cán bộ y
tế mới được hình thành như cử nhân điều dưỡng, cử nhân y tế công cộng và cử
nhân kỹ thuật y tế. Nhiều cán bộ y tế đã được đào tạo nâng cao trình độ ở bậc
sau đại học như Bác sỹ nội trú, chuyên khoa 1, chuyên khoa 2, thạc sỹ và tiến
sỹ. Đội ngũ khoa học kỹ thuật được tăng cường, thực hiện được nhiều kỹ thuật
hiện đại… công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế bắt đầu được triển khai
với nhiều loại hình. Ngành y tế phối hợp với với ngành giáo dục và đào tạo đã
cải tiến chương trình đào tạo, mở thêm nhiều mã ngành mới, ở cả trình độ đại
học, cao đẳng và trung cấp; tăng cường đào tạo sau đại học.
Vấn đề đáng quan tâm là hiện đang có sự mất cân đối về cơ cấu và phân
bổ nhân lực y tế, thiếu nhân lực y tế ở một số chuyên ngành (như y tế dự phòng,
giải phẫu bệnh, tâm thần, lao…) và vùng nông thôn, vùng khó khăn. Nhân lực y
tế có trình độ cao chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị và các trung tâm lớn.
Tình trạng dịch chuyển nhân lực y tế từ tuyến dưới lên tuyến trên, về các thành
17
phố lớn, các bệnh viện tuyến trên là báo động, ảnh hưởng đến việc đảm bảo số
lượng nhân lực y tế cần thiết ở nông thôn, miền núi và cơ sở.
Nhu cầu nhân lực y tế hiện nay chưa đáp ứng đủ về số lượng cũng như về
chất lượng. Vấn đề còn đáng quan tâm hơn là phân bổ nhân lực không đồng đều
giữa các vùng miền. Những vùng kinh tế kém phát triển hơn, những vùng núi và
dân tộc ít người, những vùng nông thôn thường thiếu cán bộ y tế hơn các vùng
bằng sông Cửu Long có số nhân viên y tế thấp nhất, với hơn 40.000 cán bộ y tế /
17,5 triệu dân (đạt tỷ lệ 23,1%). Vì vậy trong những năm tới cần ưu tiên tăng
cường bổ sung nhân viên y tế cho vùng đồng bằng Sông Cửu long.
V. Đầu tư và tài chính y tế:
18
Tổng chi ngân sách nhà nước cho y tế năm 2009 là 60.135,2 tỷ đồng, năm
2010 là: 69.563,2 tỷ, tốc độ tăng là 15,68%
Tỷ lệ tổng chi y tế/ GDP năm 2009 là: 6,55% và năm 2010 là 6,93%
Tỷ lệ ngân sách nhà nước chi y tế/GDP năm 2009 là 2,77% và năm 2010
là 3,09%
Tỷ lệ ngân sách y tế so với tổng chi ngân sách, năm 2009 là: 8,17(%) và
năm 2010 là 9,14(%)
Ngân sách y tế bình quân đầu người năm 2009 là 1.063. 000 đồng và năm
2010 là 1.500 000 đồng;
Trong những năm qua, đặc biệt là những năm gần đây tài chính y tế Việt
Nam có những chuyển biến tích cực. Tổng mức chi của toàn xã hội cho y tế
tăng khá nhanh. Trong giai đoạn 1988 - 2008, tính theo giá so sánh, tốc độ tăng
chi y tế bình quân hàng năm đạt 9,8%. Tổng chi y tế so với GDP tăng qua các
năm và đạt 6,2% GDP năm 2007, cao hơn một số nước trong khu vực. Chi phí y
tế bình quân đầu người năm 2008 là 1.100.000 đồng (khoảng 55 USD).
Tỷ trọng nguồn tài chính công trong tổng chi cho y tế tăng rõ rệt, từ 20%
năm 2000 tăng lên 43% năm 2008. Việt Nam đang phấn đấu đưa tỷ lệ này lên
trên 50%. Quốc hội đã đã quyết định tăng nhanh chi ngân sách nhà nước cho y
tế, tốc độ tăng ngân sách nhà nước cho y tế hàng năm phải cao hơn mức tăng chi
ngân sách nhà nước bình quân. Tỷ trọng chi ngân sách nhà nước cho y tế trong
tổng chi ngân sách nhà nước tăng từ 4,4% năm 2002 lên 7,4% năm 2007 và lên
10,2% năm 2008.
Tỷ lệ tiền của người dân phải chi trả trực tiếp cho y tế đã giảm từ 80%
năm 2000, xuống còn 65% năm 2005 và xuống 52% năm 2008. Tỷ trọng chi cho
y tế dự phòng trong tổng ngân sách nhà nước cho y tế tăng nhưng còn thấp. Việt
trang thiết bị hiện đại… Tuy nhiên, mức tăng này cũng một phần là do các yếu
tố khác, sự gia tăng giá điện, nước, lương tối thiểu, người bệnh lựa chọn sử dụng
dịch vụ chưa hợp lý (vượt tuyến), thiếu sự công nhận kết quả xét nghiệm giữa
các cơ sở y tế .
VI. Thuốc và vắc xin:
Khả năng tiếp cận thuốc ở Việt Nam tương đối tốt do có mạng lưới phân
phối thuốc rộng khắp trên toàn quốc. Đến năm 2010, hệ thống phân phối thuốc
Việt Nam có 2.318 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc và 44.084 cơ sở
bán lẻ thuốc. Số doanh nghiệp đạt GPs ngày càng tăng, hiện có 101 cơ sở sản
xuất đạt tiêu chuẩn GMP, 104 cơ sở đạt GLP. Các cơ sở y tế từ bệnh viện đến
trạm y tế đều có đủ thuốc phù hợp với phân tuyến kỹ thuật. NSNN được phân bổ
mua một số thuốc thiết yếu phục vụ các chương trình mục tiêu quốc gia và cấp
thuốc miễn phí cho các bệnh nhân một số bệnh (lao, bệnh nhân HIV/AIDS, tâm
thần phân liệt, động kinh). Năm 2010, giá trị thuốc sản xuất trong nước đạt
khoảng 919,04 triệu USD, đáp ứng được 48,03% nhu cầu sử dung thuốc trong
nước. Tiền thuốc bình quân đầu người trong năm đạt 22,25 USD.
Công nghiệp bào chế dược phát triển mạnh về số lượng doanh nghiệp và
mặt hàng. Đến nay, sản xuất trong nước đã đáp ứng khoảng 50% tổng nhu cầu
sử dụng thuốc của nhân dân. Các quy định về chất lượng thuốc được rà soát và
sửa đổi để dần dần đạt các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Việt Nam đã xây dựng
và triển khai tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất (GMP), bảo quản thuốc (GSP),
kiểm nghiệm thuốc (GLP), phân phối thuốc (GDP), thực hành tốt nhà thuốc
(GPP) và thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc (GACP). Hầu hết các
doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn GMP. Việt Nam đã cam kết hài hòa hóa quy định
dược phẩm trong khối ASEAN; sẽ thực hiện việc đăng ký thuốc tuân theo các
hồ sơ kỹ thuật chung ASEAN (ACTD).
20
Sử dụng thuốc (đặc biệt kháng sinh) không hợp lý đang dẫn đến kháng
thuốc trong cộng đồng, tăng tác động có hại của thuốc, cũng như tăng chi phí
thiết yếu cho mua thuốc. Tình trạng tự mua thuốc không có đơn của bác sĩ rất
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG Y TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2010,
ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2020 (Theo Quyết định 153/2006/QĐ-TTg ngày
30/6/2006):
1. Tình hình rà soát và xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y
tế của tỉnh và các đơn vị:
21
* Đối với các tỉnh/Thành phố:
Trước khi có QĐ 153/2006/QĐ-TTg, trên 30% các tỉnh đã xây dựng quy
hoạch phát triển hệ thống y tế của tỉnh, dựa trên chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh trong giai đoạn 2001-2010. Sau khi rà soát và điều chỉnh cũng
như xây dựng quy hoạch mới, đến năm 2010, tất cả các tỉnh trong cả nước đã có
quy hoạch phát triển hệ thống y tế của tỉnh và hiện nay đã có gần 40% tỉnh/TP
(25 tỉnh) đã hoàn thành quy hoạch phát triển hệ thống y tế giai đoạn 2011-2020,
định hướng đến 2030; trên 20 tỉnh tiếp tục thực hiện quy hoạch đến năm 2020 đã
được xây dựng từ những năm 2008-2009. Còn lại gần 20 tỉnh sẽ tiếp tục xây
dựng quy hoạch trong giai đoạn mới.
* Đối với các đơn vị thuộc Bộ Y tế quản lý:
Trước năm 2005, trong số hơn 70 đơn vị trực thuộc, chỉ có một số đơn vị
(chiếm khoảng 20% số đơn vị) có nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn
ngân sách nhà nước mới xây dựng quy hoạch phát triển đơn vị, số còn lại chỉ
xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm. Tuy nhiên đến năm 2010, vẫn còn
khoảng 20 đơn vị y tế Trung ương chưa xây dựng quy hoạch phát triển đơn vị
nên rất khó khăn trong việc đầu tư. Vấn đề xây dựng quy hoạch sẽ cần được đẩy
mạnh trong giai đoạn 2011-2020 nhằm bảo đảm phát triển đơn vị đúng hướng,
đạt hiệu quả cao.
2. Kết quả thực hiện các chỉ số, chỉ tiêu về y tế
a) Về công tác khám chữa bệnh:
So với năm 2005, đến năm 2010, số cơ sở khám chữa bệnh đã tăng khá
nhiều. Trước khi có quy hoạch, cả nước có 13.337 cơ sở khám chữa bệnh, trong
đó tuyến Trung ương 31, tuyến tỉnh 337 và tuyến huyện 1.430 cơ sở y tế với
đã kéo theo hàng loạt các trung tâm dân số ở các tỉnh được thành lập mới theo
Thông tư 05/TTLT-YT-NV. khoảng 1/3 số tỉnh tách Trung tâm y tế huyện
thành Trung tâm y tế dự phòng huyện và bệnh viện huyện; 1/3 số tỉnh giữ
nguyên mô hình Trung tâm y tế huyện và số còn lại vẫn thực hiện theo Nghị
định 01 của Chính phủ mặc dù có thành lập thêm Phòng Y tế thuộc UBND
huyện. Nhìn chung, về tổ chức mạng lưới y tế dự phòng tuyến tỉnh, đặc biệt
tuyến huyện còn chưa hiệu quả, nhiều đầu mối nhưng thiếu nhân lực, cơ sở vật
chất và trang thiết bị, trách nhiệm quản lý còn chồng chéo, chưa rõ ràng.
Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, năng lực dự báo, giám sát và
phòng chống dịch bệnh của các cơ sở y tế dự phòng đã được cải thiện, trong đó
2 viện đầu ngành là Viện VSDT TW và Viện Pasteur TP HCM đã có phòng xét
nghiệm an toàn sinh học đạt tiêu chuẩn quốc tế cấp 3. Thành lập mới Viện Kiểm
nghiệm ATVSTP và một số trung tâm kiểm nghiệm thuốc. Kết quả phòng chống dịch
bệnh cũng khá khả quan, hầu hết các bệnh dịch và lây nguy hiểm đã được kiểm soát,
khống chế đặc biệt là dịch cúm A (H1N1; H5N1); dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm công
tác phòng chống sốt rét, phòng chống HIV/AIDs, phòng chống bệnh lao, bệnh tâm thần
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng,, tuy nhiên công tác phòng chống và kiểm soát
các bệnh không lây nhiễm còn gặp khá nhiều bất cập.
c) Về y tế cơ sở:
Trong giai đoạn 2006-2010, hầu hết các trạm y tế đã được đầu tư cả về cơ
sở vật chất và cán bộ. Năm 2005, tỷ lệ trạm y tế xã/phường có bác sỹ là 69,4%
thì đến năm 2010, tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ hoạt động đạt 80% (bao gồm cả
Bác sỹ làm việc tại các phòng khám đa khoa khu vực liên xã và bác sỹ tăng
cường từ tuyến huyện cho trạm y tế); tuy nhiên nếu chỉ tính số trạm y tế có bác
sỹ làm việc tại trạm thì tỷ lệ này chỉ đạt khoảng 70%. Đặc biệt sau khi thực hiện
Nghị định 14/NĐ-CP Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì hầu hết các bệnh viện
huyện đã rút số bác sỹ tăng cường cho trạm y tế và các Phòng khám đa khoa liên
xã được sáp nhập vào bệnh viện huyện nên tỷ lệ bác sỹ hoạt động tại trạm y tế
xã có biến động lớn, chưa bảo đảm sự bền vững. Riêng tỷ lệ y sỹ sản nhi và nữ
Công tác kiểm dịch y tế biên giới đã triển khai tại hầu hết các cửa khẩu
biên giới, đặc biệt tại các cửa khẩu, sân bay quốc tế đã triển khai tốt việc giám
sát khách xuất, nhập cảnh, ngăn chặn bệnh dịch nguy hiểm có thể lây lan vào
nước ta, đảm bảo an ninh sức khoẻ cho quốc gia.
Công tác Vệ sinh an toàn thực phẩm đã đuợc sự quan tâm của các cấp
chính quyền và sự hưởng ứng của nhân dân. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục
cũng như các hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra về an toàn vệ sinh thực
phẩm thực hiện có hiệu quả thông qua sự phối hợp liên ngành. Các hoạt động
trên đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân và giảm tỷ lệ các vụ ngộ
độc.
Thành tựu của công tác y tế dự phòng đã góp phần không nhỏ trong sự
nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cho người dân thể hiện rõ nét trong việc
khống chế tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi dưới 40% (Tỷ suất này tương
24
đương với những quốc gia có thu nhập bình quân đầu người hơn Việt Nam từ 10
đến 20 lần), góp phần tăng tuổi thọ bình quân của người dân hiện nay đạt
khoảng 73 tuổi.
Về cơ sở khám chữa bệnh: Trong các thập kỷ qua, với những thay đổi
kinh tế, xã hội mạng lưới khám chữa bệnh Việt Nam đã được phát triển và luôn
có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Kết quả hoạt động của bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của
ngành y tế, nó không chỉ phản ảnh những thành quả đã đạt được trong công tác
khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân mà còn phản ảnh trình độ chuyên
môn và sự phát triển về khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng
dụng y học của mỗi quốc gia.
Về cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế: Thực hiện chính sách quốc gia
về thuốc và luật dược, Chính phủ và Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản nhằm
bảo đảm cung ứng đủ thuốc có chất lượng cho người dân và đảm bảo sử dụng
thuốc an toàn, hợp lý. Khả năng tiếp cận thuốc ở Việt Nam tương đối tốt do có
mạng lưới phân phối thuốc rộng khắp trên toàn quốc. Các cơ sở y tế từ bệnh