BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
CAO THỊ CÚC
VẬN DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ ĐỂ
HOÀN THIỆN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG
TY NIÊM YẾT VIỆT NAM NHẰM NÂNG CAO HỮU
ÍCH CỦA THÔNG TIN CHO CÁC NHÀ ĐẦU TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Dù ã c gng tìm kim tài liu, nghiên cu và hc hi, song lun văn không tránh khi
nhng khim khuyt. Kính mong nhn ưc s góp ý t Quý Thy Cô. Xin chân thành cm ơn.
LI CAM ĐOAN
“Vn dng chun mc k toán quc t hoàn thin báo cáo tài chính ti các công
ty niêm y
t Vit Nam nhm nâng cao tính hu ích ca thông tin cho các nhà u
t
ư” là công trình nghiên cu khoa hc c lp ca tôi. ây là tài lun văn thc
sĩ kinh t, chuyên ngành k toán – kim toán. Tôi xin cam oan lun văn này là
công trình nghiên c
u khoa hc ca riêng tôi. Các phân tích, s liu và kt qu nêu
trong lun văn là hoàn toàn trung thc và có ngun gc rõ ràng.
Tác gi
lun văn
Cao Th
Cúc
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
YẾT VIỆT NAM 22
2.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC SOẠN THẢO, TRÌNH BÀY BCTC……………22
2.1.1 Luật kế toán 22
2.1.2 Chuẩn mực kế toán 23
2.1.3 Chế độ kế toán 25
2.1.4 Hệ thống BCTC của các công ty niêm yết Việt Nam 26
2.2 CÔNG TY NIÊM YẾT VÀ VẤN ĐỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 25
2.2.1 Công ty niêm yết 25
2.2.2 Vấn đề công bố thông tin định kỳ về Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết 26
2.2.2.3 Quy định về chế tài và xử lý vi phạm công bố thông tin trên thị trường khoán 27
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG BCTC DỰA TRÊN SỰ KHÁC BIỆT CỦA CMKT
VIỆT NAM VÀ CMKT QUỐC TẾ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ
ĐẦU TƯ 28
2.3.1 Khuôn khổ pháp lý về kế toán áp dụng cho các công ty niêm yết 29
2.3.2. So sánh sự khác biệt của một số khoản mục trên BCTC của CTNY theo CMKT
Việt Nam và CMKT Quốc tế có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư 30
2.3.2.1 Về tiêu đề của các báo cáo 31
2.3.2.2 Phân tích sự khác biệt của một số khoản mục khi trình bày theo CMKT Việt Nam
và CMKT Quốc tế có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư 32
2.3.2.2.1 Nội dung một số khoản mục trên bảng cân đối kế toán 32
2.3.2.2.2 Những tồn tại về mặt nội dung của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 37
2.3.2.2.3 Những tồn tại về mặt nội dung của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 40
2.3.2.2.4 Những tồn tại về mặt nội dung của Thuyết minh BCTC 42
2.3.3 Minh họa bằng số liệu về sự sai lệch của một số khoản mục khi tham chiếu theo hệ
thống CMKT Việt Nam so với hệ thống CMKT quốc tế, có ảnh hưởng đến quyết định
của nhà đầu tư 43
2.3.4 Thực trạng công bố thông tin định kỳ về BCTC của các CTNY 50
2.4 Khảo sát đánh giá của các nhà đầu tư về thực trạng BCTC cũng như vấn đề công bố
thông tin tại các CTNY hiện nay 54
Kết luận chương 2 65
IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế
IASB Uỷ ban Chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS Chuẩn mực BCTC quốc tế
KQHĐKD Kết quả hoạt động kinh doanh
LCTT Lưu chuyển tiền tệ
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
UBCKNN Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng phân tích về lãi cơ bản trên cổ phiếu và chỉ số giá thu nhập theo VAS
và IAS – Công ty cổ phần sữa Việt Nam.
Bảng 2.2: Bảng phân tích chỉ tiêu ROE và ROA theo VAS và IAS – Công ty cổ phần
sữa Việt Nam
Bảng 2.3: Tóm tắt biến động các chỉ tiêu khi phân tích theo VAS và IAS của các công
ty (GAS, DPM, PVD)
Bảng 2.4: Phân tích về doanh thu khi trình bày Báo cáo KQHĐKD theo CMKT Việt
Nam - Công ty cổ phần FPT .
Bảng 2.5: Phân tích về doanh thu khi trình bày Báo cáo KQHĐKD theo CMKT Quốc
tế - Công ty cổ phần FPT
Bảng 2.6: Danh sách công ty nộp trễ BCTC kiểm toán năm 2012 – Sở giao dịch chứng
khoán TP HCM
Bảng 2.7: Danh sách công ty nộp trễ BCTC kiểm toán năm 2012 – Sở giao dịch chứng
khoán TP Hà Nội.
Bảng 2.8: Danh sách công ty nộp trễ BCTC soát xét bán niêm 2013 – Sở giao dịch
chứng khoán TP. Hồ chí minh.
Bảng 2.9: Bảng thống kê tần suất về nguồn thông tin nhà đầu tư sử dụng để ra quyết
định kinh tế.
Bảng 2.10: Mức độ quan trọng của các BCTC theo đánh giá của nhà đầu tư
Bảng 2.11: Đánh giá của các nhà đầu tư về các đặc điểm chất lượng của BCTC.
tài chính được thiết lập trên cơ sở tuân thủ một cách nghiêm ngặt các chuẩn mực, các
2
nguyên tc và thông lệ kế toán được thừa nhận và tuân thủ Pháp luật, hướng đến xu thế
hội tụ với kế toán quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng công bố thông tin báo cáo tài
chính, từ đó đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư khi đưa ra các quyết định kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lý luận về báo cáo tài chính (BCTC), so sánh
những điểm khác biệt về những quy định pháp lý kế toán hiện đang áp dụng tại Việt
Nam và chuẩn mực kế toán (CMKT) Quốc tế, mà trực tiếp ảnh hưởng đến các khoản
mục trên BCTC của các công ty niêm yết (CTNY), từ đó có tác động tới quyết định
của nhà đầu tư.
- Tìm hiểu thực trạng tính hữu ích của thông tin trên BCTC, đồng thời khảo sát ý kiến
đánh giá của các nhà đầu tư về BCTC các CTNY Việt Nam, để tìm ra các điểm cần
hoàn thiện trong nội dung BCTC hiện hành.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện BCTC tại các CTNY Việt Nam, góp phần
nâng cao tính hữu ích của thông tin trên BCTC, giúp cho các nhà đầu tư có cái nhìn
đầy đủ về các hoạt động trọng yếu, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ
và hiện tại. Từ đó dự đoán tình hình tài chính, hiệu quả hoạt động của công ty trong
tương lai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu các đối tượng sau:
- Các quy định về pháp lý kế toán liên quan đến việc lập và công bố BCTC tại các
CTNY Việt Nam.
- Các chuẩn mực kế toán quốc tế chi phối việc lập và công bố BCTC.
- Cơ sở lý luận về tính hữu ích của thông tin trên BCTC đối với các nhà đầu tư.
- Thực trạng việc lập và công bố BCTC của các CTNY Việt Nam và tính hữu ích của
thông tin trên BCTC qua đánh giá của các nhà đầu tư.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
kế toán có liên quan đến lập và trình bày BCTC hay các quy định về công bố thông
trên thị trường chứng khoán của các CTNY Việt Nam.
6. Tóm tắt các nghiên cứu về tính hữu ích của thông tin trên Báo cáo tài chính với
người sử dụng.
Tính hữu ích của thông tin trên BCTC là đối tượng được quan tâm của nhiều tổ chức
nghề nghiệp, thực hành kế toán và nhà nghiên cứu trên thế giới, bao gồm các nghiên
cứu sau:
- Nhóm tác giả Collins, Maydaw và Weiss (1997) trên cơ sở đánh giá hồi quy trong
giai đoạn từ 1953 đến 1993 nhận thấy: sự kết hợp giữa giá trị phù hợp của lợi nhuận và
giá trị ghi sổ của tài sản không bị suy giảm trong 40 năm qua, thậm chí còn tăng lên.
- Nhóm tác giả Francis và Schipper (1996), Eley và Waymire (1996) nói chung đều
đồng tình rằng mối liên hệ giữa các biến số của thông tin vốn và các dữ liệu tài chính
cũng nhận được sự quan tâm đáng kể.
- Nhóm tác giả Baruch Lev và Paul Zarowin (1998) của Đại học Newyork thì có quan
điểm ngược lại. Theo đó, liên kết chéo giữa cổ tức và lợi nhuận báo cáo và liên quan
đến sự hữu ích của thông tin về lợi nhuận đối với các nhà đầu tư đã suy giảm trong hơn
hai mươi năm qua và tính nhất quán giữa thông tin được chuyển tải trong lợi nhuận báo
cáo và thông tin phù hợp với các nhà đầu tư đã sụt giảm, bất chấp chất lượng của các
dự báo của các nhà phân tích. Và cũng theo các tác giả này, do nhiều yếu tố trong môi
trường kinh doanh có ảnh hưởng lớn và làm thay đổi hoạt động kinh doanh và giá trị
của doanh nghiệp, tuy nhiên thực trạng hệ thống đo lường và xử lý kế toán không thể
thích ứng được với sự thay đổi đó. Từ nguyên nhân trên, nhóm tác giả cũng đề xuất các
giải pháp để ngăn chặn sự giảm sút tính hữu ích của BCTC đó là: vốn hóa các khoản
mục đầu tư vô hình và trình bày lại có hệ thống bộ BCTC hiện hành.
- Nhóm tác giả Deaves, Dine and Horton (2006) thực hiện một cuộc khảo sát ý kiến
của các nhà đầu tư cá nhân. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, trái với quan điểm cho
rằng các nhà đầu tư cá nhân thường sử dụng các nguồn thông tin trung gian như các
5
Như vậy có thể thấy rằng tính hữu ích của thông tin trên BCTC là đối tượng được quan
tâm nghiên cứu của nhiều tổ chức nghề nghiệp, thực hành kế toán và nhà nghiên cứu.
Thông tin trên BCTC đóng vai trò quan trọng đối với những đối tượng sử dụng nói
chung và các nhà đầu tư nói riêng. Hầu hết BCTC đều có ảnh hưởng đến các quyết
định đầu tư, tuy nhiên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau thì BCTC chưa phát
huy tối đa được tính hữu ích và cần có những biện pháp hoàn thiện để nâng cao tính
hữu ích của thông tin trên BCTC. Sau khi tìm hiểu các nghiên cứu trước đây, hầu hết
tính hữu ích của thông tin được nghiên cứu trong phạm vi khá rộng, ở nhiều loại hình
doanh nghiệp, với nhiều đối tượng sử dụng khác nhau. Do đó, trong đề tài này tác giả
đặc biệt tập trung nghiên cứu BCTC của các CTNY Việt Nam và tính hữu ích của
BCTC đối với đối tượng sử dụng là nhà đầu tư.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Tổng quan về Báo cáo tài chính và tính hữu ích của thông tin trên Báo cáo
tài chính.
Chương 2: Thực trạng Báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết Việt Nam.
Chương 3: Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để hoàn thiện Báo cáo tài chính tại
công ty niêm yết Việt Nam nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin cho các nhà đầu
tư.
7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ TÍNH HỮU ÍCH
CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Báo cáo tài chính (BCTC) là sản phẩm hoàn chỉnh của quy trình kế toán tài chính,
được tạo ra nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng. BCTC là công
cụ truyền tải thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và các thông tin khác
của một doanh nghiệp.
Tính hữu ích của BCTC thể hiện ở những lợi ích mà người sử dụng BCTC có được
thông qua các thông tin mà BCTC cung cấp, chính là khả năng giúp ích cho việc ra
quyết định kinh tế. Luận văn tập trung nghiên cứu tính hữu ích của BCTC cho đối
tượng sử dụng là nhà đầu tư để ra quyết định kinh tế.
nghiệp.
- Theo IFRS Framework (2010) – Conceptual Framework for Financial Reporting
2010: Đối tượng sử dụng thông tin của BCTC là các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng,
các bên cho vay. Các đối tượng này sử dụng thông tin trên BCTC để đưa ra các quyết
định liên quan đến việc mua, bán, hoặc nắm giữ các công cụ vốn chủ sở hữu và các
công cụ nợ, quyết định cho vay, thanh toán các khoản nợ và các dạng thức cấp tín dụng
khác.
Các yếu tố liên quan đến “tình hình tài chính” được trình bày trên Bảng cân đối kế
toán, “kết quả hoạt động” được trình bày trên Báo cáo thu nhập và “sự thay đổi tình
hình tài chính” được trình bày trên Báo cáo các dòng tiền.
Như vậy, bản chất của BCTC là những tài liệu được soạn thảo nhằm cung cấp thông tin
tài chính hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế. Theo quan điểm của IASB, đối tượng
9
sử dụng BCTC khá rộng, tuy nhiên IASB cũng xác định rõ đối tượng ưu tiên cung cấp
thông tin là nhà đầu tư và chủ nợ.
1.2 CÁC ĐỐI TƯỢNG PHỤC VỤ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ
CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ.
1.2.1 Đối tượng phục vụ của BCTC.
Theo Luật kế toán Việt Nam (2003), đối tượng phục vụ của BCTC được đề cập trong
Luật là “đối tượng có nhu cầu thông tin của đơn vị kế toán”, hay theo CMKT Việt
Nam số 01- Chuẩn mực chung là “người sử dụng BCTC”, và theo CMKT Việt Nam số
21 – Trình bày BCTC “số đông người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh
tế”.
Như vậy, theo những quy định Pháp lý về kế toán hiện đang áp dụng ở Việt Nam, đối
tượng phục vụ của thông tin trên BCTC không được nêu rõ chi tiết, tất cả các bên có
nhu cầu sử dụng thông tin đều là đối tượng phục vụ của BCTC.
BCTC là nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với nội bộ doanh nghiệp mà còn
phục vụ chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như: các cơ quan quản lý
Nhà nước, các nhà đầu tư hiện tại, các nhà đầu tư tiềm năng, các bên cho vay, … Mỗi
quy định của Việt Nam hướng tới nhiều nhóm đối tượng phục vụ, tất cả những người
có nhu cầu sử dụng thông tin để ra các quyết định kinh tế.
1.2.2 Vai trò thông tin trên BCTC đối với các nhà đầu tư.
1.2.2.1 Lợi ích mang lại cho các nhà đầu tư từ việc sử dụng BCTC.
Các nhà đầu tư được đề cập đến trong nghiên cứu bao gồm cả nhà đầu tư hiện hữu và
nhà đầu tư tiềm năng. Đối với nhà đầu tư hiện hữu, họ quan tâm đến khả năng ổn định
tài chính, phát sinh lợi nhuận, cũng như thu nhập của doanh nghiệp có thể tăng hoặc
giảm như thế nào trong tương lai. Đối với những nhà đầu tư tiềm năng, họ quan tâm
đến thành tựu của doanh nghiệp làm được trong năm hiện tại cũng như quá khứ, để họ
đưa ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp đó hay không. Chính những mục tiêu như
11
vậy, các nhà đầu tư sẽ khai thác tất cả các nguồn thông tin để phân tích đánh giá. Đến
nay, nguồn thông tin tài chính mà được phần đông các nhà đầu tư quan tâm, sử dụng
đến chính là BCTC của các doanh nghiệp. Khi xây dựng danh mục đầu tư, và ra quyết
định đầu tư vào một doanh nghiệp, hàng loạt các thông tin trên BCTC sẽ được nhà đầu
tư tiếp cận, phân tích và đánh giá trực tiếp. Việc nghiên cứu các mối quan hệ, các tỷ
suất giữa các chỉ tiêu trên BCTC chưa đánh giá đầy đủ bản chất tài chính của một
doanh nghiệp, nhưng giúp cho nhà đầu tư mô tả tình trạng tài chính của doanh nghiệp
đó, năng suất hoạt động và khả năng sinh lợi tương ứng. Đây là vai trò vô cùng quan
trọng của BCTC đối với quyết định kinh tế của nhà đầu tư.
Thông tin tài chính chứa đựng các lợi ích trình bày như trên là do bản chất của thông
tin trên BCTC chứa đựng yếu tố giá trị dự báo, và giá trị so sánh:
- Giá trị dự báo của thông tin tài chính: Tiếp cận, nghiên cứu, phân tích thông tin
BCTC trong quá khứ của một doanh nghiệp sẽ giúp nhà đầu tư đánh giá được tương lai
tài chính của doanh nghiệp đó, là cơ sở cho các kỳ vọng của nhà đầu tư.
- Giá trị so sánh: Thông tin trên BCTC hiện nay khá nhất quán, do hầu hết các khoản
mục trên BCTC được ghi nhận, đo lường và trình bày theo những quy định về pháp lý
kế toán như: Luật, chuẩn mực và chế độ kế toán. Do đó các nhà đầu tư có thể so sánh
BCTC giữa các doanh nghiệp trong nước để lựa chọn doanh nghiệp sẽ đầu tư. Mặt
đây để đánh giá rủi ro tài chính của một doanh nghiệp. Tỷ số này càng cao sẽ làm nguy
cơ vỡ nợ cao.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Tổng lợi nhuận sau thuế/Tổng doanh thu. Chỉ tiêu
này sẽ cho nhà đầu tư thấy được một đồng doanh thu sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận cho cổ đông.
Ngoài ra các chỉ số tài chính về khả năng thanh toán cũng được các nhà đầu tư quan
tâm bao gồm chỉ số khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh.
13
T s khả năng thanh toán ngắn hạn = Tổng tài sản lưu động/Tổng nợ ngắn hạn, tỷ số
này đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty bằng cách bán tài sản lưu
động để trang trải cho các khoản nợ có thời gian đáo hạn nhỏ hơn một năm. Tỷ số này
cũng giúp cho các nhà đầu tư đánh giá xem khả năng công ty có dễ dẫn tới việc bị phá
sản hay không.
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh = (Tổng tài sản lưu động – Hàng tồn kho)/Tổng nợ
ngắn hạn. Tỷ số này đo lường khả năng trả nợ ngắn hạn mà không tính tới các tài sản
có thể bị giảm giá hoặc khó bán. Hàng tồn kho thông thường có tính thanh toán kém
nhất trong các tài sản lưu động của công ty. Vì vậy chúng là tài sản có khả năng bị thiệt
hại giá trị trong trường hợp thanh lý. Do vậy, thước đo khả năng chi trả các khoản nợ
ngắn hạn không cần đến việc bán hàng tồn kho là một yếu tố quan trọng.
1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH.
1.3.1 Tính hữu ích của BCTC theo quan điểm của chuẩn mực kế toán Việt Nam.
Do bản chất và vai trò của BCTC gắn liền với việc cung cấp thông tin cho các đối
tượng sử dụng, do đó tính hữu ích của BCTC cũng chính là tính hữu ích của thông tin
kế toán được trình bày trên BCTC. Để BCTC có được tính hữu ích, thì thông tin trên
BCTC phải đáp ứng được yêu cầu cơ bản đối với kế toán đó là: trung thực, khách quan,
đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh.
- Trung thực: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở
các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội
sau.
- Lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán phù hợp.
- Trình bày các thông tin, kể cả chính sách kế toán, nhằm cung cấp thông tin phù hợp,
đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu.
15
- Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong CMKT không đủ để giúp cho
người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặc những sự kiện cụ thể đến
tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, mặc dù không có một chuẩn mực hay một hướng dẫn cụ thể nào về “tính hữu
ích của BCTC” nhưng do bản chất và vai trò của kế toán, nên tính hữu ích của BCTC
cũng là tính hữu ích của thông tin kế toán được trình bày trên BCTC. Để trở nên hữu
ích, thì thông tin phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cơ bản, thể hiện được tính chất đặc
trưng, đây cũng chính là đặc điểm chất lượng của BCTC. Thông tin của BCTC chỉ hữu
ích khi thông tin kịp thời, đáng tin cậy, dễ hiểu và người sử dụng có thể dễ dàng tiếp
cận nguồn thông tin.
1.3.2 Tính hữu ích của thông tin theo quan điểm quốc tế.
Theo quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ (FASB: (Khái niệm
2, đoạn 31, 32) các đặc trưng của thông tin giúp thông tin trở nên quý giá, để thông tin
tài chính trở nên hữu ích, thông tin tài chính phải thể hiện được từng tính chất trong
một chừng mực tối thiểu và những thông tin kế toán phải được định hướng đến người
sử dụng để ra quyết định. Hệ thống các tính chất của thông tin kế toán được phân định
thành tính chất sơ cấp và tính chất khác, trong đó sự phù hợp và đáng tin cậy là hai đặc
điểm chất lượng quan trọng nhất.
- Tính phù hợp: để phù hợp, thông tin kế toán phải tạo ra được sự khác biệt trong quyết
định qua việc giúp người sử dụng thông tin thực hiện thiết lập các dự báo về kết quả
các sự kiện trong quá khứ, hiện tại hay tương lai (Khái niệm 2, Đoạn 47).
Tính phù hợp của thông tin trên BCTC thể hiện ở hai đặc tính của thông tin đó là giá trị
dự báo và giá trị phản hồi, ngoài ra còn một yếu tố khác của tính phù hợp đó là tính kịp
thời, vì nếu thông tin không sẵn có khi cần thì sẽ không còn “tính phù hợp” của thông