BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
Trương Thị Hạnh Dung
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG
CHUẨN MỰC KẾ TOÁN TỔN THẤT TÀI SẢN
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC S
Ĩ KINH T
Ế
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ THU HIỀN
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2014
MỤC LỤC
Danh sách các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu và sơ đồ
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC VẬN DỤNG CHUẨN MỰC KẾ
TOÁN TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP (DN) TẠI VIỆT
NAM
1.1 Lược sử quá trình hình thành và phát triển Chuẩn mực kế toán quốc tế về
tổn thất tài sản (TTTS): 7
1.2 Nội dung cơ bản của CM TTTS: 11
1.2.1 Các khái niệm cơ bản: 11
1.2.2 Nội dung cơ bản chuẩn mực: 12
1.2.2.1 Phạm vi: 12
1.2.2.2 Đặc điểm và bản chất của tài sản bị đánh giá tổn thất: 14
1.2.2.3 Thời điểm thực hiện đánh giá TTTS: 14
1.2.2.4 Dấu hiệu nhận biết TTTS: 16
2.4.1.1 Nhóm nguyên nhân xuất phát từ đặc thù của Việt Nam: 56
2.4.1.2 Nhóm nguyên nhân xuất phát từ hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam: .
57
2.4.1.3 Nhóm nguyên nhân xuất phát từ vấn đề lợi ích – chi phí: 58
2.4.1.4 Nhóm nguyên nhân xuất phát từ chủ quan người hành nghề kế toán, kiểm
toán: 59
2.4.2 Đánh giá khả năng vận dụng Chuẩn mực kế toán Tổn thất tài sản tại Việt
Nam: 59
2.4.2.1 Khả năng xuất phát từ sự thay đổi của nền kinh tế: 60
2.4.2.2 Khả năng xuất phát từ sự phát triển của các tổ chức, các hiệp hội ngành
nghề, các liên kết chính trị: 61
2.4.2.3 Khả năng xuất phát từ thuận lợi nước đi sau: 62
2.4.2.4 Khả năng xuất phát từ đội ng
ũ hành ngh
ề: 62
Kết luận chương 2 63
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG CHUẨN MỰC KẾ
TOÁN TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
3.1 Các quan điểm về vận dụng Chuẩn mực kế toán Tổn thất tài sản trong các
doanh nghiệp tại Việt Nam: 64
3.1.1 Vận dụng Chuẩn mực kế toán về Tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp
trên cơ sở tuân thủ Luật pháp Việt Nam và định hướng phát triển kế toán quốc
gia: 64
3.1.2 Vận dụng Chuẩn mực kế toán về Tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp
trên cơ sở hội tụ với Chuẩn mực kế toán quốc tế: 65
3.1.3 Vận dụng Chuẩn mực kế toán về Tổn thất tài sản nhằm đạt được mục tiêu
đáp ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin tài chính của các doanh
nghiệp: 65
3.1.4 Vận dụng Chuẩn mực kế toán về Tổn thất tài sản trên cơ sở đảm bảo tính
khả thi trong thực tế: 66
CA (carrying amount): Giá trị còn lại
CGU (cash – generating unit): Đơn vị tạo ra tiền
CM: Chuẩn mực
DN: Doanh nghiệp
EU Directives: Chỉ thị Châu Âu
FASB (Financial Accounting Standards Board): Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài
chính Mỹ
HTKT: Hệ thống kế toán
IASB (International Accounting Standards Board): Hội đồng Chuẩn mực kế toán
Quốc tế
IASC (International Accounting Standards Committee): Ủy ban Chuẩn mực kế toán
Quốc tế
KTV: Kiểm toán viên
PP: Phương pháp
RA (recoverable amount): Giá trị có thể thu hồi
SFAS (Statement Of Financial Accounting Standards): Chuẩn mực kế toán tài chính
của Mỹ
TQ: Trung Quốc
TSCĐ: Tài sản cố định
TSVH: Tài sản vô hình
TTTS: Tổn thất tài sản
VCSH: Vốn chủ sở hữu
VN: Việt Nam
DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU
HÌNH VẼ:
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ đo lường tổn thất theo IAS 36
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ ghi nhận tổn thất tài sản theo IAS 36
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ tóm tắt nội dung Chuẩn mực kế toán Tổn thất tài sản
BẢNG BIỂU:
(CMKT) và ki
ểm toán của Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế và điều
ki
ện của Việt Nam. Đối với lĩnh vực kế toán cần: “Cập nhật v
à xây dựng mới các chuẩn
mực kế toán doanh nghiệp. Trong đó giai đoạn 2012 - 2015 hoàn thành cập nhật 26 chuẩn
m
ực kế toán đã ban hành; giai đoạn 2016
- 2020 xây d
ựng và ban hành đầy đủ các chuẩn
m
ực kế toán còn lại, đồng thời xem xét hướng dẫn việc áp dụng chuẩn mực đối với các
doanh nghi
ệp ho
ạt động đặc th
ù”.
Các chu
ẩn mực kế toán quốc tế (International Accounting Standards
- IAS) và
chu
ẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (International Financial Reporting Standards
-
IFRS) ngày càng đư
ợc chấp nhận rộng rãi trên thế giới. Việc hiểu biết về các ch
u
ẩn mực
qu
ốc tế không chỉ giúp cho công tác kế toán, kiểm toán tại các công ty đa quốc gia áp
d
ụng IAS/IFRS m
D
ựa trên bối cảnh kế toán nước ta và tinh thần hướng dẫn của Chính phủ trong
chi
ến lược đến 2020 và
t
ầm nhìn 2030, đề tài “Phương hướng và giải pháp vận dụng
Chu
ẩn mực kế toán Tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp tại Việt Nam” là cần thiết đối
v
ới tính thống nhất cũng như tính đồng bộ trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam,
đ
ảm bảo nhu cầu của các
đ
ối tượng sử dụng, giúp nâng cao tính so sánh được và chất
lư
ợng Báo cáo t
ài chính của các doanh nghiệp Việt Nam đối chiếu với quốc tế.
II. MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Lu
ận văn này sử dụng phương pháp luận của lý thuyết kế toán quy chuẩn
(normative accounting theory), phương pháp ti
ếp cận diễn dịch (deductive model)
trong
nghiên c
ứu việc vận dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế về Tổn thất t
ài sản trong bối cảnh
Vi
ệt Nam chưa xây dựng chuẩn mực này.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Th
ông
đư
ợc kiểm định bằng thực nghiệm; Các lập luận mang tính diễn dịch phụ thuộc vào sự
xét đoán ch
ủ quan
(V
ũ Hữu Đức, 2010)
. Tuy nhiên, không th
ể phủ nhận những đóng góp
c
ủa lý thuyết kế toán quy chuẩn trong quá trình phát triển nghiên cứu khoa học kế toán
.
Hi
ện nay tại Việt Nam, hệ thống chuẩn mực kế toán vẫn còn nhiều chỗ hổng, chưa bắt
k
ịp với sự phát triển Chuẩn mực kế toán quốc tế nhằm đáp ứng xu thế nền kinh tế toàn
c
ầu hóa, các nghi
ên cứu theo hướng Lý thuyết kế toán quy chuẩn vẫn còn hữu ích trong
việc hướng tới một hệ thống kế toán hoàn chỉnh, hội tụ với quốc tế và thiết lập những
chu
ẩn để kế toán viên doanh nghiệp thực hành theo. Đây cũng chính là quan điểm xây
d
ựng đề tài Phương hướng và giải pháp vận dụng Chuẩn mực kế toán Tổn thất tài sản
(IAS 36) t
ại Việt Nam.
D
ựa vào lập luận của Lý thuyết kế toán quy chuẩn như trên, phương pháp luận sử
d
ụng trong luận văn là nghiên cứu định tính
ừng dẫn dắt nhóm kiểm toán
hoặc là phó trưởng phòng kiểm toán.
Đ
ối với nội dung phỏng vấn chuyên gia, tác giả mời các Chuyên gia có thâm niên
trong nghiên c
ứu và kinh nghiệm thực tế, hiện đang làm việc tại Trường Đại học (ĐH)
Kinh t
ế TP HCM (2 PGS TS), ĐH Mở TP HCM (1 PGS TS), ĐH Kinh tế Luật (1 TS),
công ty ki
ểm toán KPMG (2 giám đốc phòng Kiểm toán).
Lu
ận văn sử dụng công cụ thống kê mô tả và bảng ghi ché
p ph
ỏng vấn để phân
tích d
ữ liệu.
IV. KẾT QUẢ VÀ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU
T
ổng kết lý thuyết:
Theo tìm hi
ểu của tác giả, trước thời điểm tác giả thực hiện
đ
ề tài,
chưa có công
trình nghiên c
ứu nào tại Việt Nam thực hiện chuyên sâu về Chuẩn mực tổn thất tài sản.
Tuy nhiên, tác gi
ả đã tham khảo phương pháp luận của hai
lu
ận văn
g như m
ẫu
ki
ểm, kế toán vi
ên được mời để giúp tác giả trả lời những câu
h
ỏi khảo sát thực trạng cũng không nhiều.
Ngoài ra, vì tác gi
ả không có điều kiện tiếp
xúc v
ới cơ quan ban hành chuẩn mực nên trong đối tượng khảo sát không bao gồm nhóm
t
ổ chức lập qu
y ch
ịu trách nhiệm ban h
ành chuẩn mực kế toán tại Việt Nam.
Đi
ều n
ày
d
ẫn tới nội dung khảo sát thực trạng kế toán tổn thất tài sản không toàn diện, không khái
quát được hết các vấn đề.
V
ề mặt phương pháp, có nhiều câu hỏi cần thiết phải được đặt ra nhưng
do t
ầm
hi
ểu biết có giới hạn, tác giả không biết cách giải quyết để có thể đưa vào đề tài. Ví dụ
như: “điều kiện cần và đủ để vận dụng Chuẩn mực TTTS tại Việt Nam là gì?” để xét
đư
nh
ững vấn đề cần đi sâu vào chi tiết về nội dung bản chất của Chuẩn mực để giải thích,
minh h
ọa kỹ tác giả cũng chưa hoàn thiện được.
Cu
ối cùng, thời điểm tác giả hoàn thành luận văn là ngày 1/10/2013, cùng thời
đi
ểm Bộ Tài chính nướ
c ta ban hành D
ự thảo về việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới
m
ột số CMKT (ra ngày 3/10/2013), tác giả không có điều kiện tiếp cận nguồn Dự thảo
này nên m
ột số giải pháp trong chương 3 chưa điều chỉnh những cập nhật có liên quan,
như v
ới dự thảo sửa đổi,
b
ổ sung nội dung của VAS 03, VAS 04 (nội dung Điều kiện
thực hiện các giải pháp).
V. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Luận văn gồm 81 trang, và có kết cấu như sau:
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận cho việc vận dụng Chuẩn mực kế toán tổn thất tài sản
trong các doanh nghiệp tại Việt Nam
Chương 2: Thực trạng Kế toán tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp tại Việt
Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp vận dụng Chuẩn mực kế toán tổn thất tài
sản trong các doanh nghiệp tại Việt Nam
Kết luận
Tài liệu tham khảo
cho phép vào đầu thế kỷ 20. Luật DN của Đức năm 1937 cho phép ghi giảm giá trịtài sản
do tổn thất mà một số tác giả khẳng định đó chính là kế toán TTTS. Quy định tổn thất tài
8
sản một cách rõ ràng được đưa vào Luật DN của Đức năm 1965. Luật DN Đức 1965
được biết đến như mô hình trong Chỉ Thị 4 EU.
Sự phát triển kế toán TTTS tại UK và US lại theo cách khác. Việc phát triển các
quy định kế toán trong Luật Công ty (Mỹ hoặc Anh) chậm hơn ở Đức (khoảng những
năm 1930). Tuy nhiên khi kết thúc khủng hoảng phố Wall, kỷ nguyên của các nhà lập
quy kế toán bắt đầu. Những năm đầu tiên các chuyên gia kế toán phản đối mạnh kế toán
giảm giá trịtài sản. Sau hàng thập kỷ đấu tranh, kế toán giảm giá trịtài sản chỉ được xử lý
một cách rời rạc trong lý thuyết kế toán ở Hoa Kỳ. Về giảm giá trị do tổn thất đối với Tài
sản vô hình và Lợi thế thương mại được trình bày rõ trong US. GAAP.
Tranh luận mới về kế toán TTTS lại bắt đầu vào những năm 1980 cùng với thời
gian dự án về Khuôn mẫu khái niệm kế toán kết thúc. Việc tranh luận bắt đầu từ việc gia
tăng quy mô và tần suất ghi nhận tổn thất và thực hành khác nhau. Thách thức quan trọng
nhất với FASB (Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài chính của Mỹ) là xác định giới hạn của
kế toán TTTS nhằm chấm dứt sự bất hợp lý trong thực hành. SFAS 121 (Chuẩn mực kế
toán tài chính của Mỹ) (1995) khai sinh chuẩn mực kế toán về TTTS (bắt đầu từ 1990,
Dự thảo năm 1993). Sau đó SFAS 144 (2001) thay thế SFAS 121.
Lịch sử quá trình hình thành và phát triển Chuẩn mực kế toán quốc tế về TTTS
(IAS 36) thì ngắn gọn hơn, chỉ mới được chuẩn mực hóa và ứng dụng trong khoảng 20
năm gần đây. Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASC) được thành lập năm 1973 với
mục tiêu tạo sự hòa hợp giữa các nguyên tắc kế toán trên toàn thế giới. Trong thập niên
hoạt động đầu, cơ chế chính của tổ chức này là hướng dẫn các nhà soạn thảo chuẩn mực
quốc gia. Sự phát triển của Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) là mẫu số chung nhỏ nhất
cho sự tồn tại của các thể chế kế toán khác nhau trên toàn thế giới. Trong Chỉ thị EU (EU
Directive) và trong tập quán kế toán Đức đ
ã t
ồn tại việc ghi nhận ngh
ĩa v
ịnh khoản
tổn thất vĩnh viễn như là một chuẩn ghi nhận nữa. IAS 16 – phiên bản 1993 đòi hỏi ghi
nhận một khoản giảm giá nếu giá trị có thể thu hồi “giảm dưới giá trị còn lại” (đoạn 56).
Đoạn giải thích của lần này c
ũng gi
ống bản c
ũ nhưng đã b
ỏ đi hai từ “v
ĩnh vi
ễn” trước
hai từ “tổn thất”. “Các yếu tố kinh tế khác” được liệt kê thêm vào trong những nguyên
nhân gây ra tổn thất, vì thế sự giảm giá vật lý của tài sản không được coi như một điều
kiện ghi nhận tổn thất nữa.
Tiếp theo, IAS 16 – phiên bản năm 1996 trình bày những giải thích rõ rànghơn các
phiên bản c
ũ v
ề hệ thống tổn thất do giảm giá trị của TSCĐ. Ngh
ĩa v
ụ ghi nhận đảo tổn
thất (đoạn 59) được quy định rõ “khi có những tình huống và sự kiện dẫn tới dấu hiệu
giảm giá trị hoặc thanh lý chấm dứt và có bằng chứng thuyết phục rằng những tình huống
và sự kiện mới này sẽ còn tiếp diễn trong tương lai định đoán được”. Phiên bản này c
ũng
cho phép những đơn vị đo lường tổng hợp và đo lường giá trị có thể thu hồi bằng những
dòng tiền chiết khấu (Erlend Kvaal, 2005).
Đến năm 1998, IAS 36 về Tổn thất tài sản chính thức được ban hành, có hiệu lực
vào ngày 1/7/1999. Chuẩn mực này đưa ra các thủ tục cho doanh nghiệp áp dụng nhằm
đảm bảo rằng giá trị còn lại của tài sản không vượt quá giá trị có thể thu hồi. Chuẩn mực
c
ũng nêu lên phương pháp xác đ
Áp dụng cho LTTM và Tài sản vô hình
phát sinh từ giao dịch hợp nhất kinh doanh
với những hợp đồng kí sau ngày
31/3/2004, và cho tất cả các tài sản khác
trong tương lai bắt đầu từ kỳ báo cáo năm
đầu tiên trong hoặc sau ngày 31/3/2004
22/5/2008
Sửa đổi theo chương trình Hoàn
thiện IFRS năm 2007 (công bố
các ước tính sử dụng để tính
toán giá trị có thể thu hồi)
Có hiệu lực cho kỳ báo cáo năm bắt đầu
trong hoặc sau ngày 1/1/2009
16/4/2009
Sửa đổi theo chương tr
ình
Hoàn
thiện IFRS năm 2009 (các đơn
vị (đo lường) kế toán đánh giá
Có hiệu lực cho kỳ báo cáo năm bắt đầu
trong hoặc sau ngày 1/1/2010
11
tổn thất LTTM sử dụng khái
niệm bộ phận theo IFRS 8 trước
khi tập hợp thành nhóm)
29/5/2013
Sửa đổi nội dung Công bố giá
trị có thể thu hồi đối với tài sản
phi tài chính (đ
òi h
Thường đóng góp cho dòng tiền vào thông qua các đơn vị tạo ra tiền,
Đôi khi có thể xác định trực tiếp nhưng chỉ thông qua các nhóm đơn vị tạo ra tiền.
(*)Ở đây cần lưu
ý: LTTM có hai ngu
ồn khởi tạo: LTTM phát sinh trong quá trình
hợp nhất kinh doanh và LTTM nội sinh. Theo quy định của IAS 38 – Tài sản vô hình,
LTTM nội sinh (còn gọi là LTTM được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp) không được ghi
nhận là tài sản. Căn cứ vào IAS 38 – định nghĩa tài sản vô hình: tài sản vô hình là tài sản
phi tiền tệ có thể xác định và không có hình thái vật chất. Đặc điểm cơ bản của tài sản vô
hình là: là nguồn lực có thể kiểm soát và mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho
doanh nghiệp, không có hình thái vật chất và có thể xác định được. LTTM được tạo ra từ
nội bộ DN không được ghi nhận là tài sản vì nó không phải là nguồn lực có thể xác định
được, không được đánh giá một cách đáng tin cậy và DN không kiểm soát được. Chính vì
vậy những nội dung tiếp theo khi đề cập tới LTTM chính là đề cập tới LTTM phát sinh
trong quá trình hợp nhất kinh doanh, tác giả không nhắc thêm các vấn đề liên quan tới
LTTM nội sinh.
Thị trường hoạt động (active market): tồn tại khi thỏa mãn những điều kiện sau:
đối tượng mua bán trên thị trường có tính tương đồng có sẵn người mua và người bán vào
bất kỳ lúc nào, giá cả được công bố rộng rãi.
1.2.2 Nội dung cơ bản chuẩn mực:
1.2.2.1Phạm vi:
Phạm vi điều tiết của chuẩn mực TTTS –lan tỏa rất rộng ở các khoản mục trên
BCTC như đất đai, nhà cửa, trang thiết bị … những tài sản này lại chiếm tỷ trọng lớn trên
tổng tài sản – có thể được tóm tắt qua bảng sau:
13
Bảng 1.2. Phạm vi điều tiết của Chuẩn mực Tổn thất tài sản (IAS 36)
Phạm vi áp dụng IAS 36
Nằm ngoài phạm vi áp dụng IAS 36
Bất động sản, nhà xưởng và máy móc
thiết bị
các khoản đầu tư tài chính thông thường (giữ để bán, để kinh doanh ) c
ũng đư
ợc xem là
tài sản tài chính nhưng lại không ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp nhận đầu
tư,xét về mặt phái sinh thì lại đa dạng, phức tạp hơnnên các nhà lập quy ban hành một
14
loạt các Chuẩn mực xử lý riêngcho nhóm công cụ tài chính này. Do đó, tài sản tài chính
quy định trong phạm vi của IAS 39 (sắp tới sẽ bị thay thế bởi IFRS 9) bị loại trừ khỏi
phạm vi của IAS 36.
1.2.2.2Đặc điểm và bản chất của tài sản bị đánh giá tổn thất:
Từ lịch sử phát triển và phạm vi điều chỉnh của Chuẩn mực Tổn thất tài sản, ta có
thể thấy những tài sản bị đánh giá tổn thất là những tài sản dài hạn. Tài sản dài hạn là
những tài sản có đặc điểm như sau:
Thời gian sử dụng hữu ích hơn 1 năm
Được sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh
Không sử dụng cho mục đích mua đi bán lại
Khi giá trị còn lại của tài sản (hoặc nhóm tài sản) dài hạn không có khả năng thu
hồi từ dòng tiền kỳ vọng trong tương lai, tài sản được cho là đ
ã b
ị tổn thất. Đồng ngh
ĩa
với việc chủ sở hữu của tài sản không còn mong
đ
ợi sẽ tạo ra được lợi nhuận bằng tiền từ
tài sản đủ để lấy lại giá trị còn lại đ
ã ghi nh
ận của nó. Khi điều này xảy ra, kế toán phải
ghi nhận một khoản lỗ đúng bằng khoản phải giảm giá trị tài sản xuống giá trị hợp lý của
nó hiện tại (ghi Nợ Lỗ/ Có Tài sản). Giá trị còn lại của tài sản sau khi bị đánh giá tổn thất
sẽ được khấu hao trong suốt thời gian sử dụng hữu ích ước tính còn lại. C
ợc lợi ích mà mà LTTM tạo ra
trong một chu kỳ kinh doanh. Hiện tại chưa có phương pháp trích khấu hao nào có thể
phân bổ giá trị của tài sản có thời gian sử dụng không xác định được như LTTM. Thế
nhưng, trong quá tr
ình ho
ạt động của doanh nghiệp, tài sản này c
ũng có th
ể bị giảm đi giá
trị, chính vì thế mỗi năm LTTM phải được tiến hành đánh giá tổn thất để ghi nhận khoản
giảm giá trị này. Lý luận tương tự cho TSVH có thời gian sử dụng hữu ích không xác
định được.
Một lý giải khác chính từ sự khác biệt trong bản chất của tài sản được trích khấu
hao và LTTM. Mặc dù các chi phí khấu hao tài sản không phải là chi phí thực chi bằng
tiền và những chi phí này có thể bóp méo kết quả tài chính của doanh nghiệp, nhưng ít
nhất chi phí khấu hao c
ũng cung c
ấp thông tin hữu ích cho người sử dụng thông tin vì họ
sẽ biết được khi nào sẽ phải chi tiền để thay thế tài sản và biết chính xác lợi nhuận đ
ã b
ị
pha loãng bởi khái niệm chi phí khấu hao là bao nhiêu. LTTM thì không thể bị thay thế.
Vì thế việc tiến hành trích khấu hao cho LTTM là không có ý ngh
ĩa.
16
Riêng đối với tài sản vô hình chưa sẵn sàng sử dụng phải đánh giá tổn thất hàng
năm, v
ì kh
ả năng tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai đủ để phục hồi giá trị sổ sách của
những tài sản này thường bị những tình huống không chắc chắn ảnh hưởng trước khi tài
sản sẵn sàng được sử dụng,hơn là sau khi tài sản ấy sẵn sàng sử dụng (IAS 36 đoạn 11).
trong tương lai để duy trì hoạt động có thể gia tăng, hoặc lợi nhuận mong đợi có thể
giảm.
Khi có những dấu hiệu cho thấy tài sản bị giảm giá trị, cần xem xét lại thời gian
hữu dụng còn lại, phương pháp khấu hao, giá trị thanh lý và
đi
ều chỉnh lại cho dù không
có khoản lỗ nào từ việc giảm giá trị được ghi nhận.
Ngoài yêu cầu bắt buộc kiểm tra mức giảm giá trị hàng năm đối với một số tài sản
nêu trên, IAS 36 lưu
ý r
ằng khái niệm trọng yếu cần được xem xét để quyết định rằng có
cần ước tính giá trị có thể thu hồi của tài sản hay không. Ví dụ khi lần kiểm tra trước cho
thấy giá trị có thể thu hồi của tài sản lớn hơn một cách đáng kể so với giá trị trên sổ sách,
thì vào kỳ này đơn vị không cần ước tính lại giá trị có thể thu hồi nếu chưa có sự kiện nào
xảy ra có thể ảnh hưởng làm cho giá trị thu hồi có thể bị giảm xuống.
1.2.2.5 Xác định giá trị có thể thu hồi:
Giá trị có thể thu hồi của tài sản được định ngh
ĩa là “giá tr
ị dòng tiền lớn nhất mà
tài sản có thể tạo ra cho doanh nghiệp” (PricewaterhouseCoopers, 2013). Do đó, giá trị có
thể thu hồi của tài sản được xác định là giá cao hơn giữa giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán
và giá trị sử dụng của tài sản. Nếu một trong hai loại giá trị nói trên cao hơn giá trị sổ
sách của tài sản, có nghĩa là tài sản không bị giảm giá trị, lúc này ta không cần ước tính
loại giá trị còn lại. Ví dụ, kết quả ước tính giá trị sử dụng của tài sản cho thấy giá trị này
cao hơn giá trị sổ sách thì có thể kết luận ngay là tài sản không bị giảm giá trị và không
cần ước tính giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán tài sản. Tương tự như vậy, nếu giá trị hợp lý
trừ đi chi phí bán được ước tính là cao hơn giá trị sổ sách, đơn vị sẽ không cần ước tính
giá trị sử dụng mà có thể kết luận ngay là tài sản không bị giảm giá.