Bài tập lớn học kỳ / Môn Luật dân sự - Modul 1
MỤC LỤC:
ĐẶT VẤN ĐỀ……………………………………………………………………2
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ………………………………………………………….4
1. Một số vấn đề lý luận………………………………………………………….4
1.1. Kiện đòi lại tài sản (kiện vật quyền)………………………………… 4
1.2. Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với
việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp……………………….5
1.3. Kiện yêu câud bồi thường thiệt hại (kiện trái quyền)……………………… 6
2. Thực trạng…………………………………………………………………… 7
3. Đánh giá việc bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức dân sự - một số giải
pháp…………………………………………………………………………… 15
3.1. Nhận xét……………………………………………………………………15
3.2. Giải pháp………………………………………………………………… 17
KẾT LUẬN…………………………………………………………………… 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………….21
Dương Thị Khánh Ly – DS33C044
1
Bài tập lớn học kỳ / Môn Luật dân sự - Modul 1
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, quyền sở hữu luôn được ghi
nhận là quyền dân sự cơ bản của con người. Với ý nghĩa là cơ sở cho mọi quan
hệ kinh tế, chi phối chế độ kinh tế trong xã hội quyền sở hữu được pháp luật bảo
vệ bằng nhiều phương thức khác nhau. Việc áp dụng phương thức bảo vệ nào tùy
thuộc hậu quả của việc xâm hại, tính chất, mức độ của hành vi xâm hại (nghiêm
trọng hay không nghiêm trọng, ngay tình hay không ngay tình), yêu cầu của
người bị xâm hại. Ở Việt Nam, quyền sở hữu được bảo vệ thông qua các chế tài
hành chính, hình sự và các biện pháp dân sự. Tuy nhiên, mỗi ngành luật bảo vệ
quyền sở hữu theo những phương pháp, cách thức phù hợp với chức năng vốn có
của nó.
Luật hành chính bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định những thể lệ
phạm đến quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình. Điều 255 BLDS quy định
“…Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở
hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng các quy định của pháp
luật”.
Có thể thấy rằng, mỗi ngành luật đều có vai trò quan trọng trong việc bảo
vệ quyền sở hữu, nhưng các ngành luật không phải độc lập với nhau mà có sự bổ
sung, phối hợp lẫn nhau. Trong thực tế, nhiều khi phải áp dụng cùng lúc những
quy phạm của hai hay nhiều ngành luật để điều chỉnh và bảo vệ quyền của chủ
sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp khi bị xâm phạm.
Tuy nhiên, trong những phương thức nêu trên, phương thức dân sự có vai
trò quan trọng và mang những đặc điểm riêng. Phương thức này mang ý nghĩa
thực tế nhất bởi nó khôi phục lại tình trạng trước khi bị vi phạm về mặt vật chất
cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp.
Dương Thị Khánh Ly – DS33C044
3
Bài tập lớn học kỳ / Môn Luật dân sự - Modul 1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Một số vấn đề lý luận.
Quyền sở hữu là vấn đề xương sống của luật dân sự, là tiền đề của các quan
hệ pháp luật dân sự về tài sản. Chính vì vậy, Bộ luật dân sự của các quốc gia trên
thế giới đều coi đây là chế định cơ bản cần tập trung quy định, làm cơ sở cho
việc quy định các chế định khác như hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa
kế… Bộ luật dân sự của Việt Nam năm 2005 (sau đây gọi tắt là BLDS) đã dành
Phần thứ hai với tổng số 117 điều (từ Điều 163 đến Điều 279) để quy định về
‘‘Tài sản và quyền sở hữu’’.
Điều 58 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công
dân”.
Điều 164 BLDS đã xác nhận:
“Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
- Người thực tế đang chiếm giữ vật là người chiếm giữ bất hợp pháp.
- Vật hiện đang còn trong tay người chiếm hữu bất hợp pháp.
- Vật là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu, trừ trường
hợp khác do pháp luật quy định.
1.2. Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật
đối với viêc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp.
Đây là phương thức cho phép chủ sở hữu kiện tới toà án khi một người
nào đó có hành vi trái pháp luật cản trở việc thực hiện quyền sở hữu hay quyền
chiếm hữu hợp pháp để quyền yêu cầu người này phải chấm dứt hành vi đó. Chủ
sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình, có
quyền khai thác lợi ích vật chất của tài sản để thỏa mãn các nhu cầu trong sinh
hoạt cũng như trong sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật. Điều 165,
Dương Thị Khánh Ly – DS33C044
5
Bài tập lớn học kỳ / Môn Luật dân sự - Modul 1
BLDS quy định: “Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình
đối với tài sản nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích
của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”.
Bằng các quy phạm pháp luật cụ thể, BLDS đã tạo điều kiện để các chủ sở hữu,
người chiếm hữu hợp pháp thực hiện các quyền của mình, bảo vệ các quyền lợi
hợp pháp đó và cấm mọi hành vi cản trở pháp luật. Người không phải là chủ sở
hữu của tài sản cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản nếu như có
thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật (Điều 194 BLDS).
Để thực hiện các quyền năng hợp pháp này BLDS đã cho phép chủ sở hữu
và người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ, yêu cầu người có hành vi cản
trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó. Ngoại ra, Điều 259 BLDS còn quy
định:“Quyền yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật
đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp.
Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình, chủ sở hữu,
người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp
để giải quyết trong phiên toà dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng” ( Bảo
vệ quyền sở hữu thông qua phương thức kiện dân sự những ưu điểm và hạn chế
so với các phương thức khác – Th.s NGUYỄN THỊ TUYẾT – Khoa Luật dân sự
– Trường Đại học Luật Hà Nội).
2. Thực trạng.
Để hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng ta sẽ đi vào xem xét một số vụ án trong
thực tiễn, cách giải quyết của tòa án, cũng như những nhận xét của các nhà làm
luật.
2.1. Vụ án “Đòi nhà đất” tại Tòa án thành phố H.
Nội dung:
Năm 1944, cụ Vũ Tá M và cụ Hoàng Thị N mua của ông Ngô Ngọc
Khánh một thửa đất diện tích 90m2 tại số 135 phố TS (số cũ 175 làng An Hạ).
Dương Thị Khánh Ly – DS33C044
7
Bài tập lớn học kỳ / Môn Luật dân sự - Modul 1
Đất được cấp bằng khoán điền thổ mang tên hai cụ, số thửa 42 (Trong giấy tờ
mua bán năm 1929 giữa ông Khánh với chủ cũ thì trên đất có một nhà cấp 4).
Năm 1946, toàn quốc kháng chiến gia đình hai cụ tản cư về quê. Theo lời khai
của ông Vũ Ngọc L (con trai của hai cụ) thì nhà đất khóa cửa để lại, không gửi
ai; vào các 1971, 1990, 2002 ông L có quay về đòi nhà đất đã bị gia đình ông
Đào Văn T chiếm giữ. Tháng 4/2003, ông L khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận
Đ đòi nhà. Gia đình ông T không trả và cho rằng nhà đất được thừa kế từ cha, mẹ
và gia đình ông đã sử dụng ổn định từ năm 1951 (nộp thuế đầy đủ); năm 1991
ông T làm nhà hai tầng và mua thêm một ngôi nhà cấp 4, diện tích 27m2 của anh
Nguyễn Văn Đ liền phía sau nhà hai tầng, tổng diện tích hiện gia đình ông T
đang sử dụng là 60m2.
Tòa án cấp sơ thẩm xác minh:
+ Nguồn gốc nhà đất gia đình ông T không có, nên chưa làm được thủ tục
đăng ký quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất (ông T có lời khác nhau về nguồn
gốc: Do cha, mẹ ông lấn chiếm đất ao làm nhà; không rõ mua của ai; do mua
quan nhà đất nêu trên đã giải thích: Thửa số 18 (gia đình ông T đang sử dụng) là
1 phần của thửa số 42 mang tên cụ M và cụ N thuộc bằng khoán điền thổ số 175.
Cấp sơ thẩm chỉ xác minh về thửa số 18 vì trước đó ngày 4/6/1998 cơ quan địa
chính đã lập “Biên bản xác định mốc giới theo hiện trạng sử dụng đất” thửa số
18 có diện tích 60,8m2 (gồm cả thửa 18 và thửa 22), việc nhập hai thửa vào một
có đơn đề nghị của ông T (tài liệu được lưu trong hồ sơ). Như vậy, kết luận của
cấp phúc thẩm không có căn cứ.
Về nhà trên đất: năm 1929, khi ông Khánh mua của chủ cũ, hợp đồng thể
hiện có nhà cấp 4. Hợp đồng mua bán giữa ông Khánh với hai cụ không thể hiện
có nhà, cấp phúc thẩm nhận định chưa đủ căn cứ xác định có nhà trên đất. Tuy
nhiên cấp phúc thẩm cũng chưa có căn cứ để khẳng định điều này, để làm rõ tình
Dương Thị Khánh Ly – DS33C044
9
Bài tập lớn học kỳ / Môn Luật dân sự - Modul 1
tiết về nhà, cần xác minh việc cụ M và cụ N có ở tại thửa đất này từ khi mua
(năm 1944) đến khi đi tản cư; tờ biên lai nộp thuế thổ trạch năm 1953 ghi tên bà
Th (mẹ ông T) nộp tiền, nhưng có dòng chữ ghi tên cụ Vũ Tá M.
Áp dụng pháp luật: Bản án phúc thẩm nhận định Toà án cấp sơ thẩm áp
dụng văn bản pháp luật cũng như xác định quan hệ pháp luật không đúng: Ông L
đòi nhà đất mà ông T đã ở từ những năm 1951. Như vậy quan hệ được xác lập
trước ngày 1/7/1991, nếu có nhà trên đất thì phải áp dụng Nghị quyết số
58/UBTVQH10 ngày 29/10/1998, nếu chỉ liên quan đến đất thì áp dụng Luật đất
đai năm 2003 để giải quyết. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ “Đòi nhà đất” và áp
dụng quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết là không đúng.
Mặc dù nhận định như trên, nhưng Toà án cấp phúc thẩm không chỉ ra căn
cứ pháp luật để giải quyết vụ án; cấp phúc thẩm quyết định bác yêu cầu đòi nhà
đất của ông L với nhận định cho rằng quyết định của cấp sơ thẩm chưa đủ căn
cứ, thiếu chính xác là không đúng về tố tụng vì đây chỉ là căn cứ để cấp phúc
thẩm quyết định huỷ án sơ thẩm để chứng minh, thu thập chứng cứ làm rõ yêu
cầu của ông L.
Tre quyết định: Chấp nhận 1 phần kháng cáo của ông Lãnh, sửa án sơ thẩm, xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Lãnh về việc bồi thường số tiền
495.000.000đ trong đó tiền thiệt hại tàu là 375.000.000đ và tiền mất thu nhập là
120.000.000đ (48
tháng x 3.000.000đ). Buộc ông Lãnh trả cho ông Tuấn, ông Bé
mỗi người số tiền 35.790.000đ trong đó tiền vốn là 15.000.000đ, lãi là
20.000.000đ
- Ngày 11/7/2007, Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 69/QĐ-KNGĐT-V5
kháng nghị bản án phúc thẩm trên.
- Quyết định giám đốc thẩm số 232/2007/DS-GĐT ngày 24/8/2007 của
Toà dân sự Toà án tối cao quyết định: Chấp nhận kháng nghị của VKSNDTC,
huỷ án sơ thẩm, án phúc thẩm, xét xử sơ thẩm lại.
Dương Thị Khánh Ly – DS33C044
11
Bài tập lớn học kỳ / Môn Luật dân sự - Modul 1
Nhận xét:
Quy định pháp luật: Điều 609 Bộ luật dân sự năm 1995 về “Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại”, Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 về “Căn cứ phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại” tuy tên điều luật có sửa đổi nhưng nội dung
đều thể hiện: Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có lỗi khi thực hiện
hành vi trái pháp luật xâm hại đến nhân thân, tài sản của người khác mà gây thiệt
hại Bản án sơ thẩm quyết định bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về tài sản
của ông Lãnh không xem xét đến trách nhiệm của ông Tuấn, ông Bé đã chiếm
giữ tàu không có căn cứ pháp luật. Bản án phúc thẩm buộc ông Tuấn, ông Bé
liên đới chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại theo lời khai của ông Lãnh
mà không xem xét đến lỗi của các bên đối với thiệt hại xẩy ra. Tại biên bản giải
quyết ngày 8/3/2000 các bên không thoả thuận về trách nhiệm giữ gìn, bảo quản
tàu. Về nguyên tắc, chủ sở hữu có quyền khai thác, sử dụng, định đoạt tài sản
đáp ứng nhu cầu của mình nhưng đồng thời có nghĩa vụ tự bảo quản, giữ gìn tài
Huy S) và bà Nguyễn Thị Th ( vợ ông Trần Văn B) ký giấy xác nhận hai gia
đình mua chung máy xúc đào hiệu SOLAR 130 sản xuất năm 1998 với giá
270.000.000đ (giấy xác nhận ghi tên ông S, ông B nhưng không có chữ ký tên
hai ông), có xác nhận của ủy ban nhân dân xã. Ngày14/5/2003, vợ chồng bà Ch,
ông S bán máy xúc cho ông Luân với giá 300.000.000đ.
Bà Th khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Ch trả 1/2 trị giá máy xúc mua
chung là 135.000.000đ tính đến thời điểm 25/10/2002, sau thời điểm này gia
đình bà Ch phải chịu lãi suất ngân hàng và trị giá chênh lệch tài sản. Bà Ch
không thừa nhận việc mua chung máy xúc và chữ ký tên bà trên giấy xác nhận
mua chung máy.
Tòa án thu thập chứng cứ, xác minh cho thấy chỉ có một cái máy xúc. Kết
luận giám định của Cơ quan công an tỉnh và Viện khoa học kỹ thuật hình sự Bộ
công an đều xác định chữ ký, chữ viết tên là của bà Ch
Dương Thị Khánh Ly – DS33C044
13
Bài tập lớn học kỳ / Môn Luật dân sự - Modul 1
Quyết định của tòa án:
Bản án dân sự sở thẩm số 07/DS/ST ngày 18/6/2004 của Tòa án huyện TD
quyết định: Buộc gia đình ông S, bà Ch phải trả cho gia đình bà Th tiền bán máy
xúc đào và tiền lãi là 164.775.000đ.
Bản án dân sự phúc thẩm số 24/DSPT ngay7f 20/4/2005 của Tòa án tỉnh
VP quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của gia đình bà Ch. Y toàn bộ án sơ
thẩm.
Ngày 18/52005 Viện kiểm sát tỉnh VP có công văn số 742/BC-VKS-P5 đè
nghị Viện kiểm sát tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc
thẩm. Viện kiểm sát tối cao có công văn trả lời VKS tỉnh không có căn cứ kháng
nghị bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.
Nhận xét:
Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự: VKS tỉnh cho rằng tài liệu
chứng cứ còn nhiều mâu thuẫn: Hợp đồng giữa ông S với Công ty Minh Anh
cũng như cũng có những hạn chế nhất định so với các phương thức khác. Những
ưu điểm chủ yếu của phương thức kiện dân sự gồm có:
Một, đây là phương thức mang tính thực tế rất lớn bởi nó xuất phát từ
những hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu thông thường nảy sinh trong đời
sống xã hội, xâm phạm tới các quyền tài sản của các chủ thể và do vậy chủ yếu
thuộc sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Do xuất phát điểm là các hành vi xâm
phạm quyền sở hữu chủ yếu thuộc pháp luật dân sự nên biện pháp kiện dân sự
cũng được áp dụng phổ biến. Hơn nữa, mục đích lớn nhất của chủ thể khi sử
dụng phương thức kiện dân sự nhằm bảo vệ quyền sở hữu của mình chính là việc
khôi phục lại tình trạng ban đầu (tình trạng trước khi bị vi phạm) về mặt vật chất
hay chính là đảm bảo sự nguyên vẹn của tài sản cho chủ sở hữu hoặc cho người
chiếm hữu hợp pháp. Sau khi áp dụng các phương thức bảo vệ quyền sở hữu
bằng biện pháp dân sự, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có thể khôi
Dương Thị Khánh Ly – DS33C044
15
Bài tập lớn học kỳ / Môn Luật dân sự - Modul 1
phục lại trạng thái tài sản ban đầu hoặc được bù đắp về mặt vật chất cho những
xâm phạm đến quyền sở hữu của họ, đáp ứng được lợi ích cơ bản của việc bảo
vệ quyền sở hữu của các chủ thể được nhà nước ghi nhận.
Hai, phương thức kiện dân sự được áp dụng một cách rộng rãi hơn các
biện pháp khác. Thông thường biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong ngành luật
hình sự chỉ áp dụng khi hành vi xâm phạm đó được cấu thành tội phạm theo quy
định trong BLHS. Mà trong BLHS thì hiện nay quy định chỉ có vài chục hành vi
xâm phạm vào 2 nhóm sở hữu chính là sở hữu Xã hội Chủ nghĩa và sở hữu của
công dân (từ Điều 133 đến Điều 145 BLHS). Biện pháp thuộc ngành luật hành
chính thông thường áp dụng khi tài sản bị xâm phạm tới là tài sản của Nhà nước.
Bởi vậy trong rất nhiều trường hợp việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm
trên thực tế không phát huy được hiệu quả một cách tuyệt đối. Riêng biện pháp
kiện dân sự được áp dụng rộng rãi bởi lẽ: việc xâm phạm tài sản mang tính chất
dân sự diễn ra phổ biến; các chủ thể có thể áp dụng các phương thức kiện dân
3.2.1. Nên cụ thể hoá quy định về bảo vệ quyền chiếm hữu:
Việc coi chiếm hữu là một trong những nội dung của quyền sở hữu kéo
theo sự đồng nhất giữa bảo vệ quyền sở hữu và bảo vệ quyền chiếm hữu trong
BLDS hiện hành của chúng ta trong thời gian qua đã có những biểu hiện bất cập.
Chế định pháp luật này vô hình trung đã đặt lên vai người đi kiện (nguyên đơn)
nghĩa vụ rất nặng nề là họ phải chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với
tài sản tranh chấp, trong điều kiện nước ta hiện nay việc này không hề đơn giản,
nhất là đối với bất động sản (nhà, đất) không có giấy tờ chứng nhận, mà trong đa
số trường hợp, lỗi không phải do người dân mà do chính cơ quan hành chính
Nhà nước triển khai chậm. Chính vì tình trạng cung cấp, xác minh, đánh giá
chứng cứ gặp rất nhiều khó khăn mà thời hạn tố tụng bị kéo dài, dẫn đến số
lượng án tồn đọng ngày càng tăng, nhiều bản án thiếu khách quan vì không phản
Dương Thị Khánh Ly – DS33C044
17
Bài tập lớn học kỳ / Môn Luật dân sự - Modul 1
ánh đúng bản chất của vụ việc, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không
được bảo đảm.
Bộ luật dân sự cần phải có những quy định riêng về bảo vệ quyền chiếm
hữu. Sự chiếm hữu cần phải được suy đoán là chiếm hữu của chủ sở hữu, đó là
một nguyên tắc rất quan trọng trong pháp luật của các nước, thể hiện sự tôn
trọng của pháp luật đối với công dân trong việc thực hiện quyền của mình.
Một vấn đề đặt ra, vậy người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật hay
không có được pháp luật bảo vệ không? Theo các quy định Bộ luật dân sự hiện
hành của Việt Nam thì họ không được bảo vệ. Cách phân loại chiếm hữu có hay
không có căn cứ pháp luật là cách phân loại rất riêng của Việt Nam, còn luật dân
sự của các nước hầu như không có sự phân biệt như vậy. Pháp luật các nước
trên thế giới từ lâu đã thừa nhận nguyên tắc: sự ngay tình bao giờ cũng được suy
đoán; người nào viện dẫn sự không ngay tình thì phải có nghĩa vụ chứng minh.
Bất luận trong trường hợp nào, người chiếm hữu vẫn có quyền kiện bảo vệ sự
chiếm hữu tài sản của mình. Như vậy, kể cả trong trường hợp chiếm hữu không
đăng kỳ tài sản, giá trị pháp lý của việc đăng ký… Sau đó, cần ban hành Luật về
đăng ký tài sản (hoặc nếu chưa có điều kiện thì trước mắt cần ban hành Luật về
đăng ký bất động sản) như kinh nghiệm của Nhật Bản và nhiều nước trên thế
giới, nhằm pháp điển hoá các quy định về đăng ký tài sản còn đang nằm rải rác ở
các văn bản pháp luật chuyên ngành. Hệ thống cơ quan đăng ký tài sản cũng phải
được tổ chức và hoạt động có hiệu quả, phù hợp với chủ trương cải cách hành
chính và làm sao phải tạo thuận lợi nhất cho người dân.
3.2.4. Nâng cao hiệu quả của các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong thực
tiễn:
Xuất phát từ đặc trưng của bản thân quan hệ pháp luật dân sự, mà mỗi
công dân, pháp nhân cần phải tự mình có những biện pháp bảo vệ quyền sở hữu
sao cho có hiệu quả nhất và tất nhiên là phải trong khuôn khổ của pháp luật.
Dương Thị Khánh Ly – DS33C044
19
Bài tập lớn học kỳ / Môn Luật dân sự - Modul 1
Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, thì các bên cần tận dụng tối đa cơ chế hoà
giải, dàn xếp với nhau vì cơ chế này có những lợi ích nhất định, đặc biệt trong
điều kiện ở Việt Nam hiện nay
Cần tăng cường công tác phổ biến giáo dục các quy định của pháp luật về
bảo vệ quyền sở hữu đến người dân, đồng thời hoàn thiện và tăng cường năng
lực hoạt động của các thiết chế (Toà án, trọng tài, thi hành án, luật sư, công
chứng…) nhằm bảo đảm cho các quy định về bảo vệ quyền sở hữu thực sự đi
vào cuộc sống.
Đây là những vấn đề rất lớn, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu chuyên sâu và
đặc biệt là phải có sự quan tâm của Nhà nước theo lộ trình cụ thể để làm sao thực
sự nâng cao được hiệu quả của các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong thực
tiễn.
KẾT LUẬN:
Pháp luật cho phép chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự
bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng