Sử dụng hệ thống bài tập định tính vào chương chất rắn và chất lỏng sự chuyển thể vật lý lớp 10 nâng cao nhằm bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh trong dạy học vật lý ở trường trung học - Pdf 29



Sử dụng hệ thống bài tập định tính vào
chương "Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển
thể" vật lý lớp 10 nâng cao nhằm bồi dưỡng
tư duy logic cho học sinh trong dạy học vật lý
ở trường trung học phổ thôngLÊ TRẦN THẢO TRANG
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố bất kì trong công trình nào khác.
Tác giả
Lê Trần Thảo Trang

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được
rất nhiều sự ủng hộ, động viên và giúp đỡ của người thân, thầy cô và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn:


1. Lý do chọn đề tài
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ II (khóa VIII) đã xác định
một trong những mục tiêu giáo dục của nước ta trong giai đoạn hiện nay là phải đào tạo thế hệ trẻ có
ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ
hiện đại. Có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức
và kỉ luật.
Đối với dạy học môn vật lý ở trường phổ thông, mục tiêu đó được cụ thể trong bốn nhiệm vụ:
giáo dưỡng, giáo dục, phát triển và giáo dục kĩ thuật tổng hợp. Trong đó phát triển tư duy học sinh
(HS) là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là động lực giúp cho việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ
còn lại, đồng thời suy cho cùng là mục đích cuối cùng của dạy học: dạy học phải kéo theo sự phát
triển trí tuệ học sinh (Vư-gốt-xki). Nội dung phát triển năng lực tư duy cho HS bao gồm: rèn luyện
những thao tác, hành động, phương pháp nhận thức cơ bản, công cụ để HS chiếm lĩnh kiến thức,
vận dụng sáng tạo kiến thức giải quyết vấn đề trong học tập và hoạt động thực tiễn. Trong dạy học,
việc bồi dưỡng tư duy logic là một bộ phận quan trọng của nhiệm vụ phát triển tư duy bởi tư duy
logic cần thiết cho mọi hoạt động, là cơ sở của tư duy sáng tạo. Những kỹ năng cần thiết của người
lao động mới trong xã hội toàn cầu hóa, cạnh tranh và hợp tác như: trình bày vấn đề, thuyết phục,
đàm phán … có cơ sở từ năng lực tư duy logic, và năng lực này cần phải được quan tâm bồi dưỡng
từ khi HS còn ngồi trên ghế nhà trường.
Làm thế nào để bồi dưỡng tư duy logic cho HS trong dạy học môn vật lý ở trường phổ thông?
Đây là câu hỏi từ lâu được nhiều giáo viên (GV) vật lý quan tâm bởi thực tế năng lực tư duy logic,
suy luận logic, diễn đạt tư tưởng, ý kiến của HS, sinh viên và cả GV còn nhiều bất cập hạn chế.
Trong dạy học vật lý, bài tập vật lý (BTVL) từ trước đến nay vẫn giữ một vị trí quan trọng bởi vì
có thể sử dụng BTVL như một phương tiện để ôn tập, củng cố kiến thức, lí thuyết đã học một cách
sinh động và có hiệu quả. BTVL còn giúp rèn luyện cho HS khả năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn và đời sống, rèn luyện cho HS tinh thần tự lập, tính cẩn thận, tính kiên trì và tinh thần vượt
khó…Ngoài ra ta còn có thể dùng nó như một phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng
của HS.
Do đó, để quá trình dạy học vật lý ở trường THPT đạt hiệu quả cao thì ngoài việc dạy kiến thức
mới còn phải chú trọng đến việc dạy BTVL. BTVL đa dạng, theo dấu hiệu phương thức, công cụ

cho HS.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Tư duy logic
- BTVL nói chung và BTĐT nói riêng trong dạy học vật lý: vai trò và đặc điểm của chúng.
- Việc dạy BTVL nói chung và BTĐT nói riêng trong chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển
thể”.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu BTĐT và chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” trong chương trình vật lý
lớp 10 Nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc bồi dưỡng tư duy logic trong dạy học.
5.2. Nghiên cứu cơ sở lý luận về BTĐT trong dạy học vật lý, mối liên hệ giữa hoạt động giải
BTĐT và việc thực hành các thao tác tư duy, các hành động suy luận logic. Xây dựng tiêu chí đánh
giá năng lực tư duy logic trong dạy học vật lý.
5.3. Tìm hiểu thực trạng dạy BTĐT và vấn đề quan tâm bồi dưỡng tư duy logic cho HS trong dạy
học vật lý ở trường THPT. Điều tra kỹ năng giải BTĐT của HS lớp 10 để đánh giá năng lực tư duy
logic của HS.
5.4. Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, chuẩn kiến thức kỹ năng vật lý 10 Nâng cao,
chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” nhằm tạo cơ sở xây dựng hệ thống BTĐT.
5.5. Xây dựng hệ thống BTĐT chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” theo định hướng
nghiên cứu.
5.6. Thiết kế các phương án dạy học với hệ thống BTĐT đã xây dựng nhằm bồi dưỡng tư duy
logic cho HS.
5.7. Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi, hiệu quả của các phương án đã thiết kế, điều
chỉnh, hoàn thiện. Quay phim tiết dạy thực nghiệm làm tư liệu cho bảo vệ đề tài.

6. Phương pháp nghiên cứu
 Nghiên cứu lý luận: đọc các sách, tài liệu về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết các
nhiệm vụ đã đề ra trong luận án.

a. Tư duy
Có nhiều cách định nghĩa về tư duy, nhưng nói chung ta có thể hiểu là tư duy là sự phản ánh gián
tiếp, trừu tượng, khái quát bản chất của sự vật hiện tượng, những liên hệ, quan hệ có tính chất quy
luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà ta chưa biết.
Một số đặc điểm của tư duy: [7]
 Tư duy bắt đầu từ một tình huống có vấn đề.
 Có tính trừu tượng và khái quát.
 Tư duy có tính gián tiếp.
 Tư duy có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ: mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ được thể
hiện bằng sơ đồ 1.1: [4]

Tư duy đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố và phát triển ngôn ngữ. Ngược lại, ngôn ngữ
giúp cho việc rèn luyện, phát triển tư duy rõ ràng, mạch lạc, chính xác, đầy đủ.
b. Các loại tư duy
Con người đã đặt ra rất nhiều loại hình tư duy tuy nhiên, trong dạy học vật lý có thể phân loại tư
duy theo các loại hình sau: [19]
 Tư duy kinh nghiệm
Là loại tư duy chủ yếu dự trên kinh nghiệm cảm tính và sử dụng phương pháp “thử và sai”. Chủ
thể phải thực hiện một số thao tác, hành động nào đó, ngẫu nhiên gặp một trường hợp thành công và
sau đó lặp lại đúng như thế mà không biết nguyên nhân vì sao. Kiểu tư duy này đơn giản, không cần
phải rèn luyện nhiều, có ích trong hoạt động hàng ngày để giải quyết một số vấn đề trong một phạm
vi hẹp.

Nhưng, tư duy kinh nghiệm thường gặp khó khăn khi tiếp xúc với những sự vật, sự việc, vấn
đề có nhiều sự khác lạ.
 Tư duy lý luận
Là loại tư duy giải quyết nhiệm vụ đề ra dựa trên những khái niệm trừu tượng, những tri thức lý
luận.
Đặc trưng của loại tư duy này là:
Ngôn ngữ

tìm ra mối quan hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lý,
dự đoán các hệ quả mới từ các lý thuyết và áp dụng những kiến thức khái quát thu được vào thực
tiễn.
Việc phân loại các hình thức tư duy thật ra cũng không có một ranh giới thật rõ rệt, chúng chỉ thể
hiện một khía cạnh nào đó của quá trình tư duy. Nhưng chắc chắn rằng để quá trình tư duy được
đúng đắn, rõ ràng, không mâu thuẫn thì phải có một trình độ tư duy logic nào đó. Do vậy, vấn đề bồi
dưỡng tư duy logic cho HS phải được quan tâm đúng mức, và phải được rèn luyện thường xuyên ở
cấp trung học.
Theo định hướng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đi sâu tìm hiểu về tư duy logic.
1.1.2. Vai trò của tư duy logic trong các loại tư duy
Vai trò của tư duy logic có thể được thể hiện bằng sơ đồ 1.2:
Theo sơ đồ 1.2 chúng tôi muốn chỉ ra rằng tư duy kinh nghiệm có thể xem là cơ sở của tư duy
logic. Trong quá trình nhận thức thế giới khách quan, con người đã luôn tự mò mẫm, sử dụng
phương pháp “thử và sai” trước khi có thể đúc kết cho mình một quy tắc, một quy luật nào đó. Như
vậy, những quy tắc, quy luật đó không phải do con người tự ý sáng tạo ra một cách vô căn cứ mà là
sự phản ánh những mối liên hệ, quan hệ khách quan của các sự vật hiện tượng quanh ta đúc kết
thành tiền đề cho tư duy logic. Trải qua nhiều thế kỉ, con người đã tổng kết được những quy tắc, quy
luật logic có tính khách quan và đã hình thành nên logic học, một khoa học nghiên cứu những tư
tưởng của con người về mặt hình thức logic của chúng. Đây chính là cơ sở của tư duy logic.
Mặt khác, tư duy logic lại có thể xem là cơ sở của các loại tư duy khác như tư duy lý luận, tư duy
vật lý. Đối với tư duy lý luận, để có thể xây dựng được những quy tắc, những quy luật chung hay để
có thể sử dụng những tri thức đã khái quát được nhằm lý giải, dự đoán những sự vật hiện tượng cụ
thể…chắc chắn phải dùng đến những phán đoán và lập luận. Đối với tư duy vật lý, khi quan sát các
sự vật hiện tượng muốn xác lập mối quan hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng giữa các sự vật
hiện tượng, giữa các đại lượng vật lý bắt buộc phải sử dụng những phán đoán và lập luận. Những
phán đoán và những lập luận này phải tuân theo những quy tắc, quy luật của logic học một cách
chặt chẽ có như vậy mới không mắc phải sai lầm trong quá trình lập luận cũng như trong quá trình

Sơ đồ 1.2. Vai trò của tư duy logic trong các loại tư duy
khác nhau trong không khí là do: hình dạng, kích thước, khối lượng hay do sức cản của không khí.
Muốn biết kết luận rút ra có chính xác hay không thì phải kiểm tra trong thực tiễn. Để làm việc đó
phải xuất phát từ kết luận đã khái quát suy ra những hệ quả, dự đoán những hiện tượng có thể quan
sát được trong thực tiễn. Nếu thí nghiệm xác nhận hiện tượng mới đúng như dự đoán thì kết luận
ban đầu mới được xác nhận là chân lý. Trong giai đoạn đưa ra hệ quả và kiểm chứng hệ quả đòi hỏi
HS phải đưa ra những phán đoán, những suy luận chặt chẽ, không mâu thuẫn…nói cách khác HS
phải sử dụng tư duy logic. Chẳng hạn khi HS đưa ra kết luận: nguyên nhân làm các vật rơi nhanh
chậm trong không khí là do khối lượng. Như vậy, hệ quả rút ra dựa trên lập luận như sau:
Các vật có khối lượng bằng nhau thì rơi nhanh như nhau bất kể hình dạng và kích thước.
Hai vật này có khối lượng bằng nhau, hình dạng và kích thước khác nhau.
Vậy, chúng rơi nhanh như nhau.
Như vậy, trong quá trình nhận thức HS phải sử dụng nhiều loại hình tư duy, các loại hình tư duy
này không phải theo một trình tự cứng nhắc, mà chúng đan xen, hỗ trợ lẫn nhau giúp cho con người
phản ánh ngày càng đúng bản chất của sự vật hiện tượng, kiến thức do con người khám phá ra ngày
càng tiệm cận với chân lý, ngày càng đúng với hiện thực khách quan.
1.1.3. Cơ sở lý luận của tư duy logic
Tư duy logic là một bộ phận hợp thành của tư duy khoa học nên có vai trò to lớn trong nhận thức
khoa học. Chính vì vậy con người tìm hiểu về nó rất sớm và đã hình thành những nghiên cứu về tư
duy logic, đó là logic học. Tư duy logic là giai đoạn nhận thức lý tính, sử dụng các hình thức cơ bản
như: khái niệm, phán đoán, suy luận cùng với các thao tác logic xác định của chủ thể nhằm tạo ra các
tri thức mới với mục đích phản ánh ngày càng sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về hiện thực khách quan.
Do đó, để nâng cao năng lực tư duy logic cần phải nắm bắt được các khái niệm, các quy luật cơ
bản của logic học.
1.1.3.1. Các khái niệm cơ bản của logic học
Trong phần này chúng ta sẽ đề cập đến những khái niệm rất cơ bản mọi quá trình nhận thức đều
sử dụng đến, đó là: khái niệm, phán đoán, suy luận.
a. Khái niệm
Khái niệm là hình thức tư duy phản ánh những thuộc tính bản chất, những dấu hiệu cơ bản khác
biệt của các sự vật hiện tượng của hiện thực.

Phán đoán được phân làm hai loại là phán đoán đơn và phán đoán phức. Phán đoán đơn là phán
đoán được tạo thành từ mối liên hệ giữa hai khái niệm. Phán đoán phức là phán đoán được tạo thành
từ nhiều phán đoán đơn.
Tính chu diên và không chu diên của các thuật ngữ trong phán đoán: trong một phán đoán nếu chủ
ngữ hay vị ngữ chỉ gồm một hay một số đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm thì ta nói chủ ngữ
hay vị ngữ đó không chu diên. Nếu chủ ngữ hay vị ngữ chỉ toàn bộ đối tượng thuộc ngoại diên của
khái niệm thì ta gọi là chu diên.
GV phải khéo léo lồng ghép những kiến thức cơ bản của logic học về khái niệm và phán đoán
vào nội dung dạy học môn học để bồi dưỡng cho HS vì đây là điều kiện cần cho việc thực hiện các
phép suy luận.
c. Suy luận
Suy luận là quá trình nhận thức hiện thực một cách gián tiếp. Đó là quá trình nhận thức trong đó
từ một hay nhiều phán đoán đã được chứng minh để rút ra phán đoán mới (kiến thức mới).
Đặc điểm của suy luận:
 Bất kì một suy luận nào cũng gồm có: tiền đề, kết luận và lập luận. Tiền đề (còn gọi là phán
đoán xuất phát) là phán đoán chân thực đã biết trước. Kết luận là phán đoán mới thu được bằng con
đường lập luận logic từ các tiên đề. Cách thức logic để rút ra kết luận gọi là lập luận.
 Trong quá trình lập luận để có thể rút ra được kết luận (tri thức mới) chân thực phải có hai
điều kiện:
 Các tiền đề của suy luận phải chân thực (điều kiện cần).
 Phải tuân theo các quy tắc logic của lập luận (điều kiện đủ).
Căn cứ vào cách thức suy luận, logic học phân ra làm 2 loại suy luận:
i. Suy luận diễn dịch
Là suy luận trong đó lập luận đi từ cái chung đến cái riêng, cái đơn nhất.
Trong dạy học vật lý ta thường dùng các suy luận diễn dịch sau:
 Luận ba đoạn nhất quyết đơn: Luận ba đoạn là loại suy luận suy diễn có hai tiền đề dưới dạng
phán đoán đơn, trong đó xác lập mối quan hệ giữa các thuật ngữ biên trong kết luận trên cơ sở quan
hệ của chúng đối với các thuật ngữ giữa trong tiền đề.
 Luận ba đoạn rút gọn: Luận ba đoạn bỏ qua một phán đoán gọi là luận hai đoạn hay luận ba
đoạn rút gọn.

Việc nhận thức đầy đủ và vận dụng đúng đắn quy luật đồng nhất tạo điền kiện đầu tiên và cơ bản
quyết định việc hình thành tính nhất quán rõ ràng, chính xác, mạch lạc và khúc chiết trong quá trình
lập trong tư duy.
ii. Quy luật cấm mâu thuẫn
“Trong cùng một quan hệ và cùng một lúc, một sự vật không thể vừa là A, vừa không là A”
Quy luật đảm bảo cho tư duy có tính nhất quán. Hai ý kiến trái ngược nhau về cùng một sự vật,
được xem xét trong cùng một thời gian và cùng một mối quan hệ thì không thể đồng thời là chân
thực. Ít nhất phải có một ý kiến là giả dối.
Việc nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật cấm mâu thuẫn giúp cho con người tránh được
những mâu thuẫn logic trong quá trình suy nghĩ nhằm hình thành tính hệ thống, rõ ràng, mạch lạc,
chính xác trong lập luận
iii. Quy luật loại trừ cái thứ ba (quy luật bài trung)
“Một sự vật trong cùng một lúc, hoặc tồn tại (nó là A) hoặc không tồn tại (nó không là A) chứ
không còn khả năng thứ ba nào khác”
Điều đó có nghĩa là hai phán đoán có hình thức logic xác định phủ định lẫn nhau, trong cùng một
quan hệ, trong cùng một thời gian thì nhất định phải có phán đoán là chân thực, một phán đoán sai,
chân lý không thể có ý kiến thứ ba.
Việc nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật loại trừ cái thứ ba sẽ giúp nêu ra cơ sở, cách thức
chắc chắn để lựa chọn một trong hai tư tưởng, phán đoán mâu thuẫn nhau là chân thực.
iiii. Quy luật lý do đầy đủ
“Mỗi luận điểm rút ra trong quá trình lập luận, chỉ được thừa nhận là đúng đắn khi có đầy đủ
các lý do chân thực”.
Quy luật lý do đầy đủ đòi hỏi những luận điểm, quan niệm, tư tưởng…của chúng ta phải được lí
giải, chứng minh một cách chặt chẽ trên một cơ sở đủ để thể hiện sự hợp lí đúng đắn của chúng.
Điều này đảm bảo cho tư duy có tính khoa học, có sức thuyết phục.
Việc nắm vững và vận dụng đúng đắn nội dung của quy luật lý do đầy đủ giúp cho con người
luôn có ý thức về tính chân thực và lập luận có căn cứ khi đưa ra các ý kiến, các quan điểm của
mình để thuyết phục người khác.
Trong bốn quy luật của logic hình thức thì mỗi quy luật có một chức năng logic khác nhau.
Nhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau. Nếu vi phạm một trong

tượng khác nhau thành một nhóm, một loại…trên cơ sở chúng có một số thuộc tính chung và bản
chất, những mối quan hệ có tính quy luật.
Trong các thao tác tư duy trên thì sự trừu tượng hóa, khái quát hóa và cụ thể hóa giữ vai trò chủ
yếu. Sự trừu hóa diễn ra trên cơ sở phân tích, so sánh. Kết quả của quá trình này sẽ là dữ liệu tiếp
theo cho quá trình khái quát hóa để từ đó hình thành khái niệm. Sau khi hình thành khái niệm nhờ
sự cụ thể hóa mà HS phát hiện ra những biểu hiện trong thực tế của các trừu tượng khoa học.
Ví dụ để hình thành khái niệm “chuyển động thẳng đều” HS phải quan sát nhiều chuyển động
trong thực tế, từ đó đặt ra câu hỏi: chuyển động thẳng đều có những đặc điểm gì? Quỹ đạo chuyển
động có dạng như thế nào? Tốc độ chuyển động của các vật như thế nào? Bằng cách so sánh các
chuyển động đã quan sát được, phân tích để tìm cái chủ yếu của hiện tượng, trừu xuất những cái
không chủ yếu, không bản chất của hiện tượng, từ đó định nghĩa khái niệm “chuyển động thẳng
đều”. Tiếp theo là sự cụ thể hóa, HS sẽ nhận biết những biểu hiện của khái niệm chuyển động thẳng
đều trong thực tế.
Như vậy, trong dạy học vật lý phải rèn luyện cho HS các thao tác tư duy nêu trên bằng cách tạo
cơ hội cho HS được huy động, thực tập và rèn luyện chúng.
 Rèn luyện kỹ năng suy luận logic
Trong quá trình hình thành khái niệm, xây dựng định luật, lý thuyết, ứng dụng kiến thức, những
suy luận logic như suy luận quy nạp và suy luận diễn dịch luôn được sử dụng, giữa chúng có mối
quan hệ chặt chẽ. Trong bước đầu học tập vật lý, HS đi từ những kiến thức cảm tính, cụ thể của các
sự kiện, bằng phép quy nạp đi đến nhận thức những quy luật của tự nhiên, nghĩa là đi từ cụ thể đến
trừu tượng, giai đoạn này sử dụng suy luận quy nạp. Để ứng dụng những quy luật, những lý thuyết
khái quát đã học vào giải quyết những vấn đề của thực tiễn thì phải áp dụng phép suy luận diễn
dịch. Phép suy luận diễn dịch cho phép chuyển từ trừu tượng đến cụ thể làm cho các khái niệm, các
quy luật có ý nghĩa thực tiễn.
Để cho hoạt động nhận thức đạt kết quả tốt và được thực hiện với tốc độ ngày càng nhanh thì
người GV ngoài việc rèn luyện các thao tác tư duy cần phải rèn luyện thêm cho HS các phép suy
luận logic đã nêu ở trên.
b. Rèn luyện ngôn ngữ
Như đã biết ngôn ngữ là hình thức biểu hiện của tư duy. Mỗi một khái niệm được biểu diễn bằng
một từ hay một cụm từ, mỗi một phán đoán được biểu diễn bằng một câu hay một mệnh đề, mỗi

logic phải được tiến hành bằng con đường kinh nghiệm và làm thật nhiều lần bằng cách giải quyết
các tình huống có vấn đề.
Như vậy, GV có thể rèn luyện các thao tác tư duy, phép suy luận logic cho HS bằng phương
pháp sau: [20]
a. Tổ chức quá trình học tập sao cho trong từng giai đoạn xuất hiện các tình huống bắt buộc
HS phải thực hiện các thao tác tư duy và suy luận logic mới có thể giải quyết vấn đề và hoàn
thành nhiệm vụ học tập.
Muốn được như vậy GV không được cung cấp các kiến thức cho HS và HS thì chỉ ghi chép một
cách thụ động mà HS phải tự lực chiếm lĩnh các kiến thức mới, phải tích cực tham gia vào quá trình
học tập.
Những tình huống phổ biến trong đó HS phải thực hiện các thao tác tư duy là:
 Nhận biết những dấu hiệu biểu thị đặc tính của sự vật, hiện tượng.
 Tìm những yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến của hiện tượng hoặc gây ra một biến đổi trong
tính chất của sự vật hiện tượng.
 Xác định yếu tố nào là yếu tố quan trọng nhất tác động đến diễn biến của hiện tượng, của tính
chất sự vật.
 Tìm những dấu hiệu giống nhau và khác nhau trong các sự vật hiện tượng.
 Tìm những dấu hiệu chung, tính chất chung của nhiều sự vật, hiện tượng.
 Rút ra kết luận chung sau khi quan sát nhiều hiện tượng, nhiều thí nghiệm.
 Nhận biết những biểu hiện cụ thể trong thực tế của các khái niệm trừu tượng, những mối
quan hệ thực chất.
 Tìm mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng.
 Dự đoán sự diễn biến của hiện tượng.
 Giải thích một hiện tượng.
 Bố trí một thí nghiệm để đo lường một đại lượng vật lý hay để kiểm tra một giả thuyết.
Để xây dựng tình huống vật lý tốt trước hết GV phải xác định rõ kiến thức cần xây dựng, mức độ
và yêu cầu của kiến thức đó đối với HS. Từ đó xây dựng những câu hỏi cơ bản và dự kiến được
những khó khăn mà HS gặp phải khi trả lời câu hỏi. Muốn như vậy GV phải vừa căn cứ vào tri thức
khoa học cần dạy vừa phải căn cứ vào các quan niệm, kiến thức đã có của HS liên quan đến kiến
thức cần xây dựng. Trên cơ sở của điều kiện thứ nhất, GV phải soạn thảo được một tình huống có

Giải thích vì sao hiện tượng lại xảy ra như thế? Phân tích, so sánh
Cần phải bố trí thí nghiệm như thế nào để tạo ra hiện tượng
mong muốn?
Phân tích, so sánh, cụ thể hóa
Giữa đại lượng A và đại lượng B có mối quan hệ như thế
nào trong hiện tượng này?
Phân tích, so sánh, trừu tượng
hóa, khái quát hóa
Trên cơ sở của hai điều kiện trên GV dự định tiến trình định hướng giúp đỡ HS một cách hợp lí,
phù hợp, đảm bảo cho HS giải quyết thành công từng bước một, điều này sẽ tạo cho HS một tâm trạng
phấn khởi, kích thích cho HS giải quyết các nhiệm vụ khác cao hơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
việc phát triển tư duy của HS.
Ngoài các điều kiện cơ bản trên GV cần lưu ý rằng một tình huống thích hợp là một tình huống
có thể định hướng cho HS tự tìm tòi. Do đó, GV phải luôn có sự linh hoạt, luôn dựa vào đối tượng
HS để có thể tổ chức, tìm ra được tình huống phù hợp với các đối tượng đó. Trong quá trình thảo
luận, hợp tác giữa GV và HS, giữa HS với nhau phải luôn tạo không khí thoải mái, dân chủ, thuận
lợi cho HS bày tỏ ý kiến của mình. GV phải làm cho HS tin tưởng vào bản thân họ, khích lệ mỗi
thành công dù là nhỏ của HS. Đồng thời phải có những thông tin phản hồi chính xác để giúp HS uốn
nắn, sửa chữa những sai lầm của mình.
b. GV phân tích các câu trả lời của HS để chỉ ra được chỗ sai trong khi thực hiện các thao
tác tư duy, suy luận logic và hướng dẫn HS cách sửa chữa
Những sai lầm HS thường gặp là do các nguyên nhân sau đây:
 Không nhận ra những dấu hiệu đặc trưng của sự vật, hiện tượng;
 Không phát hiện ra những biến đổi bên ngoài của các sự vật, hiện tượng;
 Không nhận biết được những dấu hiệu bên ngoài của sự vật, hiện tượng có quan hệ với các
khái niệm trừu tượng nào của vật lý;
 Không phân biệt những biến đổi có tính ngẫu nhiên và những biến đổi có tính quy luật;
 Không nắm được những khái niệm, những định luật vật lý cần thiết phải biết trước khi xây
dựng một phán đoán hay một suy luận;
 Không thực hiện phép suy luận phù hợp với các quy tắc, quy luật của logic học.

Để làm được điều này trước hết đòi hỏi các khái niệm, đại lượng, định luật vật lý phải được giảng
dạy chính xác, đầy đủ và có hệ thống. Việc nắm vững các khái niệm, các đại lượng, các định luật
vật lý không phải chỉ diễn ra đầu HS mà phải được HS phát biểu thành lời thông qua việc mô tả các
hiện tượng vật lý, giải thích chúng, tìm trong các hiện tượng đang nghiên cứu những đại lượng đặc
trưng và các định luật chi phối các hiện tượng.
Ngoài việc yêu cầu HS phát biểu thành lời có thể yêu cầu HS viết ra giấy. Cần tránh việc chỉ yêu
cầu HS phát biểu lại nguyên văn các định nghĩa, định luật đơn thuần. Trong BTVL thì có thể yêu
cầu HS phân tích hiện tượng, phân tích dữ kiện, phân tích kết quả đạt được. Trong thí nghiệm cho
HS phát biểu mục đích, cách tiến hành, sơ đồ thí nghiệm, nhận xét kết quả làm được. Trong giờ ôn
tập, củng cố cho HS hệ thống hóa các kiến thức đã học theo một trình tự logic, chặt chẽ với cách
trình bày ngắn gọn, chính xác…
Rõ ràng với mục đích này thì các câu hỏi bài tập trắc nghiệm khách quan dưới dạng đúng/ sai hay
nhiều lựa chọn là không thể phát huy tác dụng.
Tóm lại, để rèn luyện ngôn ngữ cho HS thì GV phải tìm cách sao cho HS phát biểu thành lời hay
viết ra giấy càng nhiều càng tốt. Vì dựa vào những phát biểu và những bài viết này GV mới có thể
uốn nắn, chỉnh sửa những sai lầm của HS trong quá trình tư duy từ đó góp phần bồi dưỡng tư duy
logic cho HS.
1.2. Bài tập định tính (BTĐT) về vật lý
1.2.1. Khái niệm về BTĐT
BTĐT là loại bài tập khi giải HS không cần phải thực hiện những phép tính phức tạp mà HS phải
sử dụng những suy luận logic, dựa trên những định luật vật lý, hoặc dùng phương pháp đồ thị, thí
nghiệm, nếu cần có thể sử dụng những phép tính đơn giản có thể nhẩm được. [19]
1.2.2. Vị trí, vai trò của BTĐT trong việc thực hiện các nhiệm vụ của dạy học vật lý ở trường
THPT
Xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ chung của đất nước đồng thời dựa vào đặc điểm nội dung mà
bộ môn vật lý ở THPT có những nhiệm vụ sau:
 Nhiệm vụ giáo dưỡng: trang bị cho HS kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có hệ thống về
vật lý.
 Nhiệm vụ phát triển: phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề ở HS,
rèn luyện những thao tác tư duy, những hành động, phương pháp nhận thức cơ bản nhằm giúp HS

độ tư duy phát triển và sự khái quát ấy cũng chỉ có thể trở thành niềm tin sâu sắc khi ta thực sự tin ở
những quy luật cụ thể của vật lý học, của khoa học mà ta nghiên cứu.
Vật lý học ở trường phổ thông là vật lý thực nghiệm và những phát minh của vật lý được ứng
dụng rất nhiều trong đời sống và trong kĩ thuật. Việc rèn luyện tư duy cho HS là vô cùng cần thiết
để giúp HS có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết để đạt sự
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
1.2.3. Các loại BTĐT
1.2.3.1. Phân loại BTĐT
Theo logic học việc phân loại cần xác định dấu hiệu phân loại. Với đối tượng là BTVL nếu dựa
vào phương tiện giải có thể phân chia bài tập thành các dạng: BTĐT, bài tập định lượng, bài tập thí
nghiệm, bài tập đồ thị, nếu dựa vào mức độ khó khăn của bài tập đối với HS thì có thể chia BTVL
thành bài tập tập dượt, bài tập tổng hợp và bài tập sáng tạo.
Theo ý kiến riêng, chúng tôi cho rằng có thể phân loại bài tập dựa vào vấn đề mà bài tập đó đang
đề cập và hình thức trình bày bài giải. Nghĩa là bài tập đó đang đề cập về mặt định tính hay định
lượng của sự vật, hiện tượng mà ta đang giải quyết, khi giải phải viết lời giải ra hay chỉ chọn đáp án
hoặc điền khuyết. Với cách phân loại trên ta có thể phân loại BTVL như sơ đồ 1.4:
Tư duy khoa học
Tư duy logic
BTĐT
Ki
ến thức phổ thông

Thế giới quan duy vật
biện chứng
Giáo d
ục kĩ thuật tổng hợp
và hướng nghiệp cho HS.

Sơ đồ 1.3. Vị trí, vai trò của BTĐT trong việc thực hiện các nhiệm vụ của dạy
học vật lý ở trường THPT

BTĐT

Sơ đồ 1.4. Phân loại BTVL
Bài tập
luy
ện tập
Bài tập
t
ổng hợp
Bài tập
sáng t
ạo
Bài tập định lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status