Trờng đại học văn hoá Hà Nội
*********
TRNH VN KIấN
Tìm hiểu di tích đình giang xá
(Thôn giang xá, thị trấn trạm trôi,
huyện hoài đức, Hà Nội)
Khoá luận tốt nghiệp
NGNH BO TNG
Hà Nội - 2009
Trờng đại học văn hoá Hà Nội
Khoa bảo tàng
********
Tìm hiểu di tích đình giang xá
(Thôn giang xá, thị trấn trạm trôi,
huyện hoài đức, Hà Nội)
Khoá luận tốt nghiệp
NGNH BO TNG
Hà Nội - 2009
MC LC
Trang
Mở đầu.…………………………………………………………………1
Chương 1. Đình Giang Xá trong diễn trình lịch sử.………………………5
1.1 Tổng quan về vùng đất, con người Giang Xá..………………………….5
1.2 Lịch sử ra đời, tồn tại của di tích đình Giang Xá…………..………….10
1.3 Lịch sử vị thần được thờ.…………………………...………………..…12
1.4 Một số di tích khác thờ Lý Nam Đế ở làng Giang Xá..…………......….17
1.4.1 Chùa Giang Xá.……………………………………………..…..…18
1.4.2 Đền Giang Xá.…………………..…………………………….…..20
Chương 2. Giá trị kiÕn tróc, nghÖ thuËt vµ lÔ héi của đình Giang Xá……….23
2.1 Giá trị kiến trúc…………………….…………..…………………....….23
2.1.1 Không gian cảnh quan………………..……………………….…...24
loại hình di tích ấy, hình ảnh ngôi đình gần gũi và mang đậm dấu ấn trong tâm
hồn mỗi con người Việt Nam hơn cả. Đối với bất kỳ một người con khi sinh ra,
trưởng thành ở mỗi một vùng quê đều không thể quên được hình ảnh ấy. Ngôi
đình đã thực sự trở thành một phần trong tâm hồn họ; là niềm tự hào, tự tôn của
mỗi người Việt Nam. Và chính bằng tình cảm thân thiết, gần gũi với ngôi đình
mà có không ít những tác phẩm văn học dân gian lấy hình ảnh ngôi đình là
nguồn cảm hứng sáng tạo như những làn điệu dân ca, ca dao, tục ngữ…
Cũng giống như bao miền quê khác, mỗi người con được sinh ra trên
quê hương xứ Đoài đều cảm thấy tự hào về vùng đất truyền thống, về bề dày
lịch sử…; đồng thời còn tự hào về vùng đất với những lễ hội cổ truyền mang
đậm dấu ấn tín ngưỡng dân gian của cư dân đồng bằng Bắc Bộ như lễ hội
chùa Thầy, chùa Tây Phương, hội Giã La, hội Giá… mà ít vùng đất nào sánh
kịp. Đến với vùng đất này, chúng ta được hoà mình trong không gian linh
thiêng của những lễ hội ấy. Nhưng có lẽ, điều độc đáo và gây được cảm xúc,
ấn tượng hơn cả khi đặt chân tới vùng đất này đó là sự tuyệt mỹ của những
ngôi đình cổ. Bằng tài nghệ, trí sáng tạo của mình, các nghệ nhân dân gian đã
để lại cho hậu thế những công trình kiến trúc độc đáo mang đậm phong cách
kiến trúc cổ truyền của người Việt. Đó là những ngôi đình vừa thoáng rộng,
vừa bao trùm trong không gian linh thiêng như đình Chu Quyến, đình Tây
Đằng… Trong số các ngôi đình cổ ấy, chúng ta không thể không kể tới đình
Giang Xá (thôn Giang Xá, thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức). Với sự kết
1
hợp giữa đôi bàn tay điêu luyện và trí sáng tạo phong phú, các nghệ nhân dân
gian đã tạo nên ngôi đình này mà cho đến ngày nay vẫn là niềm tự hào của
mỗi người dân nơi đây.
Việc tìm hiểu nghiên cứu về đình Giang Xá nói riêng và các ngôi đình
trong kiến trúc cổ truyền của người Việt thực sự là rất hữu ích và cần thiết.
Bởi lẽ, thông qua việc tìm hiểu về ngôi đình giúp chúng ta có thể phần nào
tiếp cận được ý nghĩa, vai trò của đình làng trong đời sống, sinh hoạt văn hoá
của cộng đồng dân cư từ xa xưa. Đồng thời thông qua đó, cũng giúp ta thấy
- Trên cơ sở thực trạng của đình Giang Xá, vận dụng hệ thống lý thuyết
đã học, bước đầu đề xuất một số ý kiến nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của
di tích trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là di tích đình Giang Xá thuộc thôn
Giang Xá, trị trấn Trạm Trôi, Hoài Đức, Hà Nội.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Nghiên cứu di tích đình Giang Xá gắn liền với quá trình
hình thành và phát triển của làng cho tới nay.
- Về không gian: Nghiên cứu di tích đình Giang Xá trong không gian lịch
sử - văn hoá của làng Giang Xá nói riêng và của huyện Hoài Đức nói chung.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác- Lênin: Duy vật lịch
sử và duy vật biện chứng.
- Phương pháp khoa học được sử dụng để tiến hành nghiên cứu: bảo
tàng học, bảo tồn di tích lịch sử văn hoá, khoa học lịch sử.
- Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp khác như: thống kê, đối
chiếu, phân tích, nghiên cứu tài liệu, điền dã…
3
6. Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục,bố cục
bài viết gồm 3 chương. Cụ thể như sau:
Chương 1: Đình Giang Xá trong diễn trình lịch sử.
Chương 2: Giá trị kiến trúc, nghệ thuật và lễ hội của đình Giang Xá
Chương 3: Vấn đề bảo vệ, tôn tạo và khai thác giá trị di tích đình Giang Xá.
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu để hoàn thiện bài viết, em đã nhận
được sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của các cụ cao niên trong làng, các cán bộ
trong Ban quản lý di tích đình Giang Xá, sự quan tâm, động viên của các thầy
cô trong khoa Bảo tàng và bạn bè trong lớp. Nhân đây, em xin gửi lời cảm ơn
chân thành tới giảng viên T.S Phạm Thu Hương đã quan tâm, giúp đỡ và chỉ
2
, dân số khoảng 190612 người, bao gồm 21 xã và 1
thị trấn. Do nằm trong vùng trung tâm của vùng đồng bằng Châu thổ Bắc Bộ, có
địa hình khá bằng phẳng (chỉ có một đồi núi ở phía Tây Nam của huyện) và có
điều kiện về sông ngòi nên Hoài Đức có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế ”
1
.
1
Đặng Văn Tu và Nguyễn Văn Nhí (chb).Địa chí Hà Tây. Sở Văn hoá Thông tin Hà Tây, 2008, tr.19
5
Nằm ngay trung tâm huyện, thị trấn Trạm Trôi có vị trí thuận lợi đối
với việc phát triển kinh tế. Mặc dù với diện tích tương đối nhỏ, chỉ bao gồm
thôn Giang Xá và phố Trôi nhưng thị trấn đã thực sự trở thành trung tâm văn
hoá cho toàn huyện.
Được hình thành và phát triển trên một huyện có lịch sử lâu đời nên
thôn Giang Xá cũng có quá trình hình thành và phát triển đáng tự hào. Xưa
kia thôn Giang Xá có tên Nôm là làng Trôi Giang, là một trong năm thôn của
xã Đức Giang, là xã nằm liền sát cơ quan đầu não của huyện Hoài Đức. Phía
Nam giáp xã Sơn Đồng, phía Đông giáp xã Kim Chung, phía Tây giáp xã Đức
Thượng, phía Đông Bắc giáp xã Tân Lập (huyện Đan Phượng).
Dưới thời Lê, Giang Xá thuộc địa bàn xã Lưu Xá, tổng Kim Thìa,
huyện Đan Phượng, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây.
Sang thời Nguyễn (từ 1802 - 1885) thì Giang Xá thuộc xã Lưu Xá,
huyện Đan Phượng, tỉnh Sơn Tây.
Từ năm 1888 – 1925, Giang Xá là một thôn của xã Lưu Xá, huyện Đan
Phượng, tỉnh Hà Đông.
Về sau thôn Giang Xá cùng với 4 thôn Cao Xá Hạ, Cao Xá Trung,
Lũng Kênh và Lưu Xá nhập thành 1 xã lấy tên là Đức Giang thuộc huyện
Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.
Cho tới năm 1994 thì Giang Xá được sát nhập vào thị trấn Trạm Trôi
Mùng 4 : Lễ mừng thọ.
Mùng 7 : Lễ khai hạ.
Mùng 10 : Kính nhật thánh mẫu ( giỗ mẫu)
Ngày 12 tháng giêng hàng năm là ngày kỉ niệm thành
lập nhà nước Vạn Xuân, được chọn làm ngày hội truyền thống hàng năm của
làng.
-Tháng 2: Mùng 4: Kỉ niệm ngày hội binh.
7
Ngày 12: Xuân tế.
Ngày 15: Kính nhật thiên sư ( lễ ở đền xong, lên chùa lễ phát )
Ngày 20: Kính nhật thánh phụ
- Tháng 3: Mùng 2 : Lễ thanh minh
Mùng10 : Ngày hương binh.
- Tháng 4: Lễ vào hè ( lễ ở chùa Bảo Phúc )
- Tháng 5: Mùng 2 : ngày thành hoá ( giỗ Lý Nam Đế.)
Ngày 25: Lễ xuống đồng.
- Tháng 7: Ngày 18 : Lễ lên đồng.
- Tháng 8: Ngày 12 : Thu tế
- Tháng 9: Ngày 12: Ngày sinh Lý Nam Đế cũng được coi là ngày lễ
chính của làng.
- Tháng chạp: Ngày 30: Lễ tất niên ( thường trực ở đền lễ đón giao thừa )
+ Đây là một trong số những ngày lễ chính của dân làng, trong đó có
những ngày lễ có liên hệ mật thiết với cuộc đời và sự nghiệp của người anh
hùng Lý Nam Đế. Tuy nhiên, lễ hội chính của làng chỉ được tổ chức vào ngày
12 tháng giêng hàng năm. Sau 5 năm trở ra nếu được mùa, đời sống nhân dân
có nhiều thuận lợi thì xin mở hội 3 – 5 ngày. Lễ hội phải được phép của cấp
có thẩm quyền, được sự nhất trí của dân làng và phải tuân theo quy chế lễ hội
của Bộ văn hoá. Lễ hội do ban khánh tiết chủ trì dưới sự lãnh đạo của chính
quyền và Uỷ Ban Mặt Trận Tổ Quốc cơ sở.
+ Lễ hội có sự tham gia của các phường, các đoàn thể, các hội
+ Không tổ chức ăn uống có tính chất trả nợ miệng, không đánh
trống thổi kèn quá khuya.
+ Tục lăn đường trong đám tang là hủ tục không còn hợp lệ với
đời sống hiện nay nên bỏ hẳn.
9
Trên đây là một số điêù được quy định trong hương ước của làng. Tất
cả những điều này đều được mọi người dân trong làng nghiêm túc thực hiện.
Ý thức ấy đã góp phần vun đúc nên truyền thống và nét đẹp văn hoá của vùng
đất và con người nơi đây.
Cũng giống như các ngôi làng khác, Giang Xá cũng rộn ràng trong
những ngày lễ hội của mình. Bước vào những ngày lễ, không khí trong làng
trở nên nhộn nhịp hơn, náo nhiệt hơn so với nhịp điệu hằng ngày. Lễ hội hằng
năm là dịp để dân làng tưởng nhớ tới công lao to lớn của vị anh hùng Lý Nam
Đế - vị vua anh minh đã lập ra nước Vạn Xuân.
Có thể nói trải qua biết bao thế hệ nhưng mỗi người con Giang Xá đều
ý thức được truyền thống của quê hương mình, đồng thời luôn có trách nhiệm
và ý thức giữ gìn truyền thống ấy. Bởi lẽ, truyền thống ấy đã được những thế
hệ trước gây dựng và vun đắp nên. Quan trọng hơn, đó là trong tâm hồn mỗi
người dân làng đều cảm thấy tự hào vì mình được sinh ra và trưởng thành trên
vùng đất vua ban. Chính bởi vậy, vào những ngày hội họ đều hướng về vị
thánh của làng mình với lòng thành kính thiêng liêng để tiếp tục vun đắp, xây
dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
1.2. LỊCH SỬ RA ĐỜI, TỒN TẠI CỦA DI TÍCH ĐÌNH GIANG XÁ
Đối với di tích đình làng Giang Xá nói riêng và các di tích lịch sử văn
hoá nói chung, việc tiếp cận nghiên cứu quá trình ra đời và tồn tại của di tích
là một quá trình trở về với quá khứ. Bản thân mỗi một di tích đều phản ánh tư
tưởng, đời sống kinh tế xã hội cũng như đời sống tâm linh của cộng đồng dân
cư nơi di tích ấy tồn tại vào thời điểm đó. Bởi vậy, việc tìm hiểu niên đại ra
đời, qúa trình tồn tại, phát triển của ngôi đình đặc biệt được coi trọng. Nó sẽ
góp phần cho chúng ta tìm hiểu về một thời quá khứ với bao biến đổi thăng
từng đợt trùng tu. Tuy nhiên theo ông Giang Văn Thăng (77 tuổi) trong làng
11
kể lại thì cách đây khoảng gần 100 năm trước đình đã bị nghiêng, dân làng đã
phải xây hai cột trụ để giữ cho đình khỏi sập.
Đợt trùng tu gần đây nhất là vào năm 1982. Dấu vết của đợt trùng tu
này được thể hiện trên xà ngang của gian cuối bên phải của ngôi đình và cụ
thể trên bức cốn trong bên phải của gian lòng Đình.
Mặc dù đã trải qua nhiều lần trùng tu nhưng ngôi đình vẫn giữ được
những nét cổ xưa vốn có. Chính điều đó đã giúp cho di tích bảo lưu được
những yếu tố nguyên gốc của mình. Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài với
những biến cố lịch sử, xã hội nên hiện nay đình đang có dấu hiệu xuống cấp
nghiêm trọng. Bởi vậy người dân trong làng muốn được Nhà nước và các cơ
quan chức năng đầu tư tu bổ ngôi đình trước khi quá muộn.
1.3. LỊCH SỬ VỊ THẦN ĐƯỢC THỜ
Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt thì đình làng thường gắn với
tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng. Ở bất kỳ ngôi làng nào của người Việt đều
tôn thờ một vị thần. Họ là người cai quản, che chở, bảo vệ cho nhân dân trong
làng. Người dân trong làng luôn dành cho Thành hoàng của làng mình sự tôn
kính thiêng liêng.
Tuy nhiên, khởi nguyên của Thành hoàng không phải là ở Việt Nam
mà từ Trung Quốc. Đồng thời vị Thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Quốc
ấy không phải là vị thần che chở cho một cộng đồng dân cư của làng xã. Ban
đầu thành hoàng là một vị thần của thành trì, chỉ bảo vệ các toà thành. Tín
ngưỡng sơ khai khiến người ta nghĩ rằng, từng gốc cây, mô đá đều có vị thần
ngự trị thì đất đai, vườn tược cũng phải có một nhân vật linh thiêng cai quản.
Vị thần ấy là vị thần thổ địa, thổ công. Sau đó những người lúc sống công
minh chính trực lúc chết có thể thành thần và có thể bảo vệ cho cộng đồng.
Nếu người đó lúc sống làm quan ở vùng đất này thì lúc chết sẽ được tôn làm
thành hoàng ở ngay vùng đất ấy. Vị Thành hoàng đầu tiên của Trung Quốc
được biết là Vũ Vương (thế kỷ VI).
1
Vũ Ngọc Khánh.Nghiên cứu văn hoá cổ truyền Việt Nam.Nxb.Giáo dục.H.2006.tr.107-108.
13
tôn kính và được nhà vua phong sắc coi như là một hình thức ghi nhận công
lao của các vị thần.
Cũng giống như bao làng quê khác, dân làng Giang Xá cũng thể hiện
tín ngưỡng thờ Thành hoàng một cách thành kính. Có điều vị thần được người
dân làng Giang Xá tôn thờ không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là nhân vật có
công với dân, với nước mà vị thần ấy còn chính là vị vua đã gây dựng nên
nước Vạn Xuân mở đầu thời kỳ độc lập sau bao năm bị giặc phương Bắc đô
hộ. Vị anh hùng dân tộc đã xưng đế khẳng định độc lập lâu dài cho đất nước.
Điều đáng tự hào với dân làng Giang Xá là chính quê hương này đã nuôi
dưỡng Lý Nam Đế trưởng thành, đồng thời cũng là căn cứ cho ngài dấy cờ
khởi nghĩa .
Căn cứ vào truyền thuyết dân gian lưu truyền ở địa phương cũng như
thần tích, thần sắc của làng có thể tóm tắt cốt lõi tiểu sử của vua Lý Nam Đế
như sau:
Xưa kia, nước Việt ta bị giặc nhà Lương đô hộ. Vào niên hiệu Đại
Đồng của nhà Lương, tướng giặc Tiêu Tư được cử sang làm thứ sử ở đất Giao
Châu. Tiêu Tư vốn tính tham nhũng, hà khắc và bạc ác, đàn áp nhân dân
khiến nhân dân rơi vào cảnh lầm than, sống một cuộc sống cơ cực khốn cùng.
Lúc đó ở châu Dã Năng xứ Kinh bắc có ông Lý Toản lấy vợ người Châu Ái
(nay là Thanh Hoá), tên là Lê Thị Oánh. Hai ông bà tính từ thiện luôn giúp đỡ
người khốn khó. Ngày 12 tháng 09 năm Quý Mùi, hai ông bà sinh được một
người con trai khôi ngô tuấn tú, tướng mạo khác thường. Ông bà đặt tên con
là Lý Bí. Khi Lý Bí lên 5 tuổi thì ông Lý Toản chết, hai năm sau bà Lê Thị
Oánh cũng bị ốm rồi mất. Lý Bí cùng anh là Lý Bảo chịu tang cha mẹ, gia tài
tiêu tán hết. Hai anh em về ở với người chú ruột. Sau người chú ruột đem bán
cho nhà sư làm con nuôi. Lúc ấy có ba người họ Lê, Trần và Nguyễn ở thôn
Giang Xá thấy nhà sư có đức hạnh bèn đón về trụ trì ngôi chùa trong làng. Lý
nhiều trại chống nhau với giặc. Ở đây Lý Bí lại thua trận và rút quân về Giang
Xá. Quân Lương đuổi theo Lý Bí chạy về thành Gia Ninh (Bạch Hạ).
Đầu năm 546, Lý Bí chạy về vùng Tân Xương (Vĩnh Phú) chiêu mộ
thêm quân tiếp tục chiến đấu. Đến mùa thu, Lý Bí lại đem 2 vạn quân ra đóng
ở hồ Điển Triệt (Vĩnh Phú). Quân Lương lại tiến đánh. Vì thiếu cảnh giác,
quân Lý Bí tan dã. Biết tình thế khó kéo dài, Lý Bí giao binh quyền cho tướng
Triệu Quang Phục rồi chạy lên vùng động Khuất Lão (Tuyên Quang) định
chuẩn bị lực lượng tiếp tục chống giặc. Nhưng ngày 2 tháng 5, khi còn ở
Liêu Động, nhà vua nằm mộng thấy sao Thái Dương có một điểm đen, một
ngôi sao rơi ngay xuống trước mặt nhà vua biến thành một người và nhảy
múa hát rằng:
“Vua ta chừ, vua ta chừ
Thang mây thiên đế gọi nhà vua
Xa rồng , một buổi về thiên giới
Thế nước truyền cho Phật từ giờ.”
Nhà vua tỉnh kể lại giấc mộng đó cho quân thần nghe, bỗng thấy đau
đầu và chết. Thi hài được chôn luôn tại đó. Quần thần lại bầu anh của nhà vua
là Thiên Bảo lên ngôi và được phong là Lý Nam Đế Quốc Vương Thiên Tử
Thái Vương.
Ngày 20 tháng 03 năm Mậu Thìn (548), Lý Thiên Bảo đã ban sắc chỉ
cho làng Giang Xá thờ phụng. Từ đó vị hoàng đế anh minh được thờ tại ngôi
đình làng Giang Xá và được dân làng tôn sùng là Thành hoàng làng.
Như vậy chúng ta có thể thấy rõ được các sự kiện có liên quan tới vị
anh hùng dân tộc có công đánh giặc cứu nước mở ra thời kỳ độc lập tự chủ
cho dân tộc. Công ơn của ngài luôn luôn được dân làng ghi nhớ và truyền nối
cho những thế hệ tiếp sau.
16
1.4. MỘT SỐ DI TÍCH KHÁC THỜ LÝ NAM ĐẾ TẠI LÀNG GIANG XÁ
Nếu như xét tổng thể trên địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ) nói riêng và vùng
đồng bằng Bắc Bộ nói chung thì có rất nhiều làng thờ phụng Lý Nam Đế.
1.4.1. Chùa Giang Xá
Trong quần thể di tích đình Giang Xá thì có sự liên kết cả ba di tích.
Các lễ tế hằng năm đều được tiến hành ở cả ba di tích trên. Chùa Giang Xá
còn có tên gọi là “Bảo Phúc Tự”. Chùa toạ lạc trên một khu đất cao, phía
trước nhìn ra dòng mương và ao nước ra cánh đồng. Chùa quay theo hướng
Bắc nhưng cửa chùa lại quay ra theo hướng Đông, bên tả có ao chùa và đồng
ruộng, bên hữu là ngõ xóm và nhà dân.
Theo như truyền thuyết và cuốn Lý Nam Đế ngọc phả cổ truyền hiện
còn ở chùa thì chùa có từ trước thế kỷ VI với cái tên “Linh Bảo Tự”. Thiền sư
pháp tổ khi về đây trụ trì đã cho mang theo chú tiểu Lý Bí. Vốn tính thông
minh lại được pháp tổ dạy dỗ, Lý Bí đã chiêu mộ binh sĩ, lập bản doanh.
Ngày 04 tháng 02 năm Nhâm Tuất (542), Ngài làm lễ tế trời đất phất cờ
khởi nghĩa ở chùa Linh Bảo và nhanh chóng giải phóng đất nước, lên ngôi
hoàng đế, lập ra nhà nước Vạn Xuân. Về sau khi bị quân Lương tấn công, Lý
Bí lại lui về Giang Xá để bảo toàn lực lượng. Sau khi Lý Bí mất, nhân dân lập
đền thờ ông ngay tại mảnh đất chùa. Còn chùa bị hư nát và chuyển ra đầu
làng ở vị trí hịên nay và đổi tên là chùa Bảo Phúc
1
.
Đặc biệt chuông chùa đúc năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) có bài văn cho
biết: Chùa Bảo Phúc vốn là ngôi chùa to liệt hạng, cuối thời Lê loạn lạc triền
miên, chùa bị hư hại nhiều. Chùa xưa có tam quan, trên treo quả chuông to đã
bị mất. Trong tam bảo thờ Phật, dưới nhà thờ thiền sư pháp tổ .Ngày nay dâu
bể đã qua, cuộc sống thanh bình, chùa Bảo phúc đã được xây dựng thành cơ
sở trường học của Hội Phật Giáo tỉnh Hà Tây (cũ).
1
Di tích Hà Tây.Sở Văn hoá Thể thao Hà Tây,1999,tr.248-250.
18
Nhìn chung chùa Bảo Phúc có khu vực chính được xây dựng công phu
và mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Khu Tam bảo được xây theo
Nằm trong quần thể di tích thờ Lý Nam Đế ở làng Giang Xá, đền Giang
Xá được coi là nơi tưởng niệm chính của làng. Đền được khởi dựng ở ngay giữa
làng, ngay chính nền đất cũ của chùa Linh Bảo (Bảo Phúc) nơi trước đây Lý
Nam Đế đã được nuôi dưỡng từ nhỏ. Sau khi Lý Nam Đế mất vào ngày 20 tháng
03 năm 548, anh của vua là Lý Thiên Bảo đã ra sắc chỉ cho làng Giang xá thờ
phụng. Nhân dân trong làng đã xây dựng nên ngôi đền để thờ phụng Ngài.
Đền có tên chữ là “Giang Xá Tự”
1
hoặc theo ngôi vị của thần là
“Thượng Đẳng Linh Từ”. Bên cạnh đó thì ngôi đền cũng là địa điểm ghi lại
dấu tích của việc chiêu tập quân sĩ, nơi đóng đồn trại chuẩn bị cho cuộc khởi
nghĩa nổi tiếng dân tộc.
Đền Giang Xá có quy mô kiến trúc khá bề thế. Ngôi đền toạ lạc trên
một khu đất cao, rộng thoáng ở ngay giữa thôn Giang Xá. Phía trước và phía
sau có hai giếng lớn (Khuyết tiền và Khuyết hậu) tương truyền là mắt rồng.
Xung quanh đền trồng rất nhiều muỗm và nhãn cổ thụ to nên khung cảnh
thiên nhiên sinh động.
Cũng giống như nhiều ngôi đền khác, đền Giang Xá gồm nhiều công
trình kiến trúc khác nhau. Các công trình kiến trúc trải ra trên một khuôn viên
rộng tạo cho ngôi đền có một chiều sâu cần thiết của một cộng đồng tôn giáo
tín ngưỡng.
Từ ngoài vào, đền Giang Xá bao gồm các công trình kiến trúc như nghi
môn, tiền tế, đại bái, hậu cung.
Nghi môn của đền sát ngay đường làng, gồm bốn trụ biểu vuông thành
sắc cạnh. Trong đó, hai trụ giữa cao to, phía trên đắp hình lồng đèn trang trí tứ
1
Di tích Hà Tây…sđd,tr.246-247.
20
linh và hổ phù, tận cùng là 4 con chim phượng chụm đuôi lại như hình bông
hoa quay ra 4 hướng, thân trụ đắp nổi câu đối. Hai trụ bên thấp hơn và xây