Nghiên cứu tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo tại huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VŨ THU HIỀN NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
HỖ TRỢ NHÀ Ở CHO HỘ NGHÈO TẠI HUYỆN MỸ HÀO,
TỈNH HƯNG YÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào
khác. Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ
rõ nguồn gốc.
Mỹ Hào, ngày 15 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn Vũ Thu Hiền Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực và cố gắng
của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của
các tổ chức và cá nhân.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Viết
Đăng, người thầy đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ NHÀ Ở
CHO HỘ NGHÈO 5
2.1 Cơ sở lý luận về hỗ trợ nhà ở. 5
2.1.1 Hộ nghèo và hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo 5
2.1.2 Vai trò của chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo 11
2.1.3 Đặc điểm của việc hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo 12
2.1.4 Nội dung nghiên cứu tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho
hộ nghèo 18
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo. 25
2.2 Cơ sở thực tiễn về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo 27
2.2.1 Kinh nghiệm hỗ trợ nhà ở của một số địa phương 27
2.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện chương trình 28
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 30
3.1.2 Đặc điểm kinh tế cuả huyện Mỹ Hào 32
3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn 37
3.2 Phương pháp nghiên cứu 38
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 38
3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu 38
3.2.3 Thu thập số liệu và xử lý thông tin 39

5.2.1 Đối với Chính phủ 90
5.2.2 Đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh 91
5.2.3 Đối với Ngân hàng Chính sách xã hội: 91
5.2.4 Đối với Uỷ ban nhân dân các huyện 91
5.2.5 Đối với Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn 92
5.3 Kiến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 95
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Sự khác nhau về bản chất của hỗ trợ giảm nghèo và bao cấp 10
Bảng 3.1 Thông tin chung về hộ nghèo huyện Mỹ Hào 39
Bảng 3.2 Thông tin sơ cấp 40
Bảng 4.1 Kết quả vận động quỹ các cấp 48
Bảng 4.2 Thực trạng nhà ở của hộ nghèo trên địa bàn huyện Mỹ Hào 55
Bảng 4.3 Tình hình nhà ở của hộ nghèo trước khi có chương trình 57
Bảng 4.4 Bảng tổng hợp đối tượng thụ hưởng chương trình hỗ trợ nhà ở


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CP Chính phủ
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy Ban Nhân dân
MTTQ Mặt trận Tổ quốc
MTTW Mặt trận Trung ương
NHCSXH Ngân hàng Chính sách xã hội
NGOs Các tổ chức phi Chính phủ
LĐTB&XH Lao động Thương binh và xã hội
OECD Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển
UNDP Liên hợp quốc
ÙNFPA Quỹ dân số Liên hợp quốc
UNICEF Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế
WB Ngân hàng Thế giới Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một vấn đề xã hội bức xúc hiện nay trên thế giới nói
chung và ở Việt Nam cũng như ở Hưng Yên nói riêng.

địa phương.
Thực hiện chính sách đổi mới từ nửa cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước,
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế xã
hội. Tỷ lệ đói nghèo chung của nước ta từ 58,1% năm 1993 xuống còn
14,18% năm 2008
.
Việt Nam được coi là một trong những nước đang phát
triển thành công nhất thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo.
Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện Uỷ- UBND huyện,
sự tham gia tích cực của UBMTTQ huyện, các đoàn thể, doanh nghiệp và sự
nỗ lực của nhân dân, kinh tế- xã hội của huyện đã từng bước phát triển. Các
chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội được thực hiện đồng bộ, hiệu quả cơ
bản đã bao phủ được đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, hộ nghèo đặc
biệt khó khăn của huyện. Phong trào xoá đói giảm nghèo được triển khai sâu
rộng, thu hút sự tham gia của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị các cấp,
các ngành, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức kinh tế, lực lượng vũ trang, cộng
đồng, các tầng lớp dân cư.
Trong những năm qua, huyện nhà đã được sự quan tâm hỗ trợ, đầu tư của
Nhà nước, các cấp chính quyền bằng nhiều hình thức, nhiều chương trình như:
Cho người nghèo vay vốn sản xuất kinh doanh, phát triển chăn nuôi, nước sạch,
nhà ở, đặc biệt là chương trình hỗ trợ xây dựng nhà ở cho người nghèo. Với
phương châm: “Nhà nước hỗ trợ, cộng đồng giúp đỡ, hộ dân tham gia đóng góp
để xây dựng nhà ở”. Đây là một chính sách an sinh, mang ý nghĩa nhân văn sâu
sắc của Nhà nước, góp phần nâng cao tính hiệu quả của công tác xoá đói giảm
nghèo bền vững của cả nước cũng như của tỉnh, của huyện. Đến hết năm 2013
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

chương trình đã mang lại nhiều đổi thay trên quê hương Mỹ Hào, đặc biệt là sự
cải thiện đáng kể về cơ sở hạ tầng và cuộc sống của nhân dân. Kết quả thực hiện

nghiên cứu tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo tại 2
đơn vị trọng điểm là Thị Trấn Bần Yên Nhân và xã Cẩm Xá
1.3.2.3 Phạm vi về nội dung
Tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho
hộ nghèo và đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện hiệu có quả chương
trình này ở huyện Mỹ Hào- tỉnh Hưng Yên.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
HỖ TRỢ NHÀ Ở CHO HỘ NGHÈO

2.1. Cơ sở lý luận về hỗ trợ nhà ở.
2.1.1. Hộ nghèo và hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
* Khái niệm về hộ nghèo
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng
với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các
nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời
gian. Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một
người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình
quân trên đầu người hàng năm.
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát
triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra

phần thực hiện các quan điểm và nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước: đảm bảo công bằng xã hội, đoàn kết các dân tộc, tương
trợ giúp nhau cùng phát triển. Chương trình giúp cho các hộ nghèo có nhà ở
ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xóa đói giảm nghèo
bền vững góp phần cải thiện đời sống cho người nghèo, đóng góp tích cực
cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo của đất nước, từng bước nâng cao đời sống
của người dân, hướng tới mục đích đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã
hội, giảm khoảng cách giàu nghèo, phát triển kinh tế - xã hội.
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương
đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là
chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị
ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được
xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp.
(Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997).
Đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn
nghèo trong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005.
Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27
tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói
và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005", thì những hộ gia đình có thu nhập bình
quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000
đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực
nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ
100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo,
ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000
đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày

vào Việt Nam với mục đích giúp Việt Nam xóa đói, giảm nghèo, phát triển
kinh tế- xã hội như Ngân hàng Thế giới ( WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF),
Liên hợp quốc (UNDP), các tổ chức phi chính phủ ( NGOs), Tổ chức Hợp tác
Kinh tế và Phát triển (OECD). Thuyết hiện đại hóa được các tổ chức này vận
dụng và xem như sự đổi mới trong phát triển, nhất là trong xóa đói, giảm
nghèo. Trong thời gian này, Liên hợp quốc đã gợi ý cho Việt Nam một khung
lý thuyết nhằm phát triển năng lực để xóa đói, giảm nghèo. Xuất phát từ nhận
định có 5 nguyên nhân chính gây ra tình trạng nghèo đói ở Việt Nam, nhất là ở
nông thôn: thứ nhất là do khác biệt về địa lý, ngôn ngữ, xã hội và thông tin; thứ
hai là không được tiếp cận với nguồn lực sẵn có như đất đai, tín dụng, kỹ thuật;
thứ ba là thiếu sự tham gia của nhân dân vào quá trình hoạch định và thực hiện
các chương trình của Chính phủ về kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa; thứ tư là
những rủi ro nghiêm trọng do bão lụt, sâu hại, bệnh tật, sinh con ngoài ý muốn;
thứ năm là tính thiếu bền vững về tài chính và môi trường. Để khắc phục 5
nguyên nhân chính này, Liên hợp quốc cho rằng, Việt Nam cần phải xác định
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

hệ thống các nhân tố bao gồm: (i) phân bổ đất đai hợp lý; ( ii) nâng cấp hạ tầng
cơ sở nông thôn; (iii) bảo đảm công ăn việc làm ổn định cho người lao động;
(iv) hoàn thiện nền tài chính vi mô; (v) bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản như
giáo dục, y tế. Bên cạnh đó, hệ thống này phải bảo đảm những nguyên tắc về
kinh tế- xã hội mà Ngân hàng Thế giới đã nêu ra; đó là một nền móng pháp
luật, một môi trường chính sách lành mạnh bao gồm sự ổn định kinh tế vĩ mô,
tiếp đến là đầu tư vào con người và kết cấu hạ tầng, cuối cùng là bảo vệ những
người dễ bị tổn thương và bảo vệ môi trường thiên nhiên.
Nhìn chung sau 25 năm, tăng trưởng kinh tế đã có những tác động
mạnh đến sự chuyển đổi cơ cấu xã hội lao động- nghề nghiệp ở Việt Nam.
Điều này đã tác động mạnh đến năng lực thị trường và phân tầng mức sống (
giàu- nghèo) ở nông thôn. Sự đột biến xuất hiện ở quy mô hộ gia đình và

• Ít tính đến nhóm mục tiêu.
• Giảm an sinh xã hội, giảm dịch
chuyển tài nguyên, tạo nhiễu loạn giá
cả, tạo cầu thừa, lạm dụng nguồn lực,
không tiết kiệm, kém hiệu quả, tăng
gánh nặng tài chính quốc gia.

Là những hành động, chủ trương
thực hiện sự giúp đỡ một nhóm mục
tiêu nhất định, thông qua hỗ trợ vật
chất, phát triển nhân lực, thể chế và tổ
chức.
• Được thực hiện chủ yếu không
thông qua hệ thống giá cả.
• Ít làm nhiễu loạn hệ thống giá cả.
• Tính đến nhóm mục tiêu của hỗ
trợ.
• Phát huy những tác động ngoại
ứng tích cực, khắc phục tác động của
ngoại ứng tiêu cực như các hoạt động
đầu tư kinh doanh làm suy thoái môi
trường.

+ Một số quan điểm về "nghèo":
- Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu á-Thái Bình Dương do
ESCAP tổ chức tháng 9-1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về
nghèo như sau: "Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả
mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã
hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán
của địa phương”.

giảm nghèo. Hỗ trợ giảm nghèo là chủ trương phổ biến của các quốc gia, đặc
biệt là các nước đang phát triển và chậm phát triển vì những lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, nghèo đói và suy dinh dưỡng vẫn tồn tại ở hầu hết các nước. Thứ
hai, người nghèo không thể tự vươn lên nếu thiếu sự hỗ trợ từ chính phủ, xã
hội và cộng đồng. Người nghèo thường khó tự thoát nghèo nếu không có sự
hỗ trợ. Họ thường rơi vào vòng luẩn quẩn: thiếu kiến thức, thiếu vốn, năng
suất thấp, đói ăn, tàn phá tài nguyên thiên nhiên, suy thoái môi trường, sản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

xuất khó khăn dẫn đến làm tăng nghèo đói. Thứ ba, thực hiện hỗ trợ giảm
nghèo là phát huy các tác động của ngoại ứng tích cực, hạn chế ngoại ứng tiêu
cực, khắc phục tính không hoàn hảo của thị trường. Thứ tư, hỗ trợ giảm nghèo
sẽ đảm bảo thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội, ổn định chính trị và xã hội.
Chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo là một trong những chương
trình xoá đói giảm nghèo quan trọng. Nó mang tính đa chiều, có thể tác động
trực tiếp đến giảm sự nghèo đói cho người dân và tác động gián tiếp thông qua
những hiệu ứng trung gian. Chương trình góp phần thực hiện các quan điểm và
nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước: đảm bảo công
bằng xã hội, đoàn kết các dân tộc, tương trợ giúp nhau cùng phát triển.
Chương trình giúp cho các hộ nghèo có nhà ở ổn định, an toàn, từng
bước nâng cao mức sống, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững. Chương
trình không chỉ góp phần cải thiện đời sống cho người nghèo mà còn đóng
góp tích cực cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo của đất nước, từng bước nâng
cao đời sống của người dân, hướng tới mục đích đẩy nhanh tốc độ phát triển
kinh tế - xã hội, giảm khoảng cách giàu nghèo, phát triển kinh tế - xã hội.
2.1.3 Đặc điểm của việc hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
* Tổ chức tham gia hỗ trợ
Hỗ trợ cho hộ nghèo, đời sống khó khăn là các hoạt động tổng hợp lồng
ghép của Chính phủ và các tổ chức khác:

lợi cho việc quản lý hành chính khi tiến hành các biện pháp hỗ trợ.
Thôn, bản nghèo: ở nhiều vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo có nhiều
thôn bản có tỷ lệ hộ nghèo khá cao. Phần lớn là do điều kiện tự nhiên khắc
nghiệt, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, khan hiếm tài nguyên. Vì vậy, cần phải có sự
hỗ trợ để giảm nghèo.
Xã nghèo: tỷ lệ xã nghèo ở một số địa phương cũng rất cao nếu ở cấp
thôn bản sự hỗ trợ giảm nghèo chưa đủ điều kiện để cả xã xoá đói giảm nghèo.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

Huyện nghèo: nếu chỉ tập trung giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo ở
cấp hộ, thôn bản, xã thì vẫn chưa đảm bảo cho giảm nghèo bền vững. Vì vậy,
đối tượng hỗ trợ giảm nghèo còn bao gồm cả cấp huyện.
Vùng nghèo: các vấn đề nghèo đói có tính vùng do có sự khác nhau về
nguồn tài nguyên. Ở nước ta tỷ lệ nghèo còn cao ở các vùng Đông Bắc, Tây
Bắc, Tây Nguyên do đó các biện pháp hỗ trợ giảm nghèo không thể chỉ mang
tính chung chung mà phải có các chương trình giảm nghèo mang tính vùng.
Vì vậy, Chính phủ nước ta đã có các chương trình miền núi Tây Bắc, Đông
Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ… để giải quyết vấn đề có tính vùng.
Đối tượng hỗ trợ cụ thể của chương trình hỗ trợ nhà ở là hộ nghèo. Căn
cứ vào tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ mà
Chính phủ ra Quyết định về việc ban hành chuẩn hộ nghèo áp dụng cho từng
giai đoạn. Năm 2005, Chính phủ ra Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg về việc
ban hành chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2006 – 2010. Theo nội dung của Quyết
định thì hộ nghèo là những hộ như sau:
• Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
• Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000
đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Năm 2011, Chính phủ ra Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban

các loại hình nhà ở độc đáo gắn với điều kiện địa phương và tập quán dân tộc.
Tuy nhiên, tập quán du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy, tệ nạn tảo hôn,
cưới hỏi tốn kém, ma chay, chữa bệnh mê tín dị đoan… đã ảnh hưởng không
nhỏ tới đời sống của đồng bào dân tộc.
Xã thuộc vùng dân tộc và miền núi được xác định theo 3 khu vực: Xã
khu vực III là xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất; xã khu vực II là
xã có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn nhưng đã tạm thời ổn định; xã
khu vực I là các xã còn lại.
Xã khu vực III:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status