Tiềm năng và hiện trạng du lich tỉnh bắc kạn - Pdf 29



KHÓA LUẬN TÔT NGHIỆP TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG DU
LỊCH TỈNH BẮC KẠN

Ch-ơng 1: Phân tích tiềm năng du lịch
1.1.Vị trí địa lý
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa của vùng Đông
Bắc có hệ toạ độ từ 21
0
48 đến 22
0
44 vĩ độ Bắc và từ 105
0
26 kinh độ Đông.
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 4795,54 km
2
chiếm 1,45% diện tích cả n-ớc,
với số dân 276718 ng-ời (1999) chỉ bằng 0,36% dân số toàn quốc.

)
Số đơn vị hành chính
Số xã
Số ph-ờng
Số thị trấn
Toàn tỉnh
4795,54
112
4
6
Thị xã Bắc Kạn
132,16
4
4
-
Huyện Ba Bể
1151,73
25
-
1
Huyện Ngân Sơn
644,37
10
-
1
Huyện Chợ Đồn
922,20
21
-
1

tuổi Đê Vôn, xen kẽ trong đó là các lớp cát kết thạch anh và các kẹp đá
vôi mỏng. Về mặt tự nhiên, cánh cung này là đ-ờng chia n-ớc giữa các
l-u vực sông chảy sang Trung Quốc và các sông chảy xuống vùng đồng
bằng Bắc Bộ. Về mặt kinh tế, khu vực núi cao phía Đông chủ yếu phát
triển lâm nghiệp.
Khu vực phía Tây cũng là những đỉnh núi cao chót vót với đỉnh núi cao
nhất là Phia Boóc (1578 m), ngoài ra còn có đỉnh Hoa Sơn (1525 m), Tam
Tao (1353 m), Pú Bình (1404 m). Cấu tạo chủ yếu của núi là đá phiến
thạch anh, đá cát kết và đá vôi có lớp dày nằm trên đá kết tinh cổ. Cảnh
quan núi của phần cánh cung sông Gâm rất kỳ thú và có giá trị đặc biệt
đối với du lịch. ở khu vực này trên lãnh thổ của tỉnh có một số thắng cảnh
tuyệt đẹp, tiêu biểu nhất là hồ Ba Bể. Chính các khối núi đá vôi đã góp
phần làm cho vùng hồ trở thành một thắng cảnh nổi tiếng trong n-ớc:
Bắc Kạn có suối đãi vàng
Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh
Sông Năng chảy d-ới chân núi đá vôi có bờ dựng thành những vách
đứng, đục qua núi Lũng Nham tạo thành động Puông với hình thù kỳ vĩ. Trên
đ-ờng đổ về sông Gâm giáp với Tuyên Quang, dòng sông bị một hòn đảo
chắn ngang nên chia làm hai nhánh chảy trong những hành lang hẹp rồi tụ lại
đổ xuống ba bậc thấp hơn với độ chênh lệch của mỗi bậc là 6 - 7m, dài 100 -
150 m. Khối n-ớc bị kìm hãm ở th-ợng l-u ào ào đổ xuống những vực đ-ợc
đào xới d-ới chân vách đứng, tạo thành những cột n-ớc khổng lồ bắn tung
toé làm nên những đám mây bụi n-ớc khổng lồ. Đó là thác Đầu Đẳng mà
theo tiếng Tày là Lái Tạng (nghĩa là thác Voi).
Khu vực trung tâm dọc theo thung lũng sông Cầu có địa hình thấp hơn
nhiều. Đây là một nếp lõm đ-ợc cấu tạo chủ yếu bởi đá phiến, đá vôi, đá
sét vôi có tuổi rất cổ nh-ng đá vôi không nhiều. Phổ biến là các dãy đồi
cao đến 200 m, một vài núi thấp (400 - 500 m), có những thung lũng mở
rộng, đôi khi trở thành các cánh đồng giữa núi nh- cánh đồng Phủ Thông.
So với các khu vực xung quanh, khu vực này thấp hẳn xuống, thuận lợi

(
0
C)
L-ợng m-a
(mm)
Độ ẩm
(%)
L-ợng bốc
hơi (mm)
Tổng số giờ
nắng (giờ)
Ba
Bể
Bắc
Kạn
Ba Bể
Bắc
Kạn
Ba
Bể
Bắc
Kạn
Ba Bể
Bắc
Kạn
Ba
Bể
Bắc
Kạn
1

50
60
4
24,1
24,1
39,5
102,5
83
82
77,6
78,1
192
99
5
25,9
26,6
297,8
316,5
83
84
57,3
77,6
171
126
6
26,9
26,8
150,1
150,6
84

82,5
122,1
84
83
59,8
84,9
166
139
10
23,7
23,8
28,1
158,1
85
86
45,9
71,6
140
120
11
18,7
18,8
1,3
1,8
79
78
55,8
77,0
156
127

C, độ ẩm trung bình: 82 - 88% và có số giờ
nắng trung bình khoảng 91 - 100 giờ.
Bên cạnh đó khách du lịch cũng có thể thăm Bắc Kạn vào tháng 3,
tháng 9 và tháng 11; Còn tháng 12 và tháng 1 thì trời rất lạnh và tháng 6, 7, 8
là những tháng m-a nhiều ở Bắc Kạn gây khó khăn cho du khách muốn thăm
Bắc Kạn. Bởi vì vào thời điểm tháng 12 và tháng 1 thời tiết giá lạnh, hiện
t-ợng s-ơng muối xuất hiện ít nhiều ảnh h-ởng đến hoạt động nông nghiệp
và du lịch của tỉnh. Đến mùa hè, lốc và lũ lụt th-ờng xuyên xảy ra ở Bắc Kạn,
th-ờng m-a chỉ sau một đêm là các con đ-ờng liên xã ngập n-ớc và ô tô
không thể di chuyển đ-ợc.
Do diễn biến bất th-ờng của thời tiết, nên khách du lịch đến thăm Bắc
Kạn có tính mùa vụ.
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
l-u l-ợng bình quân 42,1 m
3
/giây.
- Sông Hiến đổ vào sông Bằng Giang dài 22 km, diện tích l-u vực 137 km
2
,
l-u l-ợng n-ớc trung bình 3,11 m
3
/giây.
- Sông Bằng Khẩu thuộc hệ thống sông Bằng Giang dài 14 km, diện tích
l-u vực 74 km
2
, l-u l-ợng bình quân 1,68 m
3
/giây.
- Sông Bắc Giang chảy vào sông Kỳ Cùng dài 65 km, diện tích l-u vực 220
km
2
, l-u l-ợng bình quân 25,3 m
3
/giây.
- Nhánh sông Cầu dài 103 km, diện tích l-u vực 510 km
2
, l-u l-ợng bình
quân 25,3 m
3
/giây.
Mật độ sông ngòi khoảng 7%. Sông ngòi có ý nghĩa quan trọng đối
với sản xuất và đời sống của nhân dân tỉnh Bắc Kạn. Đó là nguồn cung cấp
n-ớc chủ yếu cho nông nghiệp và thủy sản trong chừng mực nhất định. Do

lấy lấy cơm cho ăn. Thần liền khuyên bà lấy trấu rắc quanh nhà. Đến đêm,
thần dâng n-ớc lên dìm xã Nam Mẫu và toàn bộ ng-ời dân, làm thành hồ Ba
Bể, chỉ có miếng đất có nhà bà lão là còn lại, nay gọi là Pò Già Mải (gò Bà
Goá). Từ Pò Già Mải đi về phía Đông và Đông Nam là hồ Pé Lèng, cũng
chạy dài khoảng 3 km giống nh- một chiếc g-ơng khổng lồ phản chiếu bầu
trời, núi rừng và làng bản nằm hai bên bờ.
Phong cảnh Ba Bể mà kỳ tú là vì tất cả sông, suối, hồ, bể đều nằm giữa
một vùng đá vôi. ở đâu đá vôi cũng tạo ra cảnh đẹp vì dễ bị n-ớc m-a hòa
tan, đẽo gọt, tạo ra những khối núi, khối đá thiên hình vạn trạng; nh-ng ở
n-ớc ta m-a gió mùa nhiệt đới đã làm cho đá vôi bị xâm thực mãnh liệt,
nhiều nơi đã sang đến giai đoạn tột cùng. N-ớc đào ngầm những hang dài
động lớn rồi thông liền với nhau thành sông ngầm, bể ngầm. Khi trần đá bên
trên bị ăn mỏng dần, sau cùng đổ xuống hết, thì sông ngầm, bể ngầm lộ ra.
Và khối đá x-a kia bị cắt thành những mảng rời rạc, cô lập thành muôn
nghìn hòn lèn, s-ờn dựng đứng hoang vu, hùng vĩ. Những nơi trần hang ch-a
đổ hết thì còn lại những hang động nh- động Puông (Qua khối núi đá vôi
Lũng Nham, thì du khách sẽ đ-ợc chiêm ng-ỡng động Puông đẹp nổi tiếng,
dài ngót 300 m, mùa cạn rộng 40 m, trần cao 30 m).
Nơi trần mới sụp đổ, đá gieo xuống dòng sông ngổn ngang làm n-ớc
chảy xiết thành thác nh- thác Đầu Đẳng. Đó là cái thác chạy dài suốt một
cây số, ng-ời trong vùng gọi là thác Hua Tạng. Thác có 3 bậc, bậc trên
chênh với bậc d-ới 3 - 4 m, cách nhau chừng 200 m. Trong mùa n-ớc, cá
ng-ợc dòng sông Năng đến đây, cố lấy hết sức nhảy lên khỏi mặt n-ớc, lao
mình về phía tr-ớc để v-ợt thác. Ng-ời Tày gọi đoạn thác này là Pé Tèo
nghĩa là Cá Nhảy. Ngoài khu vực Ba Bể, Bắc Kạn còn một số thắng cảnh
khác nằm rải rác ở các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn, Na Rì. Cách thị xã Bắc
Kạn 8 km trên đ-ờng chảy về xuôi, sông Cầu bị các bãi đá nhấp nhô dài
khoảng 1 km chắn lại tạo nên thác Roọm (thuộc xã Quang Thuận huyện
Bạch Thông). ở huyện Na Rì có thác Nà Đăng (xã L-ơng Thành) cũng rất
đẹp với dòng n-ớc ào ạt hối hả đổ xuống từ độ cao 100 m, tạo thành một

Về động vật có khoảng 65 loài thú có vú (h-ơu nai, lợn rừng, nhím,
khỉ , tê tê ); 46 loài l-ỡng c- và bò sát, 214 loài chim, hơn 30 loài dơi, 400
loài b-ớm. Số l-ợng loài ở đây nhất là chim không thua kém gì v-ờn quốc
gia Cúc Ph-ơng. Trong số này có một số loài quý hiếm và đặc hữu (gà lôi,
ph-ợng hoàng đất, voọc mũi hếch ). Tuy nhiên nhiều loài thú có vú nh-
(khỉ bạc má, cầy h-ơng) đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Trong hồ có khoảng 50 loài cá, với một số loài có giá trị kinh tế nh-
trắm cỏ, chép, trôi và hàng loạt các loài khác (ba ba, tôm, cua ). Một số loài
quý hiếm mới đ-ợc phát hiện nh- cá cóc Ba Bể, cá chiên ở thác Đầu Đẳng).
Nói chung, do vị trí địa lý của v-ờn quốc gia nằm trên địa bàn huyện Ba Bể,
tỉnh Bắc Kạn bao gồm phức hệ sông, hồ, núi, hang động, thác n-ớc, rừng nên
nó rất phù hợp với loại hình du lịch sinh thái, du lịch nghỉ d-õng, du lịch leo
núi mạo hiểm và du lịch văn hoá lịch sử với các bản làng dân tộc địa ph-ơng.
1.2.2.Tài nguyên du lịch nhân văn
Quả thật -u thế to lớn của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận
không có tính mùa, không bị phụ thuộc vào các điều kiện khí t-ợng và các
điều kiện tự nhiên khác. Vì thế tạo nên khả năng sử dụng tài nguyên du lịch
nhân tạo ngoài giới hạn các mùa chính do tài nguyên tự nhiên gây ra và giảm
nhẹ tính mùa nói chung của các dòng du lịch. Trong mùa hoạt động du lịch
tự nhiên cũng có những thời kỳ, những ngày không thích hợp cho giải trí
ngoài trời. ở những tr-ờng hợp nh- thế, việc đi thăm tài nguyên du lịch nhân
văn là một giải pháp lý t-ởng.
Tài nguyên du lịch nhân văn do con ng-ời tạo ra bao gồm: các di tích
văn hoá lịch sử, các lễ hội truyền thống, các đối t-ợng gắn liền với dân tộc
học
1.2.2.1.Di tích văn hoá lịch sử
Di tích văn hoá lịch sử là tài sản văn hóa quí giá của mỗi địa ph-ơng,
mỗi dân tộc, mỗi đất n-ớc và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành,
xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hoá của mỗi n-ớc. ở đó tất cả những
gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn

Bảng 3: Các di tích lịch sử văn hoá đã đ-ợc xếp hạng quốc gia của tỉnh
Bắc Kạn
STT
Tên di tích
Địa điểm
Số CV và
ngày công
nhận
Loại di tích
1
Hồ Ba Bể
Huyện Ba Bể
15 VH/QĐ
13/3/1974
Lịch sử
2
Khuổi Linh
(nơi ở và làm
việc của đồng
chí Tr-ờng
Chinh, văn
phòng Trung
Ương Đảng
năm 50 - 51)
Xã Nghĩa Xá,
Huyện Chợ
Đồn
460 QĐ
18/3/1996


7

8

9

10 1.2.2.2.Lễ hội
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và
phong phú, là kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt
nhọc, hoặc là dịp để con ng-ời h-ớng về một sự kiện lịch sử trọng đại nh-:
ng-ỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu,
những khao khát, -ớc mơ mà cuộc sống thực tại ch-a giải quyết đ-ợc. Các lễ
hội đã tạo nên một môi tr-ờng mới, huyền diệu, giúp cho ng-ời tham dự có
điều kiện tiếp xúc với bí ẩn của nguồn khởi của mọi sinh vật sống. Lễ hội
dân tộc trở thành dịp cho con ng-ời hành h-ơng về cội rễ, bản thể của mình.

leo núi th-ởng ngoạn phong cảnh hùng vĩ của hang động, núi rừng.
Hội Xuân D-ơng: Lễ hội đ-ợc mở vào ngày 25 tháng 3 âm lịch hàng năm
tại vùng các dân tộc Tày sinh sống ở Xuân D-ơng, huyện Na Rì. Đây là
dịp gặp gỡ trong ngày hội cuối cùng đ-a tiễn mùa xuân với các làn điệu
dân ca của các dân tộc Tày, Nùng
Bảng 4: Tóm tắt các lễ hội
Tên lễ hội
Thời gian diễn
ra (âm lịch)
Địa điểm
Nội dung của lễ
hội

Tháng giêng: 1.Hội chùa Thạch
Long
6 - 7
Xã Cao Kỳ,
huyện Chợ Mới
Dâng h-ơng và
các trò chơi
2.Hội Lồng Tồng
Sau Tết Nguyên
Đán
Tỉnh Bắc Kạn
Cầu khấn thần
linh mong 1 vụ
mùa bội thu, có

mùa xuân với các
điệu hát dân ca
của các dân tộc
Tày, Nùng, Dao
Cũng giống nh- hầu hết các tỉnh và thành phố của Việt Nam, các lễ
hội của tỉnh Bắc Kạn chủ yếu diễn ra sau Tết Nguyên Đán. Đây là thời điểm
mà mọi ng-ời nghỉ ngơi sau một năm làm việc vất vả. Bởi vậy số l-ợng
ng-ời tham dự lễ hội rất đông, họ cầu khấn thần linh mong muốn có một
năm làm ăn tốt đẹp; rất nhiều hoạt động văn hoá và các trò chơi dân gian
diễn ra trong thời gian lễ hội nh-: hát sli, hát l-ợn, ném còn
1.2.2.3.Dân c- và dân tộc
a.Dân c-
Năm 1991 số dân của tỉnh Bắc Kạn (nằm trong tỉnh Bắc Thái) là
230653 ng-ời. Khi mới tái lập tỉnh (1997) số dân tăng lên 265193 ng-ời và
tới năm 1999 đạt 276718 ng-ời. Dân số của Bắc Kạn rất ít, chỉ chiếm 0,36%
dân số của cả n-ớc và xếp thứ cuối cùng trong số 61 tỉnh thành của Việt
Nam.
Bảng 5: Dân số trung bình của Bắc Kạn thời kỳ 1991 1999
Đơn vị: Ng-ời
Năm
Tổng số
Phân theo khu vực
Phân theo giới tính
Thành thị
Nông thôn
Nam
Nữ
1991
230653
28556

224215
129340
130272
1997
265193
36950
228243
132272
132921
1998
270894
38572
232322
135270
135624
1999
276718
40264
236454
138336
138382

Biểu đồ: Quy mô dân số Bắc Kạn thời kỳ 1991 - 1999
0
20000
40000
60000
80000
100000
120000

Dân số (ng-ời)
Mật độ trung bình (ng-ời/km
2
)

Toàn tỉnh
276718
57,5
1
Thị xã Bắc Kạn
28826
218,1
2
Huyện Bạch Thông
29312
57,6
3
Huyện Chợ Mới
35137
61,4
4
Huyện Chợ Đồn
46223
50,1
5
Huyện Na Rì
36231
41,9
6
Huyện Ba Bể

Dân tộc
khác
Dân số
(ng-ời)
276718
170699
54720
26727
20923
754
2895
Tỷ
trọng
(%)
100
61,7
19,8
9,7
7,6
0,3
0,9
Cộng đồng các dân tộc c- trú ở Bắc Kạn chủ yếu gồm 7 dân tộc anh
em. Đó là ng-ời Tày, Nùng, Kinh, Dao, HMông, Hoa, Sán Chay.
Về số l-ợng đông đảo nhất là ng-ời Tày. Địa bàn c- trú của mỗi dân
tộc có sự phân hóa, tùy theo phong tục tập quán lâu đời của họ. Rõ rệt nhất là
sự phân hóa theo độ cao. ở vùng thấp, phần lớn là nơi sinh sống của ng-ời
Kinh và ng-ời Tày. ở vùng núi cao, trên nóc nhà của tỉnh là địa bàn c- trú
của ngời HMông và thấp hơn một chút là ngời Dao.
Cộng đồng các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, dù địa bàn c- trú, phong tục tập
quán, kinh nghiệm trong lao động sản xuất, ứng xử có khác nhau nh-ng giữa

Na Rì.
Đời sống của đồng bào HMông, Dao hết sức khó khăn vất vả, chủ yếu
dựa vào nông nghiệp n-ơng rẫy, nguồn l-ơng thực chính là ngô, năng suất và
sản l-ợng ngô gần nh phụ thuộc vào ông trời thời tiết. Đồng bào HMông,
Dao th-ờng có tập quán du canh du c Trình độ học vấn, nhận thức của họ
còn quá thấp, quá chênh lệch so với các dân tộc khác. Trong những năm gần
đây, nhờ có cuộc vận động và chính sách định canh, định c-, đặc biệt là việc
thực hiện nghị định 135 nên phần lớn các hộ đồng bào HMông, Dao đã định
c- để phát triển sản xuất, nâng cao chất l-ợng cuộc sống. Nh-ng nhìn chung,
cuộc sống của họ chẳng thay đổi là bao.
- Dân tộc Sán Dìu và các dân tộc ít ng-ời khác:
Dân tộc Sán Dìu và các dân tộc ít ng-ời khác ở vùng cao gồm các dân tộc:
Lô Lô, Sán Chỉ, Sán Chay, Ngái sinh sống chủ yếu ở các huyện vùng cao
của tỉnh. Vì sống ở vùng cao nên họ có những phong tục tập quán trong sinh
hoạt gần giống với dân tộc HMông - Dao. Họ canh tác trên các n-ơng rẫy,
du canh du c-, trình độ dân trí kém, cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Nếp
sống sinh hoạt và cách ăn ở luộm thuộm, mất vệ sinh nên th-ờng dẫn đến ốm
đau, bệnh tật. Họ ch-a có đủ điều kiện và nhận thức để phòng bệnh cho
chính mình.
1.2.2.4.Các tài nguyên nhân văn khác
Bắc Kạn vốn là miền đất mang đậm màu sắc sinh hoạt văn hóa dân tộc
bởi vậy miền đất này là nơi sinh ra và phát triển các làn điệu dân tộc nổi
tiếng nh- : hát sli, hát l-ợn (nh- kiểu hát giao duyên của ng-ời miền xuôi)
của ng-ời Tày.
Ng-ời Tày có câu: Ngời gia qua đờng nghe tiếng lợn than, về
nhà tự nhiên thấy trẻ lại . Ng-ời Nùng thì hát Đêm ốm dài, đêm Sli
ngắn .
Diễn x-ớng Sli - l-ợn của đồng bào Tày, Nùng cùng chung loại hình
với dân ca đối đáp giao duyên của các dân tộc khác trên đất n-ớc ta. Trong
những ngày th-ờng họ hát với lối tự do theo cảm hứng của mình còn trong lễ

dân ca Sán Dìu, đặc biệt là các trò chơi dân gian nh- tung còn (có ở mọi địa
ph-ơng), đua thuyền độc mộc, chọi bò (ở Ba Bể), đánh võ dân tộc rất độc
đáo và đ-ợc du khách -a chuộng mỗi khi đến đây.
Đồng bào dân tộc còn có nghề truyền thống nổi tiếng đ-ợc khách du
lịch rất -a thích, đó là dệt thổ cẩm với sản phẩm là những chiếc khăn, váy áo,
túi thổ cẩm đầy đủ màu sắc với những hoa văn rất riêng biệt của mỗi dân tộc.
Mỗi khi đến hội hoặc vào những dịp chợ phiên đặc biệt là chợ phiên ngày
Tết, du khách sẽ đ-ợc th-ởng thức một vài thứ đặc sản của các dân tộc nh-
r-ợu ngô, bánh trứng kiến (nhân đ-ợc làm từ trứng con kiến đen ở trên
rừng).v.v
1.2.3.Đánh giá chung về tài nguyên du lịch
1.2.3.1.Những lợi thế
Có thể nói Bắc Kạn là một tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú và rất
đa dạng kể cả tài nguyên thiên nhiên (Rừng Quốc Gia, núi, hang, hồ, sông
n-ớc, cảnh quan ) và tài nguyên nhân văn (Di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội,
sinh hoạt văn hóa dân tộc ).
Không chỉ thế, Bắc Kạn còn có các di tích lịch sử văn hóa mang tầm
cỡ quốc gia, đ-ợc d- luận quan tâm và mang các giá trị đặc sắc về du lịch
nh- hồ Ba Bể, khu di tích ATK Chợ Đồn đều nằm trong mạng l-ới quy
hoạch tổng thể của quốc gia.
Về mặt tự nhiên, Bắc Kạn có một thế mạnh và tiềm năng to lớn về
rừng với đặc điểm độ che phủ còn khá cao, núi rừng hùng vĩ gắn liền với
sông, hồ và các thắng cảnh nổi tiếng. Đây là điều kiện lý t-ởng để Bắc Kạn
có thể đẩy mạnh phát triển du lịch của tỉnh với các loại hình phong phú, đa
dạng nh- tham quan, nghiên cứu, nghỉ d-ỡng, leo núi, thể thao đặc biệt là
việc phát triển thành trung tâm du lịch sinh thái văn hóa lớn của khu vực
miền núi phía Bắc.
1.2.3.2.Những mặt còn hạn chế
Bắc Kạn có hệ thống đ-ờng giao thông không đ-ợc thuận lợi (không
có đ-ờng thủy, đ-ơng hàng không ch-a phát triển), cơ sở hạ tầng toàn tỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status