Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu - Pdf 29


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ

Nguyễn Thị Kim Dung
Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh
kẹo Hải Châu LUẬN VĂN THẠC SỸ Hà nội - 2008

Hà nội - 2008 i
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP 6
1.1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH 6
1.1.1.1 CẠNH TRANH 6
1.1.1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH: 8
1.1.2 VAI TRÒ CỦA NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP 9
1.1.3 CÁC TIÊU CHÍ PHẢN ÁNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP 11
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 MÔI TRƯỜNG KINH TẾ: 17
1.2.2 MÔI TRƯỜNG LUẬT PHÁP, CHÍNH TRỊ: 18
1.2.3 KHẢ NĂNG GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP TIỀM ẨN 18
1.2.4 NHÂN TỐ CÁC ĐƠN VỊ CUNG ỨNG ĐẦU VÀO CHO
DOANH NGHIỆP 19
1.2.5 NHÂN TỐ KHÁCH HÀNG 19
1.2.6 NHÂN TỐ CẠNH TRANH NỘI BỘ NGÀNH 20
1.2.6.1 CÁC NHÂN TỐ BÊN TRONG 20
1.2.6.2 CÁC NHÂN TỐ BÊN NGOÀI 24

2.3.1 CÔNG TY TNHH CHẾ BIẾN THỰC PHẨM KINH ĐÔ 83
2.3.2 CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ 85
2.3.3 CÔNG TY CỔ PHẦN TRÀNG AN 88
2.3.4 ƯU THẾ 90
2.3.5 HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 91

iii

CHƯƠNG 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI
CHÂU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
96
3.1 THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO
HẢI CHÂU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ 96
3.2 NHÓM GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 97
3.2.1 MỞ RỘNG LIÊN KẾT VỚI CÁC CÔNG TY BÁNH KẸO
KHÁC Ở VIỆT NAM ĐỂ HỖ TRỢ NHAU TRONG QUÁ
TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 98
3.2.2 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH LÂU DÀI ĐỐI
VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU 100
3.2.2.1 CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM 100
3.2.2.2 CHIẾN LƯỢC GIẢM THIỂU CHI PHÍ 100
3.2.2.3 CHIẾN LƯỢC CHUYÊN BIỆT HOÁ SẢN PHẨM 101
3.2.2.4 CHIẾN LƯỢC THỊ TRƯỜNG NGÁCH VỚI CÁC NHÓM

PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU 112
3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI
CHÂU 116
3.3.1 ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC 118
3.3.2 NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ 121
3.3.3 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 122
3.3.4 HIỆN ĐẠI HOÁ HỆ THỐNG TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CỦA
DOANH NGHIỆP 124
3.3.5 TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 125

v
3.3.6 UY TÍN CỦA DOANH NGHIỆP 126
3.3.7 PHÁT TRIỂN THỊ PHẦN CỦA DOANH NGHIỆP 126
3.3.8 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 127
3.3.8.1 HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO DOANH NGHIỆP 127
3.3.8.2 XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH THUẬN LỢI VÀ
BÌNH ĐẲNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP 129
KẾT LUẬN
125

1
PHẦN MỞ ĐẦU

2
hiệu quả nhất. Các doanh nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp phải là người
đóng vai trò chủ động, đi tiên phong trong sự nghiệp tự làm giàu và qua đó
góp phần phát triển đất nước bằng cách nâng cao năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp của mình.
Với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và trong nước như vũ bão đồng
thời với việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức kinh tế mà đặc biệt là việc
gia nhập WTO. Khi đó khoa học công nghệ - thông tin, mọi thành tựu khoa
học công nghệ được áp dụng vào trong sản xuất hàng hoá và dịch vụ, năng
suất trong sản xuất tăng nhanh, hàng hoá sản xuất ra ngày càng nhiều, sự cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt. Hiện nay trong
cơ chế thị trường doanh nghiệp sản xuất đang ra sức cạnh tranh, luôn cố gắng,
nỗ lực tìm cho mình một vị thế, chỗ đứng trên thị trường, liên tục mở rộng thị
phần sản phẩm, nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng. Sản
phẩm hàng hoá có thể cạnh tranh được trên thị trường phải là những sản
phẩm, hàng hoá có chất lượng cao, mẫu mã đẹp và điều quan trọng không thể
thiếu đó là giá bán phải phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng. Mặt khác, trong
các doanh nghiệp thì lợi nhuận luôn là mục tiêu là sự phấn đấu và là cái đích
cần đạt tới. Như vậy để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thu được lợi
nhuận cao thì không những đầu ra của quá trình sản xuất phải đảm bảo mà
đầu vào cũng phải được ổn định. Nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp phải
được mọi người tiêu dùng chấp nhận, đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn phấn
đấu và tìm mọi biện pháp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất
lượng sản phẩm và đưa ra được giá bán phù hợp, có như vậy mới tồn tại và
phát triển được. Chính vì lý do đó mà vấn đề chiếm lĩnh thị trường, nâng cao
năng lực cạnh tranh luôn có tầm quan trọng và có tính thời cuộc đối với bất
kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào.
4
Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm
bánh kẹo của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu hiện nay và đề xuất các
chính sách giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh của sản phẩm trên thị
trường nội địa, nhiệm vụ của đề tài nhằm:
 Nghiên cứu hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh
của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu.
 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu.
 Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công
ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần
bánh kẹo Hải Châu.
 Phạm vi nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh
của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế.
5. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng tổng hợp các phương pháp của triết học Mác - Lê Nin, quan
điểm đổi mới của Đảng và các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương
pháp chuyên gia và một số phương pháp khác để làm rõ kết quả nghiên cứu.

6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về cạnh tranh ở một doanh
nghiệp.

phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu
vực liên quốc gia…
- Theo K.Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa
các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và
tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”[12].
- Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua
giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh
doanh trong trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung - cầu,
nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất [21].
- Theo từ điển kinh doanh: (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh là
sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài
nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình [31].
- Tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm
2002 thì định nghĩa cạnh tranh đối với quốc gia là: Khả năng cạnh tranh của
nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là

7
đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi
của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian [27].
- Cạnh tranh sẽ đem lại lợi ích cho người này và sự thiệt hại cho người
khác, song xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động
tích cực (chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn v.v.)
- Trong quan hệ kinh tế cạnh tranh là sự đấu tranh giữa những chủ thể
trong việc thực hiện sản phẩm, dịch vụ nhằm chiếm lĩnh thị trường ở mức cao
nhất, giành điều kiện tiêu thụ có lợi nhất và tối đa hoá lợi nhuận [19].
Từ những định nghĩa trên có thể rút ra được các điểm chung sau đây:
Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua

kinh tế, vị thế đó là những điều kiện để các chủ thể kinh tế tham gia vào hoạt
động cạnh tranh.
Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: Năng lực cạnh tranh của
một doanh nghiệp là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm
chí một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác
đánh bại về năng lực kinh tế[27].
Theo dự án VIE/025: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo
bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp
trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước[27].
Những quan niệm trên cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa
trên hai tiêu chí chủ yếu là thị phần và lợi nhuận. Những tiêu chí này chỉ đánh
giá trạng thái “tĩnh” của ngành (doanh nghiệp hoặc sản phẩm) trong một thời
điểm, trong khi đó cạnh tranh là một quá trình mang tính “động”, vì vậy khi
phân tích cạnh tranh, người ta thường bổ sung vào một số yếu tố “động” khác
như mức độ ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, vòng đời sản

9
phẩm v.v. Trên cơ sở phân tích này, các nhà kinh doanh có thể đưa ra những
chiến lược kinh doanh phù hợp với thị trường để duy trì và phát huy vị thế
của mình trên thị trường hoặc đưa ra những biện pháp phòng ngừa rủi ro có
thể xảy ra. Một chủ thể có sức cạnh tranh cao là chủ thể có lợi thế, biết tạo ra
lợi thế để thu được lợi nhuận cao hơn so với các chủ thể khác.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữu trong sản phẩm, việc
phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thường được tiến hành
đồng thời bằng 3 phương pháp: (1) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính
năng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã v.v.), (2) đánh giá trực tiếp thị trường
(doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối v.v.), (3)

mới hoặc nâng cao năng lực sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có. Đó là
động lực quan trọng nhất làm tăng thêm lượng vốn đầu tư cho sản xuất, kinh
doanh, nâng cao năng lực sản xuất trong toàn xã hội. Điều quan trọng là động
lực đó hoàn toàn tự nhiên, không theo và không cần bất kỳ một mệnh lệnh
chính nào của cơ quan quản lý Nhà nước [13].
Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò vô cùng
quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, điều đó được thể
hiện ở các nội dung cơ bản sau:
- Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế mở ra cho các nước khả năng
tiếp cận các nguồn đầu tư, các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển nền kinh
tế. Nền kinh tế trở nên nhạy cảm hơn với những biến động của thị trường thế
giới, nếu mỗi quốc gia không xây dựng được đường lối hội nhập chủ động,
không tích luỹ đủ khả năng kháng cự thì sẽ khó tránh khỏi những tác động
tiêu cực mà toàn cầu hoá mang lại, trước tình hình đó doanh nghiệp nào có
sức kháng tốt thì sẽ tồn tại, doanh nghiệp nào yếu kém thì sẽ bị tiêu diệt, do
đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh là điều kiện tất yếu để các doanh nghiệp
Việt Nam tồn tại và phát triển [15].

11
- Trong bối cảnh toàn cầu hoá, các doanh nghiệp đang phải đối mặt với
các đối thủ ngày càng lớn, mạnh hơn trên nhiều phương diện, từ tiềm lực tài
chính, trình độ công nghệ - kỹ thuật, kinh nghiệm cạnh tranh trên thương
trường, cuộc cạnh tranh diễn ra trong bối cảnh quốc tế không ổn định, khó dự
đoán, môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt do đó đòi hỏi doanh nghiệp
muốn đứng vững và phát triển thì phải nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Thách thức không kém phần nghiêm trọng sẽ xảy ra ngay trên thị
trường nội địa nước ta, vì khi tham gia vào các tổ chức, diễn đàn quốc tế Việt

sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn.
- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã kiểu cách so với các đối
thủ cạnh tranh. Trong quá trình quyết định mua của mình khách hàng thường
xem xét mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm có phù hợp với yêu cầu và thị hiếu
của mình hay không trước khi tìm hiểu những thông tin khác về sản phẩm.
- Mức chênh lệch về giá của mặt hàng đó so với các đối thủ cạnh tranh,
giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất thể hiện năng lực cạnh tranh
của sản phẩm. Với hai sản phẩm tương tự nhau, khách hàng sẽ lựa chọn sản
phẩm nào có giá thấp hơn.
- Mức chênh lệch về chất lượng sản phẩm so với sản phẩm cùng loại của
đối thủ cạnh tranh. Ngày nay chất lượng sản phẩm là yếu tố được quan tâm
hàng đầu, sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh nếu các tính năng của
sản phẩm đó vượt trội hơn so với sản phẩm cạnh tranh trên thị trường. Yếu tố
này có thể đánh giá thông qua so sánh hai sản phẩm với nhau về chất lượng,
độ bền, tiện ích trong sử dụng … đây là một trong những yếu tố tương đối để
so sánh đối với đa số những sản phẩm đơn giản. Tuy nhiên, nhiều sản phẩm
phức tạp khách hàng không thể đánh giá ngay được chất lượng sản phẩm, do
đó khách hàng sẽ đánh giá chất lượng sản phẩm gián tiếp thông qua uy tín của
người sản xuất, của nước sản xuất.

13
(2) Các tiêu chí trên thị trường (doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị
phần, hệ thống phân phối…)
- Mức doanh thu của sản phẩm đó trong từng năm: Năng lực cạnh tranh
cũng biểu hiện qua doanh thu của sản phẩm trên thị trường nội địa. Nếu sản
phẩm có doanh thu cao, tốc độ tăng doanh thu cao so với đối thủ cạnh tranh
chứng tỏ sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, chỉ tiêu này thể hiện khả năng

sản xuất dễ dàng hơn như dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng.
(3) Các tiêu chí liên quan đến quan điểm của khách hàng (sự thoả mãn
nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu .v.v.)
- Trong quá trình phân tích, đánh gía sẽ rất khó khăn cho việc lượng hoá
toàn bộ các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Vì vậy, chúng
ta phải kết hợp vừa định lượng vừa định tính nhằm xác định năng lực cạnh
tranh thực sự của sản phẩm hàng hoá trên thị trường. Nếu như trước kia hai
yếu tố chất lượng, giá cả có tính quyết định đến năng lực cạnh tranh của sản
phẩm thì ngày nay cùng với quá trình toàn cầu hoá, phạm vi đánh giá các tiêu
chí thể hiện năng lực cạnh tranh cần phải được mở rộng hơn. Trong quá trình
đánh giá cũng cần đưa thêm các yếu tố định tính khác như hình ảnh của các
doanh nghiệp tham gia thị trường, hình ảnh của quốc gia, lòng tin của khách
hàng đối với sản phẩm, sự thoả mãn của khách hàng đối với sản phẩm,
thương hiệu của sản phẩm.
Năng lực cạnh tranh được phân biệt ở ba cấp độ, bao gồm năng lực cạnh tranh
quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản
phẩm dịch vụ.
- Năng lực cạnh tranh quốc gia: được định nghĩa là năng lực của một
nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn
định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân, chủ yếu nhờ khả năng

15
nâng cấp công nghệ hoặc bằng cách tự sáng tạo hoặc tiếp thu nhanh chóng và
tích cực công nghệ từ nước khác. [11].
Ngày nay, lợi thế cạnh tranh truyền thống dựa trên tài nguyên thiên nhiên và
chi phí lao động thấp, tuy còn có giá trị, song mới chỉ là điểm khởi đầu, tri
thức và kỹ năng đang trở thành một nhân tố then chốt đảm bảo tính cạnh tranh

năng lực cạnh tranh cao, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có năng
lực cạnh tranh, các điều kiện, tiền đề kinh doanh của nền kinh tế phải thuận
lợi để các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp thể hiện qua chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời
thể hiện thông qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà
doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh. Ngược lại năng lực cạnh tranh của
sản phẩm và dịch vụ phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực
tổ chức quản lý của doanh nghiệp.
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp:
Có rất nhiều yếu tố chi phối đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm -
hàng hoá - dịch vụ như: giá cả, chất lượng, nhu cầu thị trường, lao động, công
nghệ, môi trường kinh doanh… vì thế muốn nâng cao năng lực cạnh tranh bất
cứ một sản phẩm nào cũng cần phải kết hợp tất cả những yếu tố nói trên trong
điều kiện có thể. Đồng thời phải thực hiện hàng loạt các biện pháp và duy trì
ở mức tối ưu các mối quan hệ đa tầng và đa chiều. Tuy nhiên, xem xét tất cả
các yếu tố nói trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng việc áp dụng chúng đều
hướng tới mục tiêu: nâng cao chất lượng và hạ thấp giá thành sản phẩm nhằm
mở rộng thị trường. Ngược lại khi sản phẩm - hàng hoá - dịch vụ có năng lực
cạnh tranh tốt thì mới có khả năng về vật chất và kỹ thuật để tái đầu tư cho
hoạt động sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành.

17
1.2.1 Môi trường kinh tế:
Đây là nhân tố quan trọng nhất tác động đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế có tác động
trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

sở pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường.
Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi đảm bảo sự bình
đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả, ổn
định về chính trị đem lại sự lành mạnh hoá xã hội, ổn định kinh tế, tạo hành
lang thông thoáng cho sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
Trong điều kiện bình thường, một doanh nghiệp vẫn có thể bị ảnh
hưởng do thay đổi của hệ thống pháp luật. Luật pháp là yếu tố dễ dàng bị áp
đặt nên dễ dàng bị thay đổi. Nhưng ảnh hưởng của những thay đổi gây khó
khăn cho doanh nghiệp trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh lâu dài
của mình.
Trong quá trình toàn cầu hoá, doanh nghiệp phải tìm mọi cách đưa
hàng hoá xâm nhập vào thị trường các nước. Điều này đồng nghĩa với việc
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi các quy định,
luật pháp, thủ tục của nước sở tại. Mọi sự biến động về môi trường luật pháp,
chính trị của một nước trên thế giới đều có khả năng ảnh hưởng đến các
doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo trong nước. Trong điều kiện đó, sự thấu hiểu
thông lệ và luật pháp quốc tế là cơ sở quan trọng giúp doanh nghiệp tránh
được những tổn thất không đáng có trong nỗ lực chiếm lĩnh thị trường [l]
1.2.3 Khả năng gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm ẩn:
Đó là sự xuất hiện của các công ty mới tham gia vào thị trường nhưng
có khả năng mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường của các công ty khác. để

Trích đoạn CHIẾN LƯỢC VỐN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status