Tài liệu ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên đến tăng trưởng và hiệu quả của việc nuôi cá tra - Pdf 29

Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 178-190 Trường Đại học Cần Thơ

178
ẢNH HƯỞNG CỦA CHO ĂN GIÁN ĐOẠN VÀ LUÂN
PHIÊN LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ TRA (Pangasianodon
hypophthalmus)

ơng Hải Toàn
1
, Lý Tiểu Mi
2
và Nguyễn Thanh Phương
2

ABSTRACT

Manufactured pelleted feed has been popularly used in striped (tra) catfish
(Pangasianodon hypophthalmus) farming. The feed cost shared about 80% of
total production cost. The study on optimal feeding methods for improving feed
utilization was conducted with fingerling sized fish (23-27 g/fish). The study
comprised of two experiments including restricted feeding and alternative
feeding of different protein pellets. These experiments were conducted in 500 L
tank for 90 days. The growth rate and feed conversion ratio of fish fed 7 days
and starved 3 days was the best. The growth rate and feed conversion ratio of
fish fed a feeding regime of 7 days with 30% protein pellet and 3 days with
18% protein pellet were not significantly different if compared to fish fed only
30% protein pellet. These results are applicable in the pond culture conditions.
Keywords: striped catfish, alternative feeding, restricted feeding.
Title: Effects of restricted and alternative feeding methods on the growth of
the striped catfish (Pangasianodon hypophthalmus) fingerlings

thức ăn ngày có xu hướng gia tăng làm tăng giá thành sản xuất từ đó giảm hiệu
quả kinh tế. Theo Lam et al., (2009) thì hệ số thức ăn trong nuôi cá tra dao
động từ 1,0 đến 3,0 và trung bình là 1,69. Trong nuôi cá tra chi phí thức ăn
chiếm hơn 80% tổng chi phí (Phuong và Oanh 2009), vì thế cải tiến hiệu quả
sử dụng thức ăn của cá vừa có ý nghĩa giảm chi phí thức ăn vừa giảm chất thải
vào môi trường. Có nhiều phương pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn
đã được nghiên cứu trên thế giới. Li et al., (2005) thấy rằng ở cá nheo Mỹ
(Ictalurus punctatus) nếu cho ăn các chế độ cho ăn gián đoạn khác nhau thì
thấy hệ số thức ăn (FCR) thấp nhất khi cá được cho ăn gián đoạn hai ngày mỗi
tuần. Robinson et al., (1995) và Jarboe & Grant (1997) thì thấy thời gian cho
ăn và số lần cho ăn không ảnh hưởng đến tăng trưởng, hệ số thức ăn (FCR) và
tỉ lệ sống của cá nheo Mỹ. Bên cạnh đó, Sevgili et al. (2006) cho biết tăng
trưởng của cá hồi (Oncorhynchus mykiss) khi cho cá ăn luân phiên hai loại thức
ăn là một ngày đạm thấp (28,1%) với ba ngày đạm cao (49,9%) khác biệt
không có ý nghĩa về tăng trưởng giữa các nghiệm thức. Những nghiên cứu nêu
trên đều cho thấy khi cho cá ăn gián đoạn hay luân phiên thức ăn có hàm lượng
đạm khác nhau cho hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn. Nghiên cứu “Ảnh hưởng
của phương pháp cho ăn đến tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá
tra (
Pangasianodon
hypophthalmus)” góp phần tìm ra giải pháp cho cá ăn thích
hợp nhất để nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và qua đó hạn chế tác động môi
trường.
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 03/2009 đến 09/2009 tại Khoa Thủy sản,
Trường Đại học Cần Thơ.
2.2 Bố trí thí nghiệm
Nghiên cứu gồm hai thí nghiệm độc lập nhau. Thí nghiệm thứ nhất so sánh
tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn khi cho cá ăn gián đoạn khác nhau.

Đạm thô 30,1 17,9
Béo thô 2,51 10,7
Tro 2,52 11,7
Xơ 2,43 4,23
NFE 51,6 44,2
2.4 Thu mẫu môi trường và mẫu cá
Các yếu tố nhiệt độ, oxy hòa tan, pH được ghi nhận vào buổi sáng và buổi
chiều (trước khi tiến hành cho nước chảy) 7 ngày/lần trong suốt quá trình thí
nghiệm. Ghi nhận bổ sung các yếu tố này khi thấy bể cá trong bể thí nghiệm có
dấu hiệu bất thường.
Trước khi thí nghiệm cân tổng số cá cho vào từng bể và đếm số lượng để tính
khối lượng trung bình của một cá. Hàng tháng thu mẫu t
ăng trưởng bằng cách
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 178-190 Trường Đại học Cần Thơ

181
cân tổng khối lượng ngẫu nhiên của 15-20 cá trong bể để xác định khối lượng
cá trung bình cá thể. Cuối thí nghiệm chọn cân ngẫu nhiên 15 cá để xác định
khối lượng trung bình cá thể sau thí nghiệm. Cá được cân bằng cân điện tử có
độ chính xác là một số lẻ. Ngoài ra, trước khi thí nghiệm lấy ngẫu nhiên 10 cá
của đàn cá thí nghiệm và cuối thí nghiệm lấy ngẫu nhiên 10 con cá mỗi bể để
phân tích thành phần hóa học. Mẫu cá được giữ đông ở nhiệt độ -20
o
C đến khi
phân tích.

2.5 Phân tích mẫu và xử lý số liệu
Các chỉ tiêu về ẩm độ, đạm, béo và tro được xác định theo phương pháp
AOAC (2000). Tỷ lệ sống (SR), khối lượng cá ban đầu (Wi), khối lượng cuối
(Wf), tăng trưởng tuyệt đối (DWG, g/ngày) được tính toán dựa vào kết quả thu


Cho ăn 7 ngày+ngừng 3 ngày 99,3±0.67
a
67,1±2,77
b
0,47±0.03
b

Cho ăn 7 ngày+ngừng 4 ngày 98,7±0.67
a
52,5±3,40
a
0,30±0,04
a

Giá trị thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn. Các số liệu cùng nằm trong một cột có mang chữ cái
giống nhau thì sai khác không có ý nghĩa p>0,05
Khối lượng trung bình của cá khi bắt đầu thí nghiệm khác biệt không có ý
nghĩa thống kê (p>0,05). Tuy nhiên, sau 90 ngày nuôi thì về sinh trưởng khối
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 178-190 Trường Đại học Cần Thơ

182
lượng cuối (Wf)và tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (DWG) ở nghiệm thức cá được
cho ăn 7 ngày và ngừng 3 ngày tốt nhất và khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05)
với cá được cho ăn liên tục (Bảng 2). Như vậy, chế độ cho cá tra ăn gián đoạn
có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cá.

Hình 1 cho thấy được tăng trọng của cá ở nghiệm thức cho ăn liên tục trong 30
ngày đầu cao hơn so với các nghiệm thức khác nhưng sau 60 ngày thì tốc độ
tăng trưởng tương đương với nghiệm thức cho ăn 7 ngày và ngừng 3 ngày và

Hệ số thức ăn (FCR) của cá trong thí nghiệm cao nhất ở nghiệm thức cho ăn 7
ngày và ngừng 2 ngày (1,68) và thấp nhất ở nghiệm thức 7 ngày và ngừng 3
ngày (1,32) khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) với 3 nghiệm thức còn lại
(Bảng 3). Bênh cạnh, hiệu quả sử dụng đạm PER ở nghiệm thức 7 ngày và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status