Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 55-64 Trường Đại học Cần Thơ
55
ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG CÁC LOẠI
CHẾ PHẨM SINH HỌC CHỨA VI KHUẨN Bacillus
TRONG ƯƠNG ẤU TRÙNG ỐC HƯƠNG
(Babylonia areolata)
Ngô Thị Thu Thảo và Phạm Thị Tuyết Ngân
1
ABSTRACT
Larvae of sweet snail Babylonia areolata were nursed in 30 L tanks during 15
days of experiment period and supplemented with microbial products
containing Bacillus at the density of 10
5
CFU/ml. The experiment was designed
with 3 treatments and 3 replicates were run per each treatment: 1) Bacillus
strain was isolated from intensive shrimp pond in Soctrang province (B37); 2)
Bacillus from PrawnBac product and 3) Bacillus strain from shrimp pond in
other province in Mekong Delta. Our findings showed that suplementation of
Bacillus strain B37 resulted in significant higher (P<0.05) survival rate
(40.9%), larval production (81.9 inds/L) and metamorphosis (40.4%). In
addition, dentity of Vibrio was lowest in tanks with B37 suplementation
compared to others (10
1
- 8.10
1
CFU/ml). This pattern indicated that the ability
to limit the development of Vibrio in nursing tanks. Results of study could be
useful to applied in molluscan hatcheries.
Keywords: Bacillus, Babylonia areolata, larvae
chất lượng nước trong bể ương. Ngoài ra trong quá trình ương nuôi ấu trùng,
các loại thức ăn nhân tạo như Lansy, Fripak, bột thịt hàu… cũng được sử dụng
nên làm cho môi trường nước mau bị ô nhiễm. Bên cạnh các chất thải của quá
trình tiêu hóa, ốc hương còn tiết ra dịch nhầy làm ô nhiễm môi trường. Ấu
trùng ốc hương rất mẫn cảm với những thay đổi của yếu tố môi trường và việc
thay nước nếu gây ra quá nhiều xáo trộn sẽ làm giảm tỷ lệ sống và năng suất
của quá trình xuất giống. Sử dụng vi sinh vật hữu ích trong ương nuôi các đối
tượng thủy sản đang được áp dụng rộng rãi (Garriques và Arevalo, 1995,
Havennaar và Huys, 2003; Phạm Thị Tuyết Ngân và Trương Quốc Phú, 2010).
Các nghiên cứu đều cho thấy vi khuẩn hữu ích đóng vai trò quan trọng quá
trình phân hủy chất hữu cơ, cải thiện chất lượng nước, chuyển hóa các khí độc
như NH
3
-
, NO
2
-
sang các dạng không độc hại. Nghiên cứu này được thực hiện
nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung các dòng vi khuẩn hữu ích khác
nhau đến các yếu tố môi trường và hiệu quả của việc ương nuôi ấu trùng ốc
hương.
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Vật liệu thí nghiệm
Đối tượng thí nghiệm là ấu trùng ốc hương được sinh sản từ nguồn ốc bố
mẹ
nuôi tại trại thực nghiệm Động vật thân mềm - Khoa Thủy sản - Đại học Cần
Thơ. Bể ương có thể tích 30 lít, mật độ ương ấu trùng là 200 con/lít. Nước ót
được xử lý, pha với nước máy và duy trì độ mặn 30‰. Trong quá trình thí
nghiệm, bể ương được sục khí liên tục và thay nước 25-50% sau mỗi 3 ngày
ương.
+
) và TCBS (Thiosulphate Citrate Bile Sucrose Agar)
được chuẩn bị để cấy vi khuẩn. Một ml nước bể ương được chuyển vào ống
nghiệm chứa 9 mL nước muối sinh lý đã tiệt trùng, trộn đều bằng máy khoảng
1 phút đạt độ pha loãng 10
-1
. Tiếp tục pha loãng đến khi đạt độ pha loãng thích
hợp, bắt đầu từ độ pha loãng 10
-2
chỉ lắc 30 giây và để lắng 15 giây. Sau đó, 3
độ pha loãng thích hợp được chọn cho mật độ của vi khuẩn tổng cộng và vi
khuẩn Vibrio. Từ mỗi nồng độ pha loãng, 100μL của mẫu nước được hút ra và
cho vào các đĩa môi trường TSA
+
và TCBS, dùng que thủy tinh trải đều. Mỗi
nồng độ pha loãng lặp lại 3 lần. Đĩa môi trường sau khi tán được ủ ở 30
o
C
trong 24 – 28 giờ.
2.4 Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn Bacillus
Sau khi pha loãng, để nhiệt kế vào một ống nghiệm khác có chứa nước. Sau đó
để vào nước nóng ở 80ºC trong 10 phút rồi lấy các ống nghiệm ra (Nguyễn Lân
Dũng, 1983). Sau đó dùng micropipete hút 100 µL dung dịch huyền phù vi
khuẩn cho vào các đĩa chứa môi trường chuyên biệt cho giống Bacillus rồi
dùng que thủy tinh tán đều đến khi mẫu khô. Ủ ở 28ºC trong 24 - 48 giờ. Sau
khi ủ xác định mật số như cách đã trình bày ở trên.
2.5 Phương pháp thu và phân tích chất lượng nước
Các chỉ tiêu chất lượng nước như nhiệt độ, độ mặn, pH, NH
4
/NHHình 1. Biến động nhiệt độ (
o
C) trong quá trình thí nghiệm
Hình 1 cho thấy nhiệt độ buổi sáng tăng dần và giữ ổn định trong suốt thời gian
ương, dao động từ 26,4-29,6
o
C. Trong khi đó nhiệt độ buổi chiều giảm dần
trong 6 ngày đầu dao động từ 28-30
o
C và giữ ổn định trong các ngày tiếp theo.
Vào cuối thời gian thí nghiệm, nhiệt độ có biến động nhưng vẫn nằm trong
khoảng an toàn cho sự phát triển của ấu trùng. Kết quả này phù hợp với nhận
định của Nguyễn Thị Xuân Thu (2006) là ốc hương có thể sống ở nhiệt độ 12-
35
o
C, khoảng nhiệt độ thích hợp từ 26-28
o
C.
3.1.2 pH
Giá trị pH ở các nghiệm thức dao động từ 7,1-8,7 và không có sự chênh lệch
giữa các nghiệm thức. Theo Nguyễn Thị Xuân Thu (2006), giá trị pH từ 6-9
thích hợp cho phát triển ấu trùng ốc hương.
3.1.3 NH
4
+
/NH
Ngày thí nghiệm
Nhiệ t độ ( oC)
Sáng Chiều
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 55-64 Trường Đại học Cần Thơ
59
3.1.4 Nitrite (mg/L)
Hàm lượng NO
2
-
bắt đầu tăng nhanh từ ngày 5 đến ngày 15 của quá trình thí
nghiệm. Đây là kết quả của hiện tượng tích lũy chất dinh dưỡng từ thức ăn dư
thừa và chất thải của ấu trùng ốc hương. Biến động hàm lượng các chất đạm
trong các bể ương ấu trùng cho thấy vi khuẩn dòng B37 hoặc các CPSH khác
dường như chưa phát huy hiệu quả triệt để trong quá trình chuyển hóa đạm
hoặc cũng có thể do chu kỳ thu mẫu ngắn mà đặc điểm này chưa được làm rõ
(Bảng 1). Boyd (1998) cho rằng hàm lượng NO
2
-
trong nước nên thấp hơn 0,1
mg/L. NO
2
-
là một trong những yếu tố khó kiểm soát trong hệ thống nước tĩnh,
một trong những biện pháp làm giảm NO
2
-
là thay nước thường xuyên
(Menasveta et al., 1980).
Bảng 1. Trung bình giá trị pH, hàm lượng NH
Hình 2. Biến động mật độ vi khuẩn Bacillus trong nước
Mật độ vi khuẩn Bacillus đạt cao nhất ở nghiệm thức bổ sung dòng B37
(4,8.10
5
- 2,6.10
6
CFU/ml), tiếp theo là nghiệm thức CNSH (5,8.10
4
- 9,9.10
5
CFU/ml), và nghiệm thức Prawn Bac (2,5.10
4
- 9,4.10
5
CFU/ml). Tất cả các
nghiệm thức bổ sung vi khuẩn định kỳ đều có mật độ vi khuẩn Bacillus cao
0.00
1.00
2.00
3.00
4.00