B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T TP.HCM
NGUYN TH L
LUN VN THC S KINH T
* TÓM TẮT KÊNH THỊ TRƯỜNG ĐẦU VÀO TRONG
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
2.3. TÌNH HÌNH THU HOẠCH NÔNG SẢN pẨM
2.3.1. Các loại sản phẩm nông nghiệp
2.3.2. Sản lượng thu hoạch và giá bán
1
1
2
2
3
4
4
4
6
7
9
9
14
14
17
20
23
25
26
29
31
32
TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN TỈNH ĐẾN NĂM 2010
3.3.1. Thò trường đầu vào
3.3.2. Thò trường đầu ra
I
ẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬ
N
1. KIẾN NGHỊ
1.1. Đối với Trung Ương
1.2. Các ban ngành có liên quan ở Tỉnh
1.3. Bản thân người nông dân
2. KẾT LUẬN
2.1. Thò trường đầu vào
2.2. Thò trường đầu ra
TÀI LIỆU THAM KHẢO
35
35
37
38
39
41
42
43
44
45
45
đòi hỏi phải được xem xét kỹ lưỡng. Bởi cho đến nay, thò trường ở nông thôn
chỉ mới bắt đầu được hình thành, chưa đồng bộ, còn nhiều hạn chế đối với quá
trình sản xuất. Người nông dân, các tổ chức sản xuất nông nghiệp muốn tạo ra
được nông sản thì nhất thiết phải có các yếu tố đầu vào như đất, nước, giống,
lao động, vốn, vật tư, kỹ thuật, thiết bò, công nghệ Đến khi thu hoạch họ lại
lo toan đầu ra cho sản phẩm của mình. Thử nghó nếu không có hay thiếu các
dòch vụ cung ứng đầu vào hoặc các đầu mối tiêu thụ nông sản bò ách tắc thì
người nông dân chòu thiệt thòi và gặp khó khăn trong sản xuất là không thể
tránh khỏi.
Nhận thức được tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp, xuất phát từ nhu
cầu thực tiễn, tôi nhận thấy đề tài: “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát
triển thò trường nông sản cho tỉnh Trà Vinh đến năm 2010”. Cần được
nghiên cứu để giải quyết vấn đề khó khăn nhất trong sản xuất nông nghiệp
hiện nay, góp phần giúp phát triển kinh tế Việt Nam nói chung, kinh tế nông
nghiệp Tỉnh Trà Vinh nói riêng. Đưa nền kinh tế nông nghiệp nước ta thực
Trang
3
hiện thành công sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông thôn thời kỳ
2001 - 2010.
2. Mục tiêu - nội dung nghiên cứu
+ Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung nhất của đề tài là nghiên cứu thực trạng cùng với những
thuận lợi, khó khăn thuộc về nhân tố thò trường trong sản xuất nông nghiệp, từ
đó đưa ra một số giải pháp đònh hướng phát triển thò trường nông sản cho Tỉnh
đến năm 2010.
Mục tiêu cụ thể:
- Đưa ra các giải pháp khả thi giúp cho các hộ sản xuất nông nghiệp tìm
nguồn đầu vào, và thò trường tiêu thụ nông sản một cách có hiệu quả, nhằm tăng
thu nhập đảm bảo ổn đònh cuộc sống.
- Đề tài là căn cứ khoa học giúp: Ngân hàng, sở nông nghiệp, phòng nông
Khi nghiên cứu về thò trường nông thôn mà thế mạnh của nó là thò trường hàng hóa nông
sản, thì có rất nhiều vấn đề mà chúng ta cần phải nghiên cứu. Tuy nhiên, trong đề tài này do
thời gian cho phép có hạn, cùng với những nhân tố khách quan khác tác động, cho nên đề tài
chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở 928 hộ nông dân thuộc 7 Huyện và 1 Thò Xã của Tỉnh Trà
Vinh, đồng thời đề tài chỉ đi sâu vào nghiên cứu hai “công đoạn chính” thuộc quá trình sản
xuất của họ, đó là mua vào các tư liệu sản xuất và bán ra các sản phẩm nông sản. Do tính chất
của đề tài, vì đối tượng phỏng vấn là nông dân, do trình độ của họ có hạn cho nên có một số
câu hỏi trong bảng câu hỏi họ trả lời phần nào thiếu chính xác. Cùng với các yếu tố kỹ thuật
trong sản xuất nông nghiệp, và các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội không được đề cập sâu trong
chuyên đề này.
Trang
5
Cụ thể bố cục của đề tài bao gồm các phần sau:
Chương 1: Giới thiệu sơ lược về tình hình kinh tế xã hội cùng các đònh hướng
chính sách của tỉnh
Chương 2: Thực trạng thò trường đầu vào, đầu ra cho hàng hóa nông sản của tỉnh
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển thò trường hàng nông
sản cho tỉnh Trà Vinh đến năm 2010.
có lợi thế cho việc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày như cây lạc, đậu phộng, mía và
một số loại hoa màu khác, đa số người dân tộc sinh sống ở những vùng này. Các huyện còn
lại như huyện Châu Thành, Càng Long và Thò Xã nằm trên trục lộ tiếp nối với các tỉnh, và
nằm rất gần ở trung tâm của tỉnh nên rất thuận lợi cho việc phát triển các loại hình dòch vụ -
thương mại, hoạt động này năng động với cơ chế thò trường, kinh doanh đa dạng những ngành
hàng phát triển mạnh như đại lý xe gắn máy, thông tin liên lạc, giao thông vận tải, vật tư xây
dựng, vàng bạc, mặt khác còn có điều kiện tốt cho việc sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công
nghiệp. Qua đó thấy được trong tỉnh mỗi vùng có đặc thù riêng biệt về khí hậu, vò trí đòa lý, vì
thế mỗi huyện có tiềm lực kinh tế, xã hội khác nhau, đã tạo nên cơ cấu kinh tế của tỉnh Trà
Vinh đa dạng và phong phú bao gồm nhiều lónh vực.
Trang
7
Trà Vinh có mạng lưới sông rạch chằng chòt, phân bố tương đối đều đặn. Mạng lưới sông
rạch và kênh đào được phân chia làm 3 hệ thống: Hệ thống thứ nhất đổ ra biển nằm trên đòa
bàn Huyện Duyên Hải, hệ thống thứ hai: sông rạch đổ ra sông Cổ Chiên nằm trên đòa bàn Thò
Xã Trà Vinh, chảy dài qua các Huyện Càng Long, Châu Thành, Cầu Ngang, hệ thống thứ ba:
đổ ra sông hậu nằm trên đòa bàn của Huyện Cầu Kè tiếp nối đến huyện Tiểu Cần và Trà Cú.
Các hệ thống sông rạch và kênh đào nói trên giao nhau, tạo nên một mạng lưới lưu thông và
điều hòa thủy mực các nguồn nước. Tính trung bình cứ 100 m2 diện tích tự nhiên có tới 10 m
2
diện tích mặt nước. Mạng lưới sông rạch như vậy, có ý nghóa cực kỳ quan trọng trong việc tưới
tiêu, cung cấp nguồn phù sa, nuôi trồng thủy sản cả nước ngọt lẫn nước lợ và giao thông
đường thủy.
Trà Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nóng ẩm quanh năm
và chia ra hai mùa rõ rệt. Lượng mưa trung bình từ 1.400 - 1.600 mm. Số giờ nắng trung bình
mỗi năm 2.600 giờ. Nhiệt độ trung bình năm từ 25
0
C đến 27
0
hình kinh tế xã hội của Tỉnh đã từng bước phát triển.
+ Kinh tế:
Nhòp độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh có bước phát triển khá, cụ thể tốc độ phát triển giá trò
sản xuất của tỉnh năm 2001 so với 2000 đạt 109,69%, tăng 9,69% trong đó nông nghiệp tăng
2,43%, lâm nghiệp tăng 4,35%, thủy - hải sản tăng 16,59%, công nghiệp tăng 14,57%, xây
dựng tăng 36,1%, và dòch vụ tăng 16,43%. Còn tốc độ phát triển về giá trò GDP mỗi năm đều
gia tăng 8,6% năm 2001 so với 2000. Cơ cấu kinh tế của tỉnh có một bước chuyển dòch đáng
kể phục vụ cho yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa. So với năm 1992, GDP năm 2001
tăng gấp 2 lần.Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 61,7 % năm 1992 còn 50 % năm
2001, giá trò công nghiệp tăng từ 7,82 % lên 12 %, giá trò thủy sản từ 12,6 % lên 16 %, giá trò
dòch vụ từ 15,82 %; lên 22 %. Rõ ràng chỉ sau 10 năm tỉnh đã có nhiều thay đổi vượt bậc tốc
độ tăng trưởng kinh tế khá cao. Về cơ cấu kinh tế của tỉnh năm 2001 dòch vụ chiếm tỷ trọng:
22,71% tăng 1,5% so với năm 2000, về công nghiệp xây dựng chiếm: 3,99% tăng 0,75 %,
nông nghiệp chiếm 53,03% giảm 3,29% so với năm 2000, thủy sản chiếm: 11,84% tăng
0,78%, dòch vụ cũng tăng 1,5%, còn lâm nghiệp giảm một lượng không đáng kể 0,08%.
Trang
9
- Sản xuất nông nghiệp, nhờ đầu tư cho thủy lợi, ngọt hóa hơn phân nửa vùng đất bò
nhiễm mặn, diện tích gieo trồng hàng năm đều tăng cùng với ứng dụng, chuyển giao tiến bộ
khoa học kỹ thuật, cải tạo giống cây trồng, chuyển đổi mùa vụ, nên đã phá được thế độc
canh cây lúa, xóa được nạn đói lúc giáp hạt, sản lượng tăng gấp đôi so năm 1992 (449.000 tấn
lên trên 1 triệu tấn với trên 400.000 tấn lúa để xuất khẩu), giá trò sản xuất bình quân tăng 5,46
% năm.
- Về thủy sản tiềm năng của một Tỉnh ven biển. Tỉnh đã tập trung phát triển nghề nuôi
trồng và khai thác hải sản xa bờ, phát triển phong trào nuôi tôm sú, mô hình nuôi tôm càng
xanh, cá nước ngọt kết hợp trồng lúa, giá trò nuôi trồng và khai thác thủy hải sản tăng bình
quân 14,65 %/năm, thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh.
- Về công nghiệp, có một bước đổi mới về công nghệ sản xuất theo hướng phát triển
mạnh công nghiệp chế biến gắn với sản xuất nông ngư nghiệp như chế biến thủy sản đông
lạnh, chế biến mía đường, lương thực, dừa, khôi phục một bước ngành nghề truyền thống như
Thít của chính phủ, khai khát hết tiềm năng của diện tích trồng lúa, đất xen canh lúa màu,
đến năm 2010 chủ động tưới tiêu cả mùa mưa và mùa khô, nâng sản lượng lương thực từ
1.243.000 tấn năm 2005 lên 1.400.000 tấn năm 2010, ngoài đáp ứng nhu cầu lương thực trong
Tỉnh, còn có thể cung cấp lúa 700.000 đến 900.000 tấn mỗi năm.
- Đầu tư cho lónh vực thủy sản làm cơ sở cho việc nuôi thủy sản có giá trò cao (nhất là tôm
sú) sẽ phát triển ổn đònh, giảm thiểu các rủi ro trên cơ sở đầu tư quy hoạch phân vùng, đầu tư
hệ thống thủy lợi - thoát nước, nhà máy cung cấp thức ăn nuôi tôm, công nghệ nuôi tôm, sản
xuất và cung ứng giống, phòng trừ dòch bệnh và bảo vệ môi trường Tăng cường đầu tư phát
triển đánh bắt xa bờ lên 440 chiếc vào năm 2010, nâng sản lượng từ 92.000 tấn năm 2000
(nuôi trồng 36.000 tấn) lên 161.000 tấn năm 2010 (nuôi trồng 81.000 tấn) đáp ứng cho nhu
cầu chế biến xuất khẩu.
- Kết hợp với hệ thống thủy lợi là đầu tư giao thông nông thôn, nhất là các vùng sâu, vùng
xa, vùng căn cứ kháng chiến cũ, xây dựng hoàn chỉnh các cụm xã kết hợp với đầu tư các dòch
vụ hậu cần cho sản xuất nông nghiệp, các nhà máy công nghiệp chế biến gần với tiêu thụ sản
phẩm nông - ngư nghiệp, thúc đẩy sản xuất nông - ngư nghiệp phát triển giải quyết việc làm
cho nông dân trong mùa nhàn, các hộ không đất, tạo sự chuyển dòch về cơ cấu lao động trong
Trang
11
nông - ngư nghiệp cũng như đất đai, tiền vốn Thay đổi một cách cơ bản bộ mặt đời sống xã
hội nông thôn.
- Từ sự phát triển của nông nghiệp - thủy sản nêu trên sẽ là cơ sở cho việc giải quyết
những vấn đề xã hội bức xúc của Tỉnh như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm
nghèo, thay đổi căn bản bộ mặt xã hội nông thôn. Sự thay đổi về cơ sở hạ tầng nông thôn sẽ
thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển của công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, sự phát triển
của ngành dòch vụ hậu cầu cho nông nghiệp, thủy sản và nhất là xuất khẩu có những mặt
hàng chiến lược, có giá trò kinh tế cao.
Bảng 1: Số mẫu điều tra chia theo Huyện
Huyện/Xã Hộ (người) Phần trăm
(%)
1. Cầu Ngang
2. Châu Thành
3. Tiểu Cần
4. Trà Cú
5. Cầu Kè
6. Duyên Hải
7. Càng Long
8. Thò Xã
266
245
93
84
79
77
49
35
28,7
26,4
10,0
9,1
8,5
8,3
5,3
3,8
Tổng 928 100
Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp
Trong tổng số mẫu, tỷ lệ mẫu ở Huyện Cầu Ngang chiếm cao nhất: 28,7% do
9,0
42,7
35,5
12,8
0
20
40
60
80
100
Tỷ trọng (%)
81.7
40
18.4
16.5
Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp
Vì Trà Vinh là một tỉnh vùng sâu, người nông dân chỉ học hết cấp 1 với tỷ lệ
là 42,7%, số người học hết cấp 2 chiếm tỷ lệ tương đối 35,5%. Bên cạnh đó số
người học hết cấp 3 chiếm 12,8% và một số ít người mù chữ là 9%.Nhìn chung
14.8
1.5
1.6
Trồng
lúa
Chăn
nuôi
Hoa
màu
Cây
ăn trái
ngành này lại không cao, chỉ có 18,4% cho hoa màu và 16,5% cho cây ăn trái.
Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, ngành thủy sản mặc dù chiếm tỷ lệ thấp: 14%
và chủ yếu tập trung ở Huyện Duyên Hải một phần nhỏ ở huyện Cầu Ngang và
Cầu Kè, nhưng đây là ngành có tiềm năng phát triển cao nếu được đầu tư hợp lý
thì tốc độ tăng trưởng rất cao, thời kỳ 1996 - 2000 đạt 10,86%, cao gấp 3lần tốc
độ tăng nông nghiệp, mặt khác tỷ trọng ngành thủy sản trong những năm qua
tăng dần, tuy không nhiều, giá trò GDP của thủy hải sản năm 2000 314 tỷ đồng,
năm 2001 là 365 tỷ đồng, cơ cấu thủy hải sản tỉnh gồm khai thác và nuôi trồng.
Nuôi trồng chiếm phần lớn và có xu hướng gia tăng, nuôi trồng được quan tâm
Trang
15
phát triển nhất là nuôi tôm sú ở vùng ngập mặn ven biển, thả nuôi tôm giống.
Ngoài việc thả nuôi tôm sú, nhiều hộ gia đình ở Duyên Hải, Cầu Ngang nuôi cua
biển, nuôi nghêu, nuôi tôm thử nghiệm trên ruộng muối. Ở vùng nước lợ, nước
ngọt như Cầu Ngang, Trà Cú, Cầu Kè nuôi tôm càng xanh, nuôi cá với các mô
hình tôm - lúa, cá - lúa rất có hiệu quả. Còn khai thác hải sản thực hiện chương
trình đánh bắt xa bờ, nhiều ngư dân đã được hỗ trợ đóng mới và nâng cấp tài
thuyền để khai thác hải sản xa bờ hạn chế đánh bắt ven bờ. Tuy nhiên phát triển
thủy sản của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế. Việc phát triển đánh bắt
xa bờ còn thiếu vốn đầu tư phương tiện đánh bắt hiện đại và đội ngũ cán bộ kỹ
thuật chưa có tay nghề cao, nguồn lợi thủy sản ven bờ ngày càng cạn kiệt đánh
bắt thủy sản chỉ có 1,6% Nuôi trồng thủy sản có phát triển song chưa đều vẫn
mang tính tự phát, chủ yếu nuôi thả ở vùng ngập mặn ven biển chưa có quy
hoạch vùng nuôi, cơ sở hạ tầng cho vùng nuôi vẫn ở mức còn thấp, hệ thống trại
sản xuất giống, hệ thống thủy lợi cấp thoát nước chưa được đủ điện, thiết bò
chuyên dụng và các dòch vụ thức ăn nuôi tôm, kỹ thuật thả nuôi chưa thống nhất
theo một qui trình nhất đònh, đã làm cho năng lực sản xuất tôm giống còn chưa
tốt, làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nuôi tôm. Chính vì thế Tỉnh cần xem
xét và hổ trợ cho người dân làm nghề đánh bắt thủy sản để phát triển thêm
ngành này với mục tiêu khai thác hợp lý nguồn tài nguyên của Tỉnh và góp phần
14,3
2,9
34,3
65,7
89,9
8,2
18,4
-
20,4
51,0
94,4
10,5
26,7
0,8
8,3
50,8
82,8
3,2
15,1
-
28,0
36,6
84,8
5,1
12,7
-
39,2
57,0
89,4
12,2
như Cầu Kè 57%, Càng Long 51%, Cầu Ngang 50,8%, Huyện Châu Thành
38,4%, Tiểu Cần 36,6%, khi đó ở hai huyện Trà Cú và Duyên Hải chiếm rất
thấp tương ứng là 16,75 và 1,3%. Trong những Huyện trên Duyên Hải chỉ có thế
mạnh là nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, còn các hoạt động khác do điều kiện tự
nhiên là vùng ven biển nước mặn nên không phù hợp với các loại hình sản xuất
khác. Trong các nơi trồng cây ăn trái, tỷ lệ cao là Huyện Cầu Kè khoảng 39,2%,
do đất phù sa được bồi đắp từ sông Hậu, rất thích hợp cho những loại cây ăn trái
như: chôm chôm, nhãn, sa bô, mận, xoài Hoa màu ở Huyện Cầu Ngang chiếm
tỷ lệ cao nhất với gần 26,7%
Qua kết quả phân tích cho thấy đa số người nông dân của Tỉnh hoạt động
trong lónh vực nông nghiệp, một thế mạnh về kinh tế đối với Tỉnh Trà Vinh nói
riêng và của cả nước nói chung. Do có chủ trương chuyển dòch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp của Tỉnh, phá thế độc canh cây lúa, bố trí lại cơ cấu cây trồng - vật
nuôi nên loại hình canh tác của Tỉnh Trà Vinh khá đa dạng. Tuy nhiên biểu hiện
của sự chuyển dòch còn chưa rõ, trồng lúa và chăn nuôi vẫn là 2 ngành chiếm vò
trí chủ lực đóng góp lớn nhất vào giá trò sản xuất của Tỉnh, còn hoa màu, cây ăn
trái và thủy sản lại chưa phát triển đồng đều. Để đẩy nhanh tốc độ chuyển dòch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp của Tỉnh
Trang
17
thì Tỉnh cần có sự đầu tư hợp lý, chỉ đạo kòp thời về hướng phát triển của các loại
hình canh tác, kết hợp hài hòa giữa nông - ngư - nghiệp sao cho phù hợp với đặc
điểm sinh thái của từng vùng.
2.2. CÁC NGUỒN ĐẦU VÀO TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước ta trong những năm gần đây là
một bộ phận đã chuyển sang sản xuất hàng hóa. Nhưng nông sản hàng hóa làm
ra chỉ mới đạt được về số lượng chứ chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng
của thò trường trong và ngoài nước. Như vậy vấn đề đặt ra là làm sao có được
những nông sản phẩm vừa chất lượng tốt vừa có năng suất cao để thỏa mãn nhu
cầu thò trường trong và ngoài nước, đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất nông
(%)
Chủng loại Phần trăm
(%)
+ Xã ấp
+ Xã Huyện
+ Nơi khác
56,0
28,2
15,8
+ Rất đầy đủ
+ Đầy đủ
+ Khá đầy đủ
+ Thiếu
24,1
58,3
13,7
3,9
Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp
Theo kết quả điều tra nghiên cứu, để có được các loại phân thuốc dùng vào
việc chăm bón cây trồng thì 56% nông hộ chỉ cần đến các cửa hàng vật tư nông
nghiệp tại xã ấp mình là sẽ mua được đầy đủ phân thuốc cần dùng. Sự lựa chọn
này chiếm tỷ lệ cao nhất là vì để thuận tiện cho việc đi lại cũng như tiết kiệm
chi phí vận chuyển và nó đã trở thành thói quen của bà con nông dân. Bên cạnh
đó có 28,2% người nông dân phải đến các cửa hàng ở chợ Huyện để mua phân
thuốc trừ sâu. Có thể họ cho rằng tại đây họ được chọn lựa nhiều mặt hàng,
chủng loại phân thuốc hơn, chất lượng hàng hóa nơi đây được đảm bảo hơn và
các chủ cửa hàng có uy tín hơn, do vậy họ sẵn sàng đánh đổi chi phí và quãng
đường xa hơn để có được sự thỏa mãn như mong đợi. Cũng có một số người mua
đầy đủ và 13,7% ý kiến chưa hài lòng hoàn toàn họ chỉ cho rằng khá đầy đủ.
Còn lại 3,8% nông hộ cho rằng các cửa hàng họ mua là còn thiếu, thậm chí thiếu
nhiều, phần này chỉ chiếm tỷ lệ không đáng kể.
Đô thò 2: Chủng loại phân thuốc
Rất đầu đủ
24%
Đầy đủ
58%
Khá đầy đủ
14%
Thiếu
3%
Thiếu nhiều
1%
Bảng 5: Sự đa dạng của chủng loại phân thuốc giữa các Huyện
Chủng loại phân
thuốc các Huyện
Thò
Xã
Càng
Long
Cầu
Ngang
Tiểu
Cần
Cầu
Kè
Châu
Thành
Trà
1,4
25,5
58,3
13,2
3,0
-
38,3
56,8
1,2
3,7
-
Tổng 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp
Trang
20
Như đã phân tích ở trên, nhìn một cách tổng quát, thì phần đông người mua
phân thuốc trừ sâu đều cho nhận xét là đầy đủ về chủng loại. Trong ý kiến về sự
đầy đủ của phân thuốc giữa các Huyện thì Huyện Cầu Ngang đồng ý ý kiến này
với tỷ lệ cao nhất gần 64%, kế đến Tiểu Cần chiếm 60,2%, thứ ba Châu Thành
58,3%, Trà Cú chiếm 56,8%, Càng Long 54,5% còn ở Thò Xã chiếm 41,9%. Về
sự thiếu hay thiếu nhiều được nhận xét bởi những người dân giữa các huyện
chiếm tỷ lệ rất thấp như Càng Long thiếu nhiều chiếm 2,3%, Cầu Ngang thiếu
phân thuốc chiếm 3,1%, khi đó Tiểu Cần 1,1%, ở Cầu Kè người dân cho rằng
chủng loại phân thuốc còn thiếu chiếm khá cao so với các huyện khác 8,2%, do
các cửa hàng ở ấp xã không có vốn lớn nên kinh doanh với qui mô nhỏ và vừa, ở
Châu Thành chiếm 3,0%, và Trà Cú thiếu chiếm 3,7%. Do đặc thù của huyện
Duyên Hải đa số nông hộ đều nuôi trồng thủy - hải sản nên không có điều tra về
lónh vực nông nghiệp.
Vậy, trong điều kiện hiện nay, người dân nói chung ở Tỉnh Trà Vinh và xét
riêng giữa các Huyện thì đa số hộ nông dân cho biết chủng loại vật tư nông
Các loại thức ăn Phần trăm
(%)
Nơi mua Phần trăm
(%)
- Tấm
- Cám
- Bột xương
- Thuốc tăng trưởng
- Thức ăn hỗn hợp
- Loại khác
32,9
70,5
13,4
22,1
63,2
12,9
- Xã ấp
- Xã Huyện
- Nhà máy xay xát
- Có sẵn ở nhà
- Mua ở xóm
- Nơi khác
45,8
37,4
7,9
22,4
8,9
10,3
Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp
Cám là một loại thức ăn thích hợp dùng trong chăn nuôi, đặc biệt là đối với
22.1
63.2
12.9
0
20
40
60
80
Phần trăm
(%)
Tấm Cám Bột
xương
Thuốc
tăng
trưởng
Thức
ăn HH
Loại
khác
Tên thức ăn
Đồ thò 3: Các loại thức ăn cho gia súc
Trang
23
bán với giá cao, thay vào đó người chăn nuôi sẽ tận dụng những loại thức sẵn có
của mình như rau, cây chuối, bèo, hay các thức ăn dư thừa. Và cũng chính vì thế
mà đã tồn tại tỷ lệ gần 13% số hộ điều tra trong khẩu phần ăn của gia súc gia
cầm sử dụng những loại thức ăn khác, trong đó có cả rau xanh cỏ tươi hay rơm
rạ, vừa để bổ sung chất dinh dưỡng và chất sơ cho vật nuôi, vừa để tiết kiệm chi
phí.
Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, các cửa hàng gia súc đã không