BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
Chương 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊNH PHÂN PHỐI VÀ
QUẢN TRỊ KÊNH
1.1.Khái niệm và vai trò của kênh phân phối
1.1.1.Định nghĩa kênh phân phối
Kênh phân phối sản phẩm là tập hợp các tổ chức và các cá nhân làm nhiệm vụ
chuyển đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng.
Kênh phân phối kết hợp tất cả các thành viên tham gia vào tiến trình phân phối
gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ, đại lý và người tiêu
dung.
1.1.2Chức năng của các kênh phân phối
Một kênh phân phối làm công việc chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất tới người tiêu
dùng. Họ lấp được khoảng cách về thời gian, không gian và quyền sở hữu giũa người
tiêu dùng với các sản phẩm (hay dịch vụ). Những thành viên của kênh phân phối thực
hiện một số chức năng chủ yếu sau:
-Thông tin :thu thập thông tin cần thiết để hoạch định marketing và tạo thuận tiện
cho sự trao đổi sản phẩm và dịch vụ.
-Cổ động: triển khai và phổ biến những thông tin có sức thuyết phục về sản phẩm
nhằm thu hút khách hàng.
-Xúc tiến: tìm ra và truyền thông đến khách hàng tương lai.
-Cân đối: Định dạng nhu cầu và phân phối sản phẩm thích ứng với nhu cầu của
khách hàng.Việc này bao gồm những hoạt động như sản xuất, xếp hàng, tập hợp và
đóng gói.
-Thương lượng: Cố gắng để đạt được sự thỏa mãn cuối cùng về giá cả và những
điều kiện khác liên quan để có thể thực hiện được việc chuyển giao quyền sở hữu hay
quyền sử dụng sản phẩm.
-Phân phối vật phẩm: Vận chuyển và tồn kho hàng hóa.
SVTT: Đoàn Minh Nhựt 1 Khoa Quản Trị Kinh Doanh
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
-Tài trợ: huy động và phân bổ nguồn vốn cần thiết để dự trữ, vận chuyển, bán hàng
và thanh toán các chi phí hoạt động của kênh phân phối.
1.1.4.2.Hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp
Nhiều nhà sản xuất không đủ khả năng tài chính để tự tổ chức phân phối sản
phẩm. Do đó, họ cần đến các trung gian phân phối, nhờ đó có thể khai thác khả năng
tài chính của họ.
1.1.4.3.Hỗ trợ các hoạt động xúc tiến của doanh nghiệp
Các nhà sản xuất và Công ty dịch vụ thường thực hiện những chiến dịch khuyến
mãi trên toàn quốc. Những nhà bán buôn hỗ trợ những hoạt động khuyến mãi trong
khu vực đến các nhà bán lẻ hoặc huấn luyện nhân viên bán hàng cho nhà bán lẻ. Hầu
hết các nhà bán lẻ thực hiện quảng cáo tại địa phương , bán hàng cá nhân và tổ chức
các sư kiện.
1.1.4.4.Hỗ trợ cung cấp dịch vụ cho khách hàng
Các dịch vụ cho khách hàng như giao hàng , hướng dẫn sử dụng, bảo trì , bảo hành
có thể được một thành viên phân phối cung cấp nhưng cũng có thể là sự phối hợp các
thành viên.
1.1.4.5.Ảnh hưởng đến các quyết định về sản phẩm
Các trung gian phân phối có thể góp phần hoạch định sản phẩm bằng nhiều cách.
Họ thường cho những lời khuyên về sản phẩm mới hoặc hiện có. Những thử nghiệm
marketing cũng cần sự hợp tác của họ. Những nhà trung gian cũng có thể tham gia
vào việc định vị sản phẩm của doanh nghiệp và đề xuất xem xét loại bỏ những sản
phẩm nào ra khỏi thị trường.
1.1.4.6.Ảnh hưởng quyết định về giá
Những nhà bán buôn và bán lẻ thường ảnh hưởng lớn đến quyết định về giá vì họ
là người tiếp xúc thường xuyên với người tiêu dùng cuối cùng, đồng thời cũng nắm rõ
giá đối thủ canh tranh , nên họ có đủ cơ sở để đề xuất việc điều chỉnh hay thay đổi giá
cho phù hợp với từng nơi của thị trường.
1.1.4.7.Cầu nối sản xuất với tiêu dung
SVTT: Đoàn Minh Nhựt 3 Khoa Quản Trị Kinh Doanh
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
Các thành viên phân phối cần hợp tác trong ba lĩnh vực chủ yếu là:vận chuyển,
quản lý dự trữ và giao dịch với khách hàng. Trung gian thực hiện dịch vụ chuyển đưa
,marketing qua điện thoại, bán hàng qua internet và các cửa hàng của người sản xuất.
Kênh cấp một (kênh phân phối gián tiếp) có một người trung gian, như người
bán lẻ.
Kênh hai cấp có hai trung gian trên thị trường hàng tiêu dùng thì đó thường là
người bán sỉ và một người bán lẻ.
Kênh ba cấp có ba người trung gian. Giữa người bán sỉ và người bán lẻ có thể
có thêm một người bán sỉ nhỏ. Ngoài ra có thể có kênh phân phối nhiều cấp hơn. Tuy
nhiên số cấp của kênh tăng lên thì việc thu nhận thông tin về những người sử dụng
cuối cùng và thực hiện việc kiểm soát các trung gian sẽ khó khăn hơn.
Sơ đồ 1:Các kênh phân phối hàng tiêu dùng
SVTT: Đoàn Minh Nhựt 5 Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Người
sản xuất
Khách
hàng
Người
sản xuất
Khách
hàng
Người
sản xuất
Khách
hàng
Người
sản xuất
Khách
hàng
Người phân phối tư
liệu sản xuất
Người
bán lẻ
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
Sơ đồ 2:Các kênh phân phối tư liệu sản xuất.
Trong các kênh phân phối tư liệu sản xuất, người sản xuất có thể sử dụng lực
lượng bán hàng của mình để bán hàng trực tiếp cho khách hàng mua tư liệu sản xuất
để sản xuất sản phẩm. Họ cũng có thể bán hàng cho những người phân phối tư liệu
sản xuất để những người này bán lại cho khách hàng sản xuất hay bán qua những
người đại diện, và qua các chi nhánh tiêu thụ của mình trực tiếp cho khách hàng sản
xuất. Những kênh phân phối không cấp, một cấp và hai cấp rất phổ biến trên thị
trường tư liệu sản xuất. Những người cung cấp ứng dịch vụ và ý tưởng cũng cần phải
đảm bảo việc đưa hàng của mình đến với các khách hàng mục tiêu của mình.
Ví dụ các bệnh viện phải được phân bố về mặt địa lí sao cho có thể đảm bảo chăm sóc
y tế đầy đủ cho nhân dân, và trường học phải được xây dựng gần nơi cư trú của trẻ
em cần đi học. Các đội cứu hỏa phải được bố trí làm sao để có thể nhanh chóng đến
được nơi có thể xảy ra hỏa hoạn hay những điểm bầu cử phải được bố trí làm
sao cho dân chúng thuận lợi trong việc bỏ phiếu mà không mất quá nhiều thời gian
v.v…
1.2.1 Phương thức tiêu thụ :là yếu tố cần thiết giúp cho doanh nghiệp mở rộng thị
trường, tùy từng loại mặt hàng, khối lượng mà ta chọn các cách tiêu thụ khác nhau,
căn cứ vào quá trình vận động hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng, người
ta chia phương thức phân phối-tiêu thụ thành:
SVTT: Đoàn Minh Nhựt 6 Khoa Quản Trị Kinh Doanh
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
- Phương thức tiêu thụ trực tiếp: Là phương thức nhà sản xuất trực tiếp bán
sản phẩm của mình cho người tiêu dùng bằng cách mở cửa hàng bán, tiêu thụ sản
phẩm. Với hàng xuất khẩu, nếu được phép doanh nghiệp giao thẳng cho các tổ chức,
đại lý, người xuất khẩu. Phương thức này thường được sử dụng cho sản phẩm đơn,
giá trị cao, chu kỳ sản xuất dài hoặc sản xuất có tính chất phức tạp, khi sử dụng phạm
vi tập trung hẹp, có ưu điểm là doanh nghiệp trực tiếp quan hệ với người tiêu dùng và
đơn qua ngân hàng hoặc các cơ sở tài chính khác cho những người phân phối, những
người phân phối thanh toán cho người sản xuất, người sản xuất thanh toán cho các
nhà cung ứng.
-Lưu chuyển thông tin (information flow) là quá trình các bộ phận trong kênh phân
phối trao đổi thông tin với nhau ở các gian đoạn của tiến trình đưa sản phẩm và dịch
vụ từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.
-Lưu chuyển cổ động (promotion flow) là những dòng ảnh hưởng có định hướng
(quảng cáo , bán hàng cá nhân, khuyến mãi, tuyên truyền) từ bộ phận này đến bộ phận
khác trong kênh phân phối.
1.2.3 Tổ chức và hoạt động của kênh phân phối.
Những kênh phân phối không chỉ là sự tâp hợp thụ động các cá nhân và tổ chức có
liên quan với nhau bằng những lưu chuyển khác nhau, mà chúng là những hệ thống
hoạt động phức tạp, trong đó những cá nhân và tổ chức tác động lẫn nhau để hoàn
thành mục tiêu riêng của mình. Một số hệ thống kênh phân phối chỉ có những quan hệ
tác động không chính thức giữa các cơ sở kinh doanh kết nối với nhau một cách
lỏng lẻo, hệ thống kênh phân phối khác thì lại có những quan hệ chính thức giữa các
tổ chức được chuyên hóa rất cao. Và hệ thống kênh phân phối cũng không cố định:
những cơ sở, bộ phận mới xuất hiện và cả những hệ thống kênh phân phối mới hình
thành theo.
SVTT: Đoàn Minh Nhựt 8 Khoa Quản Trị Kinh Doanh
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
1.2.3.1 Tổ chức kênh phân phối.
1.2.3.1.1 Kênh marketing truyền thống
Một kênh marketing truyền thống bao gồm nhà sản xuất, nhà bán sỉ và nhà bán lẻ độc
lập, trong đó mỗi người là thực thể kinh doanh riêng biệt luôn tìm cách tăng tối đa lợi
nhuận của mình, cho dù có làm giảm lợi nhận của cả hệ thống. Không có thành viên
nào của kênh phân phối có quyền kiểm soát hoàn toàn hay đáng kể đối với các thành
viên khác. Những kênh marketing truyền thống đó thiếu sự lãnh đạo mạnh, có đặc
điểm là hoạt động kém hiệu quả và có nhiều mâu thuẫn phức tạp.
. Sơ đồ 3: Kênh marketing truyền thống
Sơ đồ 4: Hệ thống marketing dọc
1.2.4 Hoạt động của kênh phân phối.
Một số kênh phân phối là sự liên kết các cơ sở khác nhau lại vì lợi ích chung,
mỗi thành viên trong kênh đều dựa vào các thành viên khác. Mỗi thành viên trong
kênh giữ một vai trò riêng và chuyên thực hiện một hay nhiều chức năng. Vì sự thành
công của mỗi thành viên tùy thuộc vào thành công chung của cả kênh, nên mọi tổ
chức trong đều phải hiểu và chấp thuận phần việc riêng của mình, phối hợp mục tiêu
và hoạt động của thành viên khác, và phối hợp để hoàn thành mục tiêu của cả kênh,
bằng sự hợp tác, họ có thể nắm bắt nhu cầu, cung ứng và thỏa mãn thị trường mục
tiêu tốt hơn.
Nhưng mỗi thành viên thường không có cái nhìn toàn cục như thế. Kênh phân
phối dù được thiết kế và quản trị tốt đến đâu thì vẫn có một số mâu thuẫn vì quyền lợi
của các thành viên trong kênh. Họ thường quan tâm nhiều hơn tới những mục tiêu
ngắn hạn của mình và những giao dịch với thành viên kế cận trong kênh phân phối.
Việc hợp tác để đạt được những mục tiêu chung của kênh đôi khi lại có nghĩa là từ bỏ
những mục tiêu cá nhân. Họ thường không đồng ý về vai trò mỗi thành viên phải làm
những bất đồng về vai trò và mục tiêu như thế làm nảy sinh những mâu thuẫn trong
kênh.
• Các loại mâu thuẫn trong kênh phân phối
Mâu thuẫn chiều dọc tồn tại khi có mâu thuẫn giữa các cấp khác nhau trong
kênh phân phối.
Mâu thuẫn chiều ngang là những mâu thuẫn nảy sinh giữa các thành viên cùng
cấp của kênh phân phối.Trong những trường hợp như thế này thì người phụ trách
SVTT: Đoàn Minh Nhựt 10 Khoa Quản Trị Kinh Doanh
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
kênh phân phối phải xây dựng những chính sách rõ ràng có tính khả thi và áp dụng
ngay những biện pháp khẩn cấp để kiểm soát và giải quyết mâu thuẫn.
Mâu thuẫn đa kênh thường xảy ra khi người sản xuất thiết lập hai hay nhiều
kênh cạnh tranh với nhau trong việc bán hàng trên cùng một thị trường. Mâu thuẫn đa
kênh có thể trở nên gay gắt hơn khi các thành viên của kênh phân phối hoặc là hưởng
tranh khác có hiệu quả hơn, có những quy định pháp lí bất lợi hơn cho việc phân phối
sản phẩm, hay mong muốn của người tiêu dùng đã thay đổi.
Một cách khác nữa để xử lí mâu thuẫn là tiến hành việc trao đổi người giữa hai
hay nhiều cấp của kênh phân phối, tức là người của một cấp này(người sản xuất) có
thể làm việc ở một cấp khác(đại lí độc quyền) hay ngược lại. Như vậy họ có thể hiểu
và thông cảm với quan điểm của nhau hơn trong công việc hợp tác.
Khi mâu thuẫn đã trở nên nghiêm trọng thì các thành viên của kênh phân phối có thể
phải sử dụng biện pháp ngoại giao, trung gian hòa giải hay trọng tài phân xử. Biện
pháp ngoại giao có nghĩa là các bên thành viên cử ra một nhóm người để gặp gỡ đại
diện của phía bên kia để cùng nhau thương lượng nhằm tìm ra giải pháp cho vấn đề
mà hai bên quan tâm. Trung gian hòa giải là sử dụng một bên thứ ba trung lập đứng ra
hòa giải quyền lợi của hai bên đồng ý trình bày những luận điểm của mình cho một
bên thứ ba(một hay nhiều trọng tài viên )chấp nhận quyết định phân xử của trọng tài.
Cuối cùng để toàn bộ kênh phân phối hoạt động tốt, cần chuyên môn hóa vai trò của
từng thành viên và các xung đột phải được điều giải một cách hiệu quả. Sự hợp tác,
chuyên môn hóa vai trò và điều giải xung đột trong kênh phân phối chỉ thực hiện
được nếu doanh nghiệp có một cấp lãnh đạo vững mạnh, kênh phân phối sẽ hoạt động
tốt hơn nếu có một bộ máy điều hành có quyền lực phân chia lực lượng hợp lí trong
kênh, có quyền phân công nhiệm vụ và giải quyết mâu thuẫn.
SVTT: Đoàn Minh Nhựt 12 Khoa Quản Trị Kinh Doanh
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
1.3 Lựa chọn và quản trị kênh phân phối.
1.3.1 Lựa chọn kênh phân phối
1.3.1.1 Căn cứ để lựa chọn kênh phân phối
Lựa chọn kênh phân phối là quá trình phân tích đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến
việc lựa chọn kênh và trung gian thích hợp để tiêu thụ sản phẩm. Đây là một trong
những quyết định marketing quan trọng ảnh hưởng đến doanh số, chi phí và thị phần.
1.3.1.2 Căn cứ vào các mục tiêu phân phối
-Chiếm lĩnh thị trường: để sản phẩm cụ thể bao quát được thị trường mục tiêu, các
doanh nghiệp có thể lựa chọn kênh phân phối dài với hệ thống các cửa hàng có qui
sản phẩm mà những yêu cầu khi lựa chọn kênh và trung gian phân phối sẽ khác nhau.
1.3.1.5 Căn cứ vào đặc điểm của trung gian
Năng lực của các trung gian: thể hiện qua khả năng tiêu thụ sản phẩm , uy tín
trên thị trường, trình độ của đội ngũ bán hàng, hệ thống cửa hàng, vốn, khả năng
thanh toán , vị trí kinh doanh , khả năng cung cấp dịch vụ…doanh nghiệp tùy theo
năng lực của mỗi trung gian sẽ giao các nhiệm vụ phân phối khác nhau.
Ý muốn của các trung gian: trung gian có thể không muốn nhận phân phối sản
phẩm cho Công ty mặc dù họ có khả năng bởi vì có thể họ đã phân phối sản phẩm
khác.
Chính sách kinh doanh: quan điểm và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
có không thống nhất với các trung gian phân phối cho nên trong quá trình lựa chọn
các
doanh nghiệp cần phải xem xét chính sách kinh doanh của họ có mâu thuẫn với mình
hay không.
1.3.1.6 Căn cứ vào năng lực của doanh nghiệp
Ngoài những căn cứ trên khi lựa chọn kênh phân phối doanh nghiệp phải đánh
giá năng lực của mình.
SVTT: Đoàn Minh Nhựt 14 Khoa Quản Trị Kinh Doanh
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
Năng lực và kinh nghiệm quản lý: nếu có đủ năng lực và kinh nghiệm quản lý,
doanh nghiệp có thể trực tiếp điều hành hệ thống phân phối với nhiều kênh, nhiều
trung gian.
Khả năng tài chính: nếu doanh nghiệp có nguồn tài chính mạnh thì có thể tự
đảm nhận và điều hành việc phân phối qua hệ thống các cửa hàng của mình.
Danh tiếng và uy tín của doanh nghiệp: những donh nghiệp nối tiếng lâu năm,
có uy tín trên thị trường dễ lựa chọn trung gian phân phối hơn các công ty khác.
1.3.1.7 Căn cứ vào ý muốn cạnh tranh của doanh nghiệp
Những quyết định thiết kế kênh phân phối của doanh nghiệp cũng chịu tác động bởi ý
muốn cạnh tranh của họ. Có nhiều doanh nghiệp thích xây dựng hệ thống cửa hàng
tập trung tại các trung tâm lớn và ngược lại cũng có doanh nghiệp xây dựng hệ thống
số liệu tiêu thụ nếu không được khuyến khích, mà những thông tin này thì rất cần
thiết để người sản xuất phát triển sản phẩm, định giá, cải tiến bao bì hay xây dựng
chương trình cổ động.
Trên thực tế, những người sản xuất không xử lý các quan hệ với các trung gian giống
như nhau. Thường có ba kiểu quan hệ đối với các trung gian dựa trên cơ sở hợp tác,
cộng tác và lập kế hoạch phân phối.Một số chương trình mà các nhà sản xuất có thể
áp dụng đẻ khuyến khích trực tiếp các thành viên của mình:
Trợ cấp quảng cáo
Chi phí cho sản phẩm trưng bày
Thi tuyển chọn người bán
Trợ cấp cho caác bộ phận chức năng, kho bãi
Thanh toán phí cho khoảng không gian trưng bày
Cử người diễn thuyết , giới thiệu sản phẩm
Biếu, tặng hàng hóa
Ấn định mức doanh thu bán hàng đảm bảo
Nghiên cứu địa điểm
SVTT: Đoàn Minh Nhựt 16 Khoa Quản Trị Kinh Doanh
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
Phần thưởng cho khách hàng
Viết nhãn hàng hóa
Hệ thống đặt hàng tự động
Chi phí vận chuyển tới người bán buôn, bán lẻ
Ưu tiên cho việc tự do quản lý trả hàng
Đóng góp vào các công việc từ thiện
Đóng góp vào những dịp kỷ niệm đặc biệt
Phần quà cho người mua khi đi xem trưng bày
Đào tạo nhân viên cửa hàng
Thanh toán một số chi phí đồ đạc cố định trong cửa hàng
Thanh toán chi phí cửa hàng mới hoặc sửa sang
Thay đổi hình thức cho hoạt động xúc tiến
Thủ Tướng Chính Phủ về việc” chuyển Công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ tổng hợp
Tân Trụ về làm thành viên của Tổng công ty thuốc lá Việt Nam”,căn cứ theo quyết
định số 22/TLVN-QD-TC ngày 10/11/2000 của Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Tổng
Công Ty Thuốc Lá Việt Nam về việc” đổi tên Công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ
tổng hợp Tân Trụ thành Nhà máy Thuốc lá Long An” và điều chỉnh nghành nghề kinh
doanh của Nhà máy là: Sản xuất và kinh doanh thuốc lá điếu.
Ngày 08/12/2005 Thủ Tướng Chính Phủ có quyết định số 324/2005/QD-TTg về
việc chuyển Nhà máy Thuốc lá Long An thuộc Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam
thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thuốc lá Long An.
Công ty Thuốc lá Long An là một tổ chức sản xuất và kinh doanh Thuốc lá
điếu,có đủ tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, có con dấu riêng, có tài khoản riêng
để giao dịch sản xuất kinh doanh.
SVTT: Đoàn Minh Nhựt 18 Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Phòng
thị
trường
Xưởng
vấn
bao
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
Chức năng chính của Công ty là sản xuất và kinh doanh thuốc lá điếu nội tiêu, chủ
yếu phục vụ tầng lớp lao động bình dân có thu nhập trung bình và thấp.
Căn cứ vào kế hoạch hàng năm do Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam giao, Công ty
luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao về sản lượng, nộp ngân sách, lợi nhuận và
đảm bảo việc làm ổn định cho người lao động. Công ty luôn quan tâm chăm lo đời
sống vật chất và tinh thần cho CB-CNV tạo cho họ sự an tâm khi công tác cho Công
ty.
Tên gọi: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thuốc lá Long An.
Tên giao dịch: Công ty Thuốc lá Long An.
Tên giao dịch quốc tế: Long An COMPANY LIMITED.
KHVT
Xưởng
vấn
bao
Xưởng
sợi
Giám Đốc
Chủ tịch
Công ty
PHÓ GIÁM ĐỐC 1 PHÓ GIÁM ĐỐC 2 2
Phòng
KT-CĐ
Phòng
tổ chức
HC
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
đốc quản lý theo chế độ thủ trưởng, phân công , giao nhiệm vụ cho các phó giám đốc
thực hiện.
Phó Giám Đốc: có nhiệm vụ giúp cho giám đốc quản lý, điều hành thực hiện các
nhiệm vụ do giám đốc phân công hoặc ủy quyền một số công tác cụ thể và chịu trách
nhiệm trước pháp luật, trước giám đốc về các nhiệm vụ được phân công hay ủy quyền
đó.
Phòng tổ chức hành chính: Là phòng chức năng chịu trách nhiệm về các vấn đề nhân
sự và hành chính, tham mưu cho Giám đốc trong việc điều hành hoạt động của công
tác nội bộ toàn Công ty.
+ Quản lý về số lượng, chất lượng, lý lịch. Tổ chức sắp xếp lao động một cách khoa
học, tổ chức đào tạo, thi nâng cấp bậc, tuyển dụng cán bộ công nhân viên phục vụ cho
lao động, đề xuất khen thưởng, kỷ luật, đề bạt, bổ nhiệm, nâng lương.
+ Xây dựng bổ sung mức lao động, kế hoạch tiền lương, hình thức trả lương và tiền
thưởng, qui hoạch, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ kế thừa các cấp, thực hiện
sản phẩm; kế toán thuế, tem Thuốc lá. Mỗi kế toán có quyền hạn chức vụ và trách
nhiệm khác nhau nhưng tất cả đều chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Công ty.
+ Quan hệ với phòng chức năng của Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam như phòng Tài
chính-Kế toán và các phòng khác có liên quan đến nghiệp vụ chuyên môn, quan hệ
chặt chẽ với các phòng chuyên môn, các xưởng sản xuất của công ty để thực hiện các
nhiệm vụ có liên quan.
Phòng kế hoạch-vật tư: là phòng nghiệp vụ làm công tác tham mưu cho lãnh đạo
Công ty thực hiện hoàn thành kế hoạch sản xuất, cung ứng đầy đủ nguyên liệu vật tư
SVTT: Đoàn Minh Nhựt 22 Khoa Quản Trị Kinh Doanh
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
phục vụ kế hoạch sản xuất, sửa chữa thường xuyên, xây dựng và điều hành kế hoạch
sản xuất, và lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản.
+ Lập công tác kế hoạch sản xuất: xây dựng kế hoạch sản xuất hàng năm, quí, tháng,
theo dõi và điều hành việc thực hiện kế hoạch đã giao cho xưởng sản xuất, công tác
kế hoạch và cung ứng nguyên phụ liệu, vật tư cho kế hoạch sản xuất; dự thảo các hợp
đồng thu mua nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, in ấn bao bì, tổ chức mua sắm cung ứng
kịp thời cho sản xuất, đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý, sản xuất kinh doanh có hiệu
quả.
+ Báo cáo thống kê, lập hóa đơn bán hàng.
+ Tham mưu cho Giám đốc các công tác liên quan đến việc xây dựng, sửa chữa, bảo
trì hệ thống nhà xưởng, kho tàng và các vật kiến trúc khác của Công ty theo đúng
trình tự và điều lệ quản lý xây dựng cơ bản hiện hành của Nhà nước, xây dựng kế
hoạch mua bảo hiểm đối với cơ sở vật chất và hàng hóa.
Đề xuất giám đốc thuê tư vấn( hoặc tự làm) lập ác dự án đầu tư và triển khai thực
hiện; Tham gia ban quản lý công trình của Công ty theo dõi, giám sát các công trình
xây dựng do đơn vị thi công thực hiện.
Quản lý đội bốc xếp Công ty theo đúng qui định của Công ty.
+ Đối với các kho: sắp xếp hàng hóa có tính khoa học thực hiện theo Iso, nhập trước
xuất trước( đối với thành phẩm) tiếp nhận, bốc dỡ, bảo quản nguyên, phụ liệu, vật tư,
phụ tùng máy do các đơn vị ngoài Công ty giao, cấp phát kịp thời, đúng qui định đáp
đồng tiêu thụ; Quản lý, kiểm tra, kiểm soát hàng tồn kho tại các đại lý cấp; xây dựng
và phát triển hình ảnh văn hóa bán hàng của Công ty; công tác thu hồi sản phẩm trên
thị trường; Quản lý, theo dỏi hợp đồng vận chuyển Thuốc lá bao( nếu có) với các đại lý,
doanh nghiệp.
Mối quan hệ làm việc:
SVTT: Đoàn Minh Nhựt 24 Khoa Quản Trị Kinh Doanh
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Ths.Trần Thanh Tùng
Đối với Chủ tịch, Ban Giám đốc tuyệt đối tôn trọng, phục tùng và trung thực. Ngoài
chức năng thị trường còn là phòng tham mưu cho Ban giám đốc trong việc quản lý bộ
phận thị trường trong Công ty, do đó mỗi CB-CNV thuộc phòng phải chịu sự quản lý
và chỉ đạo trực tiếp từ Ban Giám đốc; tham mưu đề xuất các chính sách thị trường có
hiệu quả, nhanh chóng theo tình hình diển biến trên thị trường; dự đoán, dự báo chính
xác tình hình thị trường, xác định rõ các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp có tiềm năng,
tiềm lực,…để có chính sách phù hợp.
Tuyệt đối giữ bí mật về các thông tin thị trường của Công ty.
- Đối với từng bộ phận cần có sự hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực tiêu thụ- thị
trường, hướng dẫn các bộ phận thực hiện tốt các quy trình, nghiệp vụ thị trường
theo đúng qui định của Công ty và Pháp luật Nhà nước.
- Đối với các phòng chức năng phải có mối liên hệ chặt chẽ với Phòng Tài chính
Kế toán về mặt tài chính, thu hồi công nợ, hợp đồng tiêu thụ, các hợp đồng liên
quan và các chính sách thị trường…Phòng Kế hoạch Vật tư về giá cả, tiêu thụ sản
phẩm, vận chuyển hàng hóa…Phòng Tổ chức Hành chính về mặt nhân sự, các
chính sách BHXH, Y tế … Phòng Kỹ thuật công nghệ sản phẩm mới, chất lượng
sản phẩm Xưởng sản xuất về chất lượng sản phẩm, mẫu mã bao bì,…
- Đối với Tổng Công ty, cụ thể Phòng Thị trường hợp tác quan hệ trao đổi thông
tin thị trường trên cơ sở bình đẳng; Báo cáo thông tin thị trường theo mẫu qui định
của Tổng Công ty.
- Đối với khách hàng, từng bộ phận thị trường tuyệt đối tạo mối quan hệ, xây
dựng hình ảnh Công ty tốt đẹp trong lòng các khách hàng từng cấp; Quá trình tiếp
xúc, thực hiện hợp đồng với khách hàng cần tôn trọng, không gây khó khăn cho