Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Mạnh Thiều
Lời mở đầu
Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành viên của tổ chức Thương
mại thế giới WTO, điều này đặt ra những thách thức mới cho Việt Nam trong qua
trình hội nhập, nhưng nó cũng mở ra những cơ hội phát triển kinh tế trong tương lai.
Sau 2 năm gia nhập WTO, mặc dù nền kinh tế thế giới bị ảnh hưởng xấu bởi cuộc
khủng hoảng tài chính của Hoa Kỳ năm 2007 và bùng phát mạnh năm 2008 nhưng
nền kinh tế nước ta vẫn có nhưng nền kinh tế nước ta vẫn có những bước phát triển
đáng chú ý. Cụ thể như: GDP tăng trong những năm qua có mức tăng khá cao và
đặc biệt, năm 2009 GDP tăng 5,2%, mức tăng cao nhất khu vực Đông Nam Á. Các
chỉ tiêu kinh tế xã hội, các lĩnh vực hoạt động sản xuất đều có mức tăng đáng kể.
Trong đó phải kể đến ngành xây dựng cơ bản, đây là ngành tạo ra cơ sở vật chất kỹ
thuật cho nền kinh tế quốc dân và là ngành đóng góp đáng kể vào GDP nước ta
trong những năm qua.
Ngành xây dựng có nhiều đặc điểm khác so với các ngành khác như: sản
phẩm của ngành xây dựng thường có giá trị rất lớn, đối tượng tập hợp chi phí thay
đổi theo từng công trình, chi phí đầu vào thường nhiều chủng loại có giá trị lớn và
rất khó kiểm soát, có nhiều loai chi phí có sự biến động lớn trong thời gian ngắn ví
dụ như sắt, thép, xi măng… Chính vì thế, việc quản lý chi phí là một vấn đề trọng
tâm của các công trình xây dựng và của toàn xã hội. Đối với DN, quản lý chi phí
đòi hỏi Doanh nghiệp nắm rõ những loại chi phí phải bỏ ra trong quá trình xây
dựng, bản chất từng loại chi phí và sự biến động của từng loại vật tư để tìm cách
giảm chi phí tới mức thấp nhất. Đối với nhà nước, kế toán về chi phí giá thành giúp
nhà nước quản lý tốt hơn vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản và quản lý về thu thuế đối
với DN xây dựng.
Qua quá trình thực tập tại Công ty CP Hà Đô 2, em chọn đề tài nghiên cứu
là:” Thực trạng về kế toán quản trị chi phí, doanh thu, lợi nhuận tại công ty cổ
phần Hà Đô 2 và các giải pháp hoàn thiện”. Mục đích của đề tài là vận dụng lý
thuyết về chi phí, doanh thu, lợi nhuận và quản tri chi phí vào nghiên cứu thực tế tại
công ty CP Hà Đô 2, qua đó nêu lên nhận xét về thực tế quản lý chi phí của công ty
và đề xuất ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán tại công ty.
phí từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc sản phẩm; Phân tích đánh giá
tình hình thực hiện kê shoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật
tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa giữa chi phí với khối lượng và lợi
nhuận; lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định dầu tư ngắn hạn và dài hạn;
Lập dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh, v.v. Nhằm phục vụ cho việc điều
hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế.
Nội dung của kế toán quản trị:
+ Lập dự toán chi phí SXKD;
+ Xác định giá phí đơn vị sản phẩm;
+ Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chi phí bộ phận theo từng trung tâm chi
phí;
+ Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận;
+ Phân tích thông tin chi phí để lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định
kinh doanh.
SV: Mai Đình Đình 3 Lớp KK44/21.17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Mạnh Thiều
Kế toán quản trị nhấn mạnh đến việc quản trị chi phí trong doanh nghiệp
nhằm mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận.Thực chất kế toán quản trị chi phí được tách ra
từ kế toán chi phí, giai đoạn đầu của kế toán quản trị được hình thành từ kế toán chi
phí giúp cho việc xác định và kiểm tra chi phí của các nhà quản trị. Song kế toán chi
phí cung cấp cả thông tin kế toán tài chính và KTQT vì đối tượng sử dụng thông tin
kế toán chi phí bao gồm các cá nhân, tổ chức bên ngoài và các nhà quản trị bên
trong doanh nghiệp. Điều đó khẳng định về mặt đối tượng sử dụng thông tin kế toán
chi phí nói chung rộng hơn đối tượng sử dụng thông tin KTQT chi phí. Về mặt nội
dung kế toán chi phí bao gồm hai bước cơ bản:
+ Tập hợp chi phí, tính giá thành, phân tích chênh lệch chi phí trong kỳ để cung cấp
thông tin KTQT và thông tin cho việc lập các báo cáo tài chính;
+ Cân đối chi phí, xử lý điều chỉnh chênh lệch chi phí và giá thành sản phẩm trong
kỳ về chi phí thực tế.
Như vậy, kế toán quản trị chi phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. thông tin trong kế toán tài chính là thông tin
hiện tại ví dụ như về tình hình tài sản, vốn kinh doanh của doanh nghiệp, còn thông
tin kế toán quản trị cung cấp thường là thông tin của hiện tại, quá khứ và định
hướng trong tương lai. Tuy nhiên kế toán tài chính và kế toán quản trị cũng có
nhiều điểm tương đồng. Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều đề cập đến các sự
kiện kinh tế trong doanh nghiệp và đều quan tâm đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn
sở hữu, doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, quá trình lưu
chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. Một bên phản ánh tổng quát và một bên phản ánh
chi tiết, tỉ mỉ của các vấn đề đó.
Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu
của kế toán. Hệ thống ghi chép ban đầu là cơ sở để kế toán tài chính soạn thảo các
báo cáo tài chính định kỳ, cung cấp cho các đối tượng ở bên ngoài. Đối với kế toán
quản trị, hệ thống đó cũng là cơ sở để vận dụng, xử lý nhằm tạo ra các thông tin
SV: Mai Đình Đình 5 Lớp KK44/21.17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Mạnh Thiều
thích hợp cho việc ra quyết định của các nhà quản trị. Kế toán quản trị sử dụng rộng
rãi các ghi chép hàng ngày của kế toán tài chính, mặc dù có khai triển và tăng thêm
số liệu cũng như nội dung của các thông tin.
1.1.2 Bản chất của ngành xây lắp ảnh hưởng đến tổ chức công tác quản trị chi
phí, doanh thu, lợi nhuận trong doanh nghiệp
Ngành xây lắp là ngành tạo cơ sở hạ tầng cho toàn bộ nền kinh tế, tạo tiền đề
cho nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Đây là ngành có nhiều điểm khác biệt về cách thức sản xuất
cũng như phương thức quản lý so với các doanh nghiệp khác:
Sản phẩm của ngành xây lắp là những công trình, hạng mục công trình, vật
kiến trúc,… có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian thi công dài, giá trị công
trình lớn,… Do việc tổ chức quản lý và hạch toán nhất thiết phải có dự toán thi
công, nên chi phí phải được quản lý theo chi phí đã dự toán và theo hạn mức chi
phí do nhà nước quy định.
Sản phẩm của ngành xây lắp thì cố định tại nơi sản xuất còn các tổ đội sản
- Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phải được đo lường bằng thước đo
tiền tệ và được xác định trong một khoảng thời gian xác định.
Nói tóm lại, trên góc độ kế toán tài chính, chi phí sản xuất được nhìn nhận
như những khoản phí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động sản xuất của doanh
nghiệp, được kế toán ghi nhận trên cơ sở chứng từ, tài liệu, bằng chứng chứng minh
việc phát sinh của chúng. Còn trên góc độ kế toán quản trị, chi phí sản xuất không
đơn thuần được nhận thức như vậy, mà nó còn được nhận thức theo cả khía cạnh
thông tin để phục vụ cho việc so sánh, lựa chọn phương án tối ưu trong từng tình
huống ra quyết định kinh doanh cụ thể, mà ít chú ý hơn vào chứng minh chi phí sản
xuất phát sinh bằng các chứng từ kế toán.
1.1.3.2 Phân loại chi phí ngành xây dựng
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp gồm nhiều loại với tính chất kinh tế khác
nhau, mục đích, công dụng và yêu cầu tổ chức khác nhau, do đó để thuận tiện cho
việc ra quyết định sản xuất và quản lý chi phí, chúng ta cần có những cách phân loại
phù hợp.
Để quản lý chi phí trong DN, kế toán quản trị có các cách phân loại sau:
SV: Mai Đình Đình 7 Lớp KK44/21.17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Mạnh Thiều
Phân loại CPSX theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên Báo
cao tài chính:
Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản
phẩm hay quá trình mua hàng hóa để bán
Chi phí thời kỳ: là những chi phí không liên quan đến hoạt động kinh
doanh của cả kỳ, các chi phí này không tạo nên giá trị của hàng tồn kho mà chúng
ảnh hưởng mà chúng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh trong kỳ chúng
phát sinh.
Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp của chi phí với các đối tượng kế
toán chi phí:
Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan đến một đối tượng chịu
chi phí ( một loại sản phẩm, một công nghệ, giai đoạn công nghệ. 1 phân xưởng sản
Chi phí chênh lêch: là những chi phí chỉ có ở phương án này nhưng
không có hoặc chỉ có 1 phần ở phương án khác. Đây là một trong những căn cứ cơ
bản để lựa chọn phương án tối ưu.
Chi phí cơ hội: là những chi phí bị mất đi khi lựa chọn phương án này
mà không lựa chọn phương án khác
Chi phí chìm: là những chi phí đã bỏ ra trong quá khứ mà DN sẽ phải
gánh chịu bất kể lựa chọn phương án nào.
Đối với các nhà quản trị cấp cao trong doanh nghiệp, chi phí cơ hội và chi phí
chìm thường là yếu tố chi phí cơ bản để xem xét có thực hiện dự án kinh doanh hay
không, trên cơ sở tính toán mức chi phí định mức và dự toán chi phí cho từng công
trình, nhà quản trị sẽ quyết định thực hiện dự án có chi phí cơ hội thấp nhất. Đối với
các nhà quản trị chi phí cấp dưới, việc thực hiện quản trị chi phí thường nhằm mục
đích theo dõi lượng chi phí phát sinh trong kỳ so với lượng chi phí dự toán, chi phí
định mức để có quyết định điều chỉnh chi phí kịp thời.
Như vậy kế toán quản trị phân chia chi phí trong doanh nghiệp nhằm phục vụ
mục đích sử dụng thông tin của nhà quản trị, tức là tách riêng các chi phí mà chúng
sẽ biến động ở mức hoạt động khác nhau hoặc sắp xếp theo nhu cầu của một số nhà
quản trị cá biệt có trách nhiệm về chi phí đó và có thể kiểm soát chúng. Để quản ký
chi phí có hiệu quả, kế toan quản trị sử dụng thông tin của kế toán tài chính theo các
khoản mục sau:
SV: Mai Đình Đình 9 Lớp KK44/21.17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Mạnh Thiều
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : là toàn bộ các chi phí nguyên vật liệu chính
(xi măng, sắt, thép ) vật liệu phụ (đinh, que hàn ) và vật liệu khác được sử dụng
trực tiếp để tạo nên thực thể công trình.
- Chi phí nhân công trực tiếp : Là các khoản chi phí phải trả cho công nhân trực
tiếp tham gia xây dựng bao gồm tiền lương và các khoản phụ cấp mang tính chất
tiền lương.
- Chi phí máy thi công: Là các khoản chi phí mà đơn vị xây lắp bỏ ra có liên
quan trực tiếp đến việc sử dụng máy thi công phục vụ cho xây dựng, lắp đặt các
xây lắp. Giá thành dự toán được lập trước khi tiến hành xây lắp trên cơ sở các định
mức thiết kế được duyệt và khung giá quy định đơn giá chi phí do nhà nước quy
định(đơn giá bình quân khu vực thống nhất).
Giá trị dự toán công
trình, hạng mục
công trình
=
Giá thành dự toán
công trình, hạng
mục công trình
+
Thu nhập
chịu thuế
tính trước
+
Thuế
GTGT
đầu ra
Giá thành kế hoạch: là chỉ tiêu được xây dựng trước khi tiến hành thi công
công trình trên cơ sở giá thành dự toán, điều kiện, khả năng, năng lực thi công của
doanh nghiệp và mức phấn đấu hạ giá thành. Với doanh nghiệp không có giá dự
toán thì giá thành kế hoạch được xác định trên giá thành thực tế năm trước và các
định mức kỹ thuật của doanh nghiệp.
Giá thành thực tế: là toàn bộ các chi phí thực tế đã phát sinh tập hợp được
trong kỳ sau khi hoàn thành công tác xây dựng bao gồm các phí tổn trong định mức,
ngoài định mức.
Thông thường, giá thành dự toán thấp hơn giá thành định mức nhằm thực hiện mục
tiêu tiết kiệm chi phí. Trong quá trình thi công, chi phí xây dựng phải thường xuyên
được kiểm tra theo dự toán và theo định mức quy định để quản lý lượng vật tư nhâp
xuất nhằm giảm chi phí xử dụng vốn trong DN. Vì thời gian thi công dài nên để
trước hay kỳ sau trong toàn bộ quá trình sản xuất.
SV: Mai Đình Đình 12 Lớp KK44/21.17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Mạnh Thiều
Giá thành
=
CPSX dở
+
CPSX phát
-
CPSX dở
sản xuất dang đầu kỳ sinh trong kỳ dang cuối kỳ
Hơn nữa, giá thành sản phẩm mang tính chất chủ quan, việc giới hạn chi phí tính
vào giá thành sản phẩm gồm những chi phí nào còn tùy thuộc vào quan điểm tính
toán xác định chi phí, doanh thu và kết quả cũng như quy định của chế độ quản lý
kinh tế tài chính, chế độ kế toán hiện hành
1.2 Nội dung phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong DN xây lắp.
1.2.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất:
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp
chi phí sản xuất theo các phạm vi giới hạn đó.
Phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí trong doanh nghiệp sản xuất có thể là:
Nơi phát sinh chi phí: công trường, đội thi công hay từng xí nghiệp. các
chi phí phát sinh được tập hợp theo từng đơn vị thi công, trong từng đơn vị đó lại
tập hợp chi phí theo từng hạng mục công trình,… Cuối tháng tổng hợp chi phí phát
sinh ở từng đơn vị so sánh với dự toán đơn vị được cấp phát để xác định hạch toán
kinh tế nội bộ. Khi công trình, hạng mục công trình đó hoàn thành phải tính giá
thành riêng cho từng hạng mục bằng phương pháp tổng hợp chi phí trực tiếp.
Nơi chịu chi phí: Công trình hay hạng mục công trình: hàng tháng, chi
phí phát sinh liên quan đến hạng mục công trình nào thì được tập hợp cho hạng mục
hay công trình đó.
Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đúng và phù hợp với đặc
Viêc phân bổ chi phí cho từng đối tượng thường được tiến hành theo hai
bước sau:
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ theo công thức sau:
SV: Mai Đình Đình 14 Lớp KK44/21.17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Mạnh Thiều
T
C
H =
Trong đó: H: Hệ số phân bổ chi phí.
C: Là tổng chi phí cần phân bổ cho các đối tượng.
T: Là tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng cần
phân bổ chi phí.
Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể:
ii
HxTC =
Trong đó:
i
C
: Phần chi phí phân bổ cho đối tượng i.
i
T
: Đại lượng tiêu chuẩn phân bổ dùng để phân bổ chi phí của
đối tượng i.
1.2.3 Nội dung kế toán tập hợp chi phí sản xuất(theo phương pháp kê khai
thường xuyên):
1.2.3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
“Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, bao gồm các khoản chi phí về nguyên vật
liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ… sử dụng trực tiếp cho việc
sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ”.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi
Căn cứ vào chứng từ như: Phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, căn cứ vào hoá
đơn mua hàng… kế toán tiến hành tập hợp chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp
cho sản xuất sản phẩm. Để kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tíếp, kế toán sử dụng
tài khoản TK 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Trình tự kế toán tập hợp chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp được thể hiện cụ thể qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Phương pháp tập hợp:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường liên quan trực tiếp đến đối tượng
kế toán tập hợp chi phí sản xuất nên thường sử dụng phương pháp trực tiếp
- Trường hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp liên quan đến nhiều đối tượng
phải phân bổ cho từng đối tượng. Tiêu chuẩn phân bổ chi phí nguyên vật liệu chính,
nửa thành phẩm mua ngoài dùng cho sản xuất sản phẩm là chi phí nguyên vật liệu
định mức( kế hoạch), khối lượng sản phẩm sản xuất. Đối với nguyên vật liệu phụ
dùng cho sản xuất sản phẩm, tùy từng loại vật liệu phụ trong quá trình sản xuất, tiêu
chuẩn phân bổ thường là chi phí định mức hoặc chi phí kế hoạch, chi phí thực tế của
nguyên vật liệu chính, khối lường sản phẩm sản xuất , giờ máy chạy, …
Trong các doanh nghiệp xây lắp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường
được tập hợp cho từng công trình, chứng từ chi phí nguyên vật liệu do các chủ
SV: Mai Đình Đình 16 Lớp KK44/21.17
TK 152
TK 621 TK152
TK 154
TK 632
(3)
(1)
(2)
TK 111, 112, 141…
TK 133
(4)
(5)
SV: Mai Đình Đình 17 Lớp KK44/21.17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Mạnh Thiều
Trình tự kế toán chi phí nhân công trực tiếp được phản ánh qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
Chú thích:
(1) Tiền lương, các khoản phụ cấp phải trả cho công nhân viên trực tiếp
sản xuất, chế tạo sản phẩm
(2) Trích trước tiền lương nghỉ phép theo kế hoạch của công nhân trực
tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm
(3) Các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo
sản phẩm
(4) Chi phí nhân công trực tiếp trên mức bình thường
(5) Cuối kỳ phân bổ và kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá
thành
Phương pháp tập hợp:
CP NCTT thường liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi
phí sản xuất nên thường sử dụng phương pháp trực tiếp.
Trường hợp CP NCTT liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí
sản xuất phải phân bổ cho từng đối tượng. Tiêu chuẩn phân bổ thường là CP nhân
SV: Mai Đình Đình 18 Lớp KK44/21.17
TK 622
TK 154
(5)
TK 334
(1)
TK 335
(2)
TK 632
(4)
(3)
chức quản lý chi phí của doanh nghiệp.
SV: Mai Đình Đình 19 Lớp KK44/21.17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Mạnh Thiều
- DN xây lắp giao máy cho các đội, xí nghiệp sử dụng thì chi phí sử dụng máy
được hạch toán vào tài khoản 623.
Tài khoản sử dụng: để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy thi công, kế
toán sử dụng tài khoản 623. Tài khoản này chỉ sử dụng để hạch toán chi phí trong
trường hợp doanh nghiệp thực hiện công trình theo phương thức thi công hỗn hợp
vừa thi công thủ công vừa thi công bằng máy. Không hạch toán vào tài khoản này
các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT KPĐ của công nhân sử dụng máy thi
công.
Phương pháp tập hợp chi phí sử dụng máy thi công:
- Đối với các chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối
tượng tập hợp chi phí thì sử dụng phương pháp trực tiếp
- Các chi phí liên quan được sử dụng cho đối tượng sử
dụng thì phải phân bổ cho các đối tượng sử dụng theo các tiêu thức hợp lý. Việc
tính toán phân bổ chi phí phải dựa trên cơ sở giá thành một giờ/máy hoặc giá thành
một ca/máy hoặc một đơn vị khối lượng công việc thi công bằng máy hoàn thành.
Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử dụng máy:
Nếu tổ chức đội máy thi công riêng biệt và có phân cấp hạch toán cho đội máy
có tổ chức hạch toán kế toán riêng, thì việc hạch toán được tiến hành như sau:
Hạch toán các chi phí liên quan tới hoạt động của đội máy thi công, ghi:
Nợ TK 621, 622, 627 - Chi phí sản xuất
Có các TK liên quan
Hạch toán chi phí sử dụng máy và tính giá thành ca máy thực hiện trên TK 154
- "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang".
Nợ TK154 (Chi tiết chi phí máy thi công)
Có TK 621, 622, 627 - Chi phí sản xuất
Căn cứ vào giá thành ca máy (theo giá thành thực tế hoặc giá khoán nội bộ)
cung cấp cho các đối tượng (công trình, giai đoạn công việc ), tuỳ theo phương
Có TK 214 - Hao mòn tài sản cố định
Chi phí dịch vụ mua ngoài phát sinh (sửa chữa máy thi công mua ngoài, điện,
nước, tiền thuê TSCĐ, ), ghi:
Nợ TK 623 (6237) - Chi phí dịch vụ mua ngoài
Nợ TK 133 - Thuế GTGT đầu vào (nếu được khấu trừ thuế GTGT)
Có TK 111, 112, 331
Chi phí bằng tiền phát sinh,kế toán ghi:
Nợ TK 623 (6238) - Chi phí bằng tiền khác
Nợ TK 133 - Thuế GTGT đầu vào (nếu được khấu trừ thuế GTGT)
Có TK 111, 112
Căn cứ vào bảng phân bổ chi phí sử dụng máy thi công (chi phí thực tế ca máy)
tính cho từng công trình, hạng mục công trình, ghi:
Nợ TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 623 - Chi phí sử dụng máy thi công
Trường hợp thuê ca máy thi công:
Khi trả tiền thuê xe, máy thi công, ghi:
Nợ TK 627 (6277) - Chi phí dịch vụ mua ngoài
Có TK 111, 112, 331
Cuối kỳ hạch toán, kết chuyển chi phí thuê máy thi công vào khoản mục chi phí
sử dụng máy, ghi:
Nợ TK 154 (khoản mục chi phí máy thi công)
Có TK 627 (6277) - Chi phí dịch vụ mua ngoài
Tuy nhiên, do có đặc điểm hoạt động khác với các doanh nghiệp xây lắp nên
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ thường không tổ chức ra đội máy thi
công riêng mà máy thường được sử dụng chung trong từng đơn vị sản xuất để thực
SV: Mai Đình Đình 22 Lớp KK44/21.17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Mạnh Thiều
hiện các khối lượng công việc cần sử dụng máy. Khoản mục chi phí này trong các
đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ thường được hạch toán như sau:
Căn cứ vào số tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân điểu khiển máy,
- Khi thực hiện giao khoán chi phí sản xuất chung cho các đội xây dựng thì
phải quản lý tốt chi phí đã giao khoán.
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất chung: thông thường trong kế toán xây
dựng, chi phí sản xuất chung thường được tập hợp theo phương pháp trực tiếp, các
chi phí phát sinh được các đội sản xuất tập hợp trực tiếp đối với từng công trình.
Các chi phí như khấu hao tài sản cố định, chi phí dụng cụ sản xuất có thể được tập
hợp cho nhiều công trình nên thường được phân bổ cho từng công trình, tiêu thức
phân bổ thường là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp + chi phí nhân công trực tiếp, tổng thời gian lao động
trực tiếp, tổng số giờ máy hoạt động, tổng chi phí lao động trực tiếp,…
Chi phí sản xuất chung bao gồm các nội dung sau:
- Chi phí nhân viên: bao gồm tiền lương, các khoản có tính chất lương, các
khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng, bộ phận sản xuất.
- Chi phí vật liệu: là chi phí vật liệu sử dụng chung cho sản xuất như dùng cho
quản lý phân xưởng, sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định bộ phân sản xuất.
- Chi phí dụng cụ sản xuất: là chi phí về công cụ dụng cụ dùng cho hoạt động
sản xuất.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: là khấu hao tài sản cố định dùng cho hoạt
động sản xuất.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là chi phí mua ngoài dịch vụ dùng cho hoạt động
sản xuất.
- Chi phí bằng tiền khác: là chi phí ngoài các chi phí kể trên phục vụ chu hoạt
động sản xuất chung ở các bộ phận sản xuất.
Tài khoản sử dụng: TK 627
Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung:
SV: Mai Đình Đình 24 Lớp KK44/21.17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Mạnh Thiều
SV: Mai Đình Đình 25 Lớp KK44/21.17
(8)
TK 142, 242