BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
LÊ HOÀNG PHÚC TÁC ĐỘNG CỦA TÀI SẢN TRÍ TUỆ ĐẾN TỐC
ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ QUỐC GIA LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài
nghiên cứu này. TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2014
Học viên
LÊ HOÀNG PHÚC
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục hình ảnh
Tóm tắt
Chương 1 – TỔNG QUAN 1
1.1. Nguyên nhân chọn đề tài 1
1.2. Ý nghĩa của đề tài 2
1.3. Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.5. Phương pháp nghiên cứu 5
1.6. Kết cấu của luận văn 5
Kết luận Chương 1 6
Chương 2 – CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
2.1. Cơ sở khoa học về tăng trưởng kinh tế 7
2.2. Lý thuyết liên quan đến tài sản trí tuệ 8
2.3. Cơ sở thực nghiệm về phát triển tài sản trí tuệ 11
2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm với mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ 11
2.3.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về số lượng tài sản trí tuệ 14
2.3.3. Giải thích việc sử dụng các biến trong mô hình 16
FEM : Mô hình tác động cố định (Fixed Effected Model)
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
GMM : Mô hình hồi quy Generalized Method of Moments
GP : Chỉ số bảo hộ quyền sáng chế Ginarte-Park
IP : Tài sản trí tuệ (Intellectual Property)
IPR : Quyền tài sản trí tuệ (Intellectual Property Right)
IPT : Tổng số tài sản trí tuệ (Intellectual Property in Total)
PM : Mô hình hồi quy bình phương tối thiểu gộp (Pooled OLS)
PPP : Ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity)
R&D : Nghiên cứu và Phát triển (Research and Development)
REM : Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effected Model)
rGDP : Tốc độ tăng GDP bình quân (Rate of GDP per capital growth)
TFP : Năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity)
TPP : Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership)
TRIPS : Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí
tuệ (Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights)
WB : Ngân hàng Thế giới (World Bank)
WIPO : Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property
Organization)
WTO : Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Mô tả biến dùng trong nghiên cứu 24
Bảng 4.1 Bảng thống kê tính đầy đủ của các biến 34
Bảng 4.2 Thống kê mô tả dữ liệu 36
Bảng 4.3 Thống kê mô tả dữ liệu đã logarit hóa 37
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 38
Bảng 4.5 Hồi quy thử các biến giải thích với biến gdp_ln 39
Bảng 4.6 So sánh kết quả hồi quy với biến ope và lab có độ trễ 1 năm 40
Bảng 4.7 So sánh kết quả ước lượng của các mô hình cho mẫu chung 41
Bảng 4.8 Ma trận tương quan giữa phần dư và biến giải thích của ước lượng cho
quyền sáng chế, giải pháp hữu ích, thiết kế kiểu dáng công nghiệp, thương hiệu, …
các loại có tác động thật sự đến các nhóm quốc gia có thu nhập bình quân khác
nhau như thế nào, nhất là sau khi nền kinh tế thế giới vừa trải qua bão “đại suy
thoái” vào năm 2008.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng kết hợp các mô hình hồi quy gộp (Pooled
OLS Model), mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effect Model), mô hình tác
động cố định (Fixed Effect Model) và mô hình GMM. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu
hàng năm của 100 quốc gia liên quan đến biến số lượng tài sản trí tuệ và mức độ
bảo hộ sở hữu trí tuệ cùng với một số biến kiểm soát liên quan đến tốc độ tăng
trưởng kinh tế.
Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng các bằng độc quyền có tác động tích cực tới
tăng trưởng kinh tế nhưng với mức độ khác nhau. Bên cạnh đó, mức độ bảo hộ sở
hữu trí tuệ cũng tác động khác nhau lên các nền kinh tế có thu nhập trung bình khác
nhau theo cả hướng tích cực và tiêu cực. Phát hiện này có phần nào tương đồng với
lý thuyết hình chữ U ngược đã được Furukawa (2010) đề cập và giải thích.
Qua tìm hiểu về tác động giữa số lượng tài sản trí tuệ với tăng trưởng kinh tế, tác
giả kỳ vọng cung cấp được các đề xuất hợp lý cho việc thúc đẩy tăng trưởng nền
kinh tế của một nước có thu nhập GNI bình quân đầu người ở mức dưới trung bình
như Việt Nam.
1
Chương 1 – TỔNG QUAN
1.1. Nguyên nhân chọn đề tài
Năm 1988, Chin và Grossman (1988) trong “Intellectual Property Rights and North-
South Trade” cho rằng trong khi các công ty phía Bắc thực hiện R&D để giảm chi
phí sản xuất, các công ty phía Nam có thể bắt chước nếu chính phủ các nước này
không thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ. Sau đó, vào ngày 1 tháng 1 năm 1995, Hiệp
định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) có hiệu lực và
là một trong những điều kiện bắt buộc đối với tất cả các thành viên Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO). Stiglitz (2008) cho rằng tài sản trí tuệ đã trở thành một trong
Bình Dương (TPP) với những yêu cầu bảo hộ sở hữu trí tuệ cao hơn TRIPS trước
đây.
Trần Hồng Minh và Ngô Văn Giang (2008) cho rằng có thể có “lợi ích đáng kể” của
số đông khi mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ “tương đối lỏng lẻo” có thể tiếp cận được
với công nghệ bằng giá tiền không quá đắt đỏ như lĩnh vực phần mềm để phát triển
kinh tế. Như vậy, cần so sánh việc tăng trưởng kinh tế nhờ vào “công nghệ giá rẻ”
so với lợi ích sẽ thu được có xứng đáng để Việt Nam, một nước thuộc nhóm có thu
nhập trung bình thấp, lựa chọn gia nhập TPP? Tác giả chọn đề tài “Tác động của tài
sản trí tuệ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia” để nghiên cứu nhằm tìm hiểu
một phần quy luật tác động lên tốc độ tăng trưởng kinh tế của mức độ bảo hộ sở
hữu trí tuệ và tổng tài sản trí tuệ qua các nhóm nước có thu nhập khác nhau, từ đó
đóng góp cho định hướng phát triển về hội nhập quốc tế và nền kinh tế tri thức của
Việt Nam.
1.2. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài nhằm xem xét khả năng và các hành động nên thực hiện đối với một quốc gia
đang phát triển thuộc nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp như Việt Nam, để
huy động tối ưu nguồn lực hiện có của đất nước vào việc thúc đẩy tăng trưởng nền
kinh tế.
3
Nguồn lực phát triển quốc gia có thể là tài nguyên, vốn, con người. Tuy nhiên, trong
tình hình của các nước đang phát triển như Việt Nam thì việc sử dụng các nguồn lực
tài chính và tài nguyên để bắt kịp sự phát triển của các nước phát triển hầu như khó
khăn vì:
- Nguồn vốn: khả năng tích lũy tài chính thấp, khó có khả năng phát triển nhanh
về công nghiệp
- Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên: cạn kiệt theo thời gian, phát triển không bền
vững
Ngược lại, nguồn lực con người là một loại nguồn lực đặc biệt, thể hiện khả năng
của con người thông qua các kỹ năng cứng và mềm tăng lên theo thời gian, dễ tái
tạo và phát triển bền vững.
Chỉ số này hiện đang được nhiều nhà nghiên cứu kinh tế sử dụng khi nghiên cứu
các vấn đề về đổi mới, tăng trưởng kinh tế liên quan đến sở hữu trí tuệ.
1.4 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mục tiêu xem xét tác động của số lượng tài sản trí tuệ tới tốc độ
tăng trưởng của nền kinh tế các quốc gia trong mối tương quan với yếu tố pháp luật
bảo hộ sở hữu trí tuệ thông qua việc tìm lời giải cho các câu hỏi sau:
1. Kiểm chứng tài sản trí tuệ tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của các quốc
gia trên thế giới như thế nào?
2. Tài sản trí tuệ tác động như thế nào đến tốc độ tăng trưởng kinh tế tại các nhóm
nước có GNI bình quân khác nhau?
3. Trong tình hình kinh tế hiện nay, Việt Nam nên có những chính sách quản lý
như thế nào để phát triển, khai thác tài sản trí tuệ hiệu quả?
5
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp thống kê, phân tích kết quả từ các
mô hình định lượng Pooled OLS, FEM, REM và GMM trên phần mềm thống kê
Stata 12.0.
Các kiểm định được sử dụng trong nghiên cứu là kiểm định đa cộng tuyến, kiểm
định nội sinh, kiểm định Pagan L-M, kiểm định Hausman, kiểm định Arellano-
Bond. Trường hợp sử dụng các hồi quy Pooled OLS, FEM, REM, tác động của hiện
tượng phương sai thay đổi sẽ được kiểm soát bằng robust khi thực hiện hồi quy.
Số liệu dùng trong nghiên cứu là số liệu thứ cấp được tác giả thu thập, tổng hợp từ
nguồn dữ liệu được công bố chính thức tại Ngân hàng thế giới và Tổ chức sở hữu trí
tuệ thế giới.
Để xây dựng mô hình hồi quy, tác giả kế thừa và phát triển từ các mô hình của các
tác giả Gould và Gruben (1996), Falvey và Greenaway (2006). Ngoài hai biến giải
thích là số lượng tài sản trí tuệ và mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ, tác giả đã dùng các
biến kiểm soát khác như mức đầu tư, chi phí cho giáo dục, tốc độ tham gia lực
lượng lao động, … căn cứ vào các nghiên cứu của nhiều tác giả khác (xem thêm
mục 2.3.3)
)
– =
(
⁄
)
−
Tuy nhiên, theo mô hình tăng trưởng tân cổ điển, việc tiết kiệm bổ sung thêm không
làm cho tăng trưởng tăng theo quan hệ tuyến tính mà mức độ tăng giảm dần theo
quy luật lợi nhuận biên giảm dần theo vốn bổ sung. Ngoài ra, tỉ lệ tăng dân số còn
có vai trò cho phép có sự thay thế giữa vốn và lao động trong quá trình tăng trưởng.
(Solow, 1956). Nguồn nhân lực lại là một yếu tố có thể thay đổi nhanh chóng, có
thể tạo ra những giá trị vượt trội nhờ vào việc vận dụng khả năng tư duy của mình.
Baier và cộng sự (2006) cho rằng năng suất trong 40 năm, từ 1960 đến 2000, tăng
chủ yếu nhờ vào TFP chứ không phải là tăng lượng đầu vào. Trong đó, yếu tố nhân
lực giữ vai trò tác động bên cạnh cơ sở hạ tầng và yếu tố công nghệ. Điều này cũng
được (Lucas, 1988) khẳng định từ trước về lao động hay vốn nhân lực có thể nâng
cao kỹ năng (tăng giá trị theo thời gian) thông qua hoạt động đào tạo lý thuyết và
thực hành (on the job training, learning by doing) từ đó có thể tác động lên tốc độ
tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, Abramovitz (1993) và Eaton và Kortum (1995) đều
cho rằng nhờ vào tiếp cận với các tiến bộ về công nghệ (thông qua giáo dục, học tập
và sử dụng các sản phẩm và quy trình), vốn con người sẽ tăng lên trong dài hạn, dẫn
đến tăng năng suất lao động.
Sự gia tăng kỹ năng của vốn nhân lực không chỉ tác động trực tiếp lên việc tạo sản
phẩm, dịch vụ tại doanh nghiệp, mà còn là tăng năng lực R&D. Eaton và Kortum
(1995) cho rằng bằng sáng chế thể hiện đầu ra của nghiên cứu và phát triển được
bảo hộ.
8
Todaro và Smith (2012) cho rằng sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào 3 nhóm yếu
tố:
học tập, rèn luyện kỹ năng của lao động bị giảm theo. Việc giảm sút điều kiện học
tập làm giảm sút khả năng sáng tạo, tạo ra sự đổi mới, gián tiếp góp phần vào việc
hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia bảo hộ sở hữu trí tuệ quá mức.
Hình 2.1. Bảo hộ sở hữu trí tuệ và đổi mới
Nguồn: Furukawa, 2010
Maskus (1998) nhận định rằng mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ có thể thúc đẩy hoặc
kìm hãm tăng trưởng. Nguyên nhân có thể là do hệ thống bảo hộ quá mức gây hạn
chế lợi ích xã hội về sáng chế vì làm giảm khả năng phổ biến sản phẩm của sáng
chế đó. Nhưng một hệ thống bảo hộ quá yếu có thể làm giảm sự đổi mới vì không
thu hút được đầu tư. Quan điểm này tương tự với phân tích lý thuyết hình chữ U
ngược của Furukawa (2010), nhưng Furukawa (2010) tập trung vào nguyên nhân là
việc tăng hay giảm vốn con người, còn Maskus (1998) đã mở rộng tác động của bảo
hộ sở hữu trí tuệ tới lợi ích chung của xã hội.
Trong thực tế, chúng ta có thể nhận thấy nếu một nhà sáng chế nhờ có nhiều năm
kinh nghiệm, trăn trở và suy nghĩ để tìm được một giải pháp kỹ thuật mà từ trước
10
đến nay chưa ai giải quyết được vấn đề tương tự. Nhưng quá trình suy nghĩ, lao
động khó khăn và lâu dài đó của nhà sáng chế không được bảo hộ nên bị người khác
bắt chước và làm được ngay, thậm chí bán được nhiều sản phẩm hơn, thu được lợi
nhuận cao hơn. Nhà sáng chế sẽ mất động lực tạo ra các giải pháp khác, hệ quả là
toàn xã hội sẽ bị giảm sút khả năng đổi mới để tạo ra năng suất lao động cao hơn.
Như vậy, tình trạng pháp luật quá lỏng lẻo trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng đã
góp phần làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Để có thể tạo được sự công bằng cho nhà sáng chế khi tạo ra tài sản trí tuệ thì việc
tăng cường luật pháp để bảo hộ sở hữu trí tuệ là điều cần phải làm. Nhà sáng chế
phải có trách nhiệm nhận diện các đơn vị tài sản trí tuệ của mình, lưu chứng để tạo
lập tài sản và tiến hành các thủ tục để được bảo hộ. Lúc này, bảo hộ sở hữu trí tuệ
mới có thể tạo ra sự công bằng cho nhà sáng chế trước toàn xã hội.
Sự công bằng cũng thể hiện ở chỗ không gây gây thiệt hại cho xã hội vì bảo hộ tràn
biệt (thresholds in particular). Với khả năng kiểm soát được hiện tượng nội sinh,
phương pháp GMM được Kim và cộng sự (2012) dùng đồng thời với các phương
pháp OLS và FEM. Ngoài ra, để trả lời sâu hơn về các câu hỏi về ngưỡng tác động,
Hudson và Minea (2013) dùng kỹ thuật hồi quy ngưỡng linh hoạt dữ liệu bảng
1
để
xem xét ngưỡng tác động của mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ và mức độ đổi mới
(innovation)
Trong các một số mô hình nghiên cứu định lượng về bảo hộ sở hữu trí tuệ tác động
đến tăng trưởng kinh tế, có tác giả cho rằng bảo hộ sở hữu trí tuệ có tác động trực
tiếp đến tăng trưởng kinh tế như Falvey và Greenaway (2006), nhưng cũng có một
số khác như Gould và Gruben (1996), Park và Ginarte (1997), Thompson và
Rushing (1999), Schneider (2005), Hudson và Minea (2013) lại cho rằng tác động
của bảo hộ sở hữu trí tuệ là gián tiếp thông qua “đổi mới”, “R&D”. 1
The Panel Smooth Threshold Regression - PSTR
12
Bảo hộ sở hữu trí tuệ chịu tác động từ chính sách kinh tế của quốc gia, đối với
những nước có nền kinh tế đóng, nhỏ, hầu như các nguồn lực dành chủ yếu vào hệ
thống pháp luật nhằm bảo vệ thị trường trong nước. Tuy nhiên, khi thị trường mở
cửa thì việc cạnh tranh sẽ thúc đẩy đổi mới, do đó, quốc gia sẽ dành nguồn lực
nhiều hơn để tăng cường bảo hộ sở hữu trí tuệ. Vì vậy, (Gould và Gruben, 1996;
Thompson và Rushing, 1999; Falvey và Greenaway, 2006) cho rằng nền kinh tế
càng lớn, độ mở cửa càng lớn thì bảo hộ sở hữu trí tuệ càng gia tăng.
Các quốc gia có thu nhập bình quân đầu người thấp, không đầu tư vào nghiên cứu
và phát triển thì mức bảo hộ sở hữu trí tuệ thấp và ngược lại các nước có thu nhập
cao, có năng lực nghiên cứu và phát triển thì mức bảo hộ có thể phát triển cao (Park
và Ginarte, 1997; Thompson và Rushing, 1996; Thompson và Rushing, 1999).
nước đang phát triển. Tác giả Schneider (2005) cho rằng sự đổi mới ở các nước
đang phát triển hầu hết là do sự bắt chước hoặc áp dụng các sáng chế chứ không
phải do việc bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Không chỉ xem xét về bảo hộ sở hữu trí tuệ cho các bằng sáng chế, Kim và cộng sự
(2012) mà còn đi vào nghiên cứu sâu hơn một đối tượng quyền sở hữu trí tuệ khác
có bản chất gần giống với sáng chế, đó là giải pháp hữu ích. Tác động của 2 nhóm
tài sản trí tuệ này có tác động khác nhau đến mức độ đổi mới. Bảo hộ bằng sáng chế
có tác động tích cực đến các nước có nền kinh tế phát triển trong khi đó bảo hộ giải
pháp hữu ích có thể là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc đổi mới ở các
nước thu nhập trung bình đến thấp. Các nước đang phát triển nên tập trung vào bảo
hộ giải pháp hữu ích nhiều hơn để tăng trưởng kinh tế.
Qua đó có thể thấy, việc nghiên cứu liên quan đến bảo hộ tài sản trí tuệ không thể
chỉ dừng lại ở các sáng chế, hay giải pháp hữu ích mà nhà nghiên cứu cũng cần
quan tâm đến các loại tài sản trí tuệ khác mà pháp luật có thể và có quy định bảo hộ
như thương hiệu, quyền tác giả và các quyền liên quan đến quyền tác giả, bí mật
kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công nghiệp, … vì việc
bảo hộ các loại tài sản này vẫn đang diễn ra và chúng cũng có những vai trò nhất
14
định đối với tăng trưởng kinh tế thông qua việc khai thác, kinh doanh quyền tài sản
loại này.
Để trả lời cho câu hỏi cụ thể mức độ nào của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ sẽ có tác
động như thế nào đến việc đổi mới, Hudson và Minea (2013) nhận thấy bảo hộ sở
hữu trí tuệ mạnh sẽ làm tăng sự đổi mới ở một số nước và làm giảm nó ở các nước
khác và tác động có thể thay đổi khi mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ của quốc gia vượt
qua một ngưỡng nhất định. Tuy nhiên, kết luận của các tác giả này lại đi ngược với
chứng minh trong mô hình chữ U ngược của Furukawa (2010): bảo hộ sở hữu trí tuệ
sẽ tác động tích cực đến đổi mới ở mức dưới 1.8 và trên 3.3 mà không phụ thuộc
vào GDP bình quân đầu người.
Ngoài ra, bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng chịu sự chi phối của một số yếu tố kinh tế tác
động lên nó:
Có thể đó là nguyên nhân khiến chỉ số về số lượng tài sản trí tuệ chưa được các nhà
nghiên cứu kinh tế sử dụng nhiều.
Trong phạm vi tìm hiểu của tác giả, các nghiên cứu về sở hữu trí tuệ hiện nay
thường chỉ quan tâm đến bằng độc quyền sáng chế (Patent) và chỉ số quyền sáng
chế (Patent Rights Index). Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Kim và cộng sự (2012)
thì các doanh nghiệp nhỏ, tụt hậu và các quốc gia đang phát triển lại có thể dựa vào
các giải pháp hữu ích để phát triển, tăng trưởng. Như vậy, nếu chỉ sử dụng các số
liệu thống kê về sáng chế sẽ làm hạn chế tính chính xác của kết quả của nghiên cứu
về tài sản trí tuệ.
Do đó, việc nghiên cứu kinh tế liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ, theo tác giả,
cần được mở rộng hơn tới việc ghi nhận sự tồn tại và khả năng mang lại lợi ích cho
nền kinh tế của tất cả các dạng của tài sản trí tuệ. Vì tất cả các loại tài sản này, nếu
được chủ thể quyền sở hữu khai thác đúng mức sẽ mang lại lợi nhuận kinh tế rất
lớn. Ví dụ, giá trị thương hiệu Coca Cola năm 2013 được công bố là 79,213 triệu
USD trên www.interbrand.com. Trong tương lai, nếu thương hiệu này vẫn được
16
quản trị và khai thác tốt giá trị sẽ không dừng lại ở đó. Như vậy, chủ sở hữu thương
hiệu này đã góp phần không ít vào tăng trưởng kinh tế GDP của Mỹ.
2.3.3. Giải thích việc sử dụng các biến trong mô hình
Qua các mô hình đã xem xét trong phần sơ lược lý thuyết và các nghiên cứu định
lượng về tài sản trí tuệ, tác giả sử dụng mô hình với các biến như sau :
- Biến phụ thuộc : rGDP (tốc độ tăng GDP bình quân đầu người)
- Biến giải thích : gồm 2 nhóm
o Biến quan tâm : các biến liên quan đến sở hữu trí tuệ (IPR và IPT)
o Biến kiểm soát : các biến thể hiện tình trạng nền kinh tế và có liên quan
đến tăng trưởng kinh tế quốc gia (GDP, INV, EDU, OPE, LAB, GOC,
INF)
2.3.3.1. rGDP - Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người
- Tình hình sử dụng: tốc độ tăng trưởng GDP thực hàng năm của các quốc gia