ail Hi
BỘ YTẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU TỈ2ANG
KHẢO SÁT GIÁ THUỒC BẢO HIỂM Y TÊ TẠI MỘT số
Cơ SỞ KHÂM CHỮA BỆNH ở VIỆT NAM
■ ■
(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ KHÓA 2001-2006)
Giáo viên hướng dẫn :
THỒ. KHổNG DỬC MẠNH
Nơi thực hiện :
TRƯÒNG ĐẠI HỌ C
Dược
HÀ NỘI
BẢO HIỂM ẴÃ HỘI VIỆT NAM
Thời gian thực hiện : 0 6/2005 — 05/2 006
Ị-
ụ V
V 1 * ^ / 1
\
/1 'i2 c\
HÀ N Ộ I-05/2006
\ ì «
.
— rf :
L Ờ D C Ả M Ơ N
t f ữ i â ế ỉ f / / p / i ởếi ểể f / i à f i / t / ỉ / f f ứ í / í ể ự ể t t ó / aeĩểt ấ à ự f / ỉ / à ề ể ự SểVMiự ể ù í ấ ì ê í
1.2 Cung ứng thuốc BHYT 13
1.3 Quản lý giá thuốc BHYT ở Việt Nam 16
1.3.1 Hiệu quả của công tác quản lý giá thuốc ở Việt Nam 16
1.3.2 Quản lý giá thuốc BHYT 18
PHẨN 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN cứ u VÀ BÀN LUẬN 24
3.1 So sánh giá thuốc BHYT tại một số cơ sở KCB ở Hà Nội, TP 24
Hồ Chí Minh
3.1.1 Tại các cơ sở KCB trên địa bàn Hà Nội 24
3.1.2 Tại các cơ sở KCB trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 36
3.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến giá thuốc BHYT 41
3.2 So sánh giá thuốc BHYT trong nước và thuốc nhập khẩu 44
3.3 So sánh giá thuốc BHYT với giá nhập khẩu 51
3.4 Bàn luận 55
PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT 60
4.1 Kết luận 60
4.2 Đề xuất 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH : An sinh xã hội
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
BHYT BB : Bảo hiểm y tế bắt buộc
BHYT TN : BHYT tự nguyên
BYT : Bộ Y Tê
BI : Boehringer Ingelheim
XNK : Xuất nhập khẩu
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT Bảng
TÊN BẢNG
Trang
1.
1.1
Nội dung sử dụng quỹ BHYT theo Nghị định 63/CP
7
2.
1.2
Số người tham gia và diện bao phủ BHYT ở Việt Nam qua các
năm
8
3.
1.3
Các phương thức mua sắm cung ứng thuốc
15
4.
3.1
Giá thuốc BHYT do Zuellig phân phối tại các cơ sở KCB HN
(Quý IIUV/2005)
23
5.
3.2
Giá thuốc BHYT do Dethelm phân phối tại các cơ sở KCB HN
(Quý III,IV/2005)
26
6.
3.3
13.
3.10
Tỷ lệ thuốc BHYT trong nước sử dụng tại các cơ sở KCBHN
43
14.
3.11
Tỷ lệ thuốc BHYT trong nước sử dụng tại các cơ sở KCB
TPHCM
44
15.
3.12
Tỷ lệ biệt dược trong cơ cấu thuốc BHYT trong nước tại các cơ
sở KCB HN
46
16.
3.13
Tỷ lệ biệt dược trong cơ cấu thuốc BHYT trong nước sử dụng tại
các cơ sở KCB TPHCM
47
17.
3.14
Giá thuốc BHYT sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu
48
18.
3.15
Chênh lệch giá thuốc BHYT do công ty Zuellig, Diethelm phân
phối và giá CIF
50
19.
3.16
Giá thuốc BHYT do công ty Zuellig phân phối tại các cơ sở
KCB TPHCM (Quý IIIJV/2005)
35
3.5
Giá thuốc BHYT do công ty Diethelm phân phối tại các cơ
sở KCB TPHCM (Quý III,IV/2005)
35
3.6
Giá thuốc BHYT phân phối bởi Zuellig, Diethelm phân phối
tại các cơ sở KCB TPHCM (Quý III,IV/2005)
38
3.7
Tổng số mặt hàng thuốc BHYT sử dụng tại các cơ sở KCB
42
3.8
Tỷ lệ thuốc BHYT trong nước sử dụng tại các cơ sở KCB
HN
44
3.9
Tỷ lệ thuốc BHYT trong nước sử dụng tại các cơ sở KCB
TPHCM
45
3.10
Tỷ lệ biệt dược trong cơ cấu thuốc BHYT trong nước tại các
cơ sở KCB HN
46
3.11
Tỷ lệ biệt dược trong cơ cấu thuốc BHYT trong nước sử
dụng tại các cơ sở KCB TPHCM
47
phải không ngừng hoàn thiện tạo được niềm tin cho người dân trong lộ trình tiến
tới BHYT toàn dân.
Thống kê chi phí hàng năm từ quỹ BHYT cho thấy, chi phí về thuốc luôn
chiếm tỷ trọng tương đối cao, có nơi lên tới 70% trong tổng chi phí khám chữa
bệnh BHYT [1]. Cùng với đó là quỹ BHYT được tổ chức và giám sát chưa chặt
1
chẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng quỹ đang ngày càng phổ biến, danh mục thuốc
BHYT hiện được xây dựng quá rộng, hầu hết các loại thuốc có mặt trên thị
trường Việt Nam đều được thanh toán từ quỹ BHYT, hơn nữa một số thuốc do
quỹ BHYT chi trả có giá cao hơn giá bán trên thị trường. Chính vấn đề này đã tạo
nên một dư luận xã hội không tốt về chính sách BHYT ở Việt Nam và là một
trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm đi tính hấp dẫn của chính sách
BHYT.
Xuất phát từ những từ yêu cầu cấp thiết quản lý quỹ BHYT thông qua việc
quản lý giá thuốc BHYT tại các cơ sở KCB, đồng thời góp phần quản lý giá
thuốc nói chung trong lộ trình tiến tới BHYT toàn dân để người bệnh không phải
chịu tác động của những biến động tăng giá thuốc trên thị trường, đề tài tiến
hành nghiên cứu “Khảo sát giá thuốc Bảo hiểm y tê tại một sô cơ sở khám
chữa bệnh ở Việt Nam” được thực hiện với các mục tiêu cơ bản sau:
1. So sánh giá thuốc BHYTỹại một số cơ sở KCB ở Hà Nội, TP Hồ Chí
Minh. ___,N
2. So sánh giá thuốa BHYT của thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập
khẩu.
3. So sánh giá thuôẹ BHYT i’ắ giá nhập khẩu (giá CIF) của thuốc.
Từ đó đề xuất một sồ giai pháp góp phần quản lý giá thuốc BHYT tại Việt
Nam.
2
PHẦN 1
TỔNG QUAN
1.1. BẢO HIỂM Y TẾ VIỆT NAM
3
động và hưu trí, đánh đấu sự ra đời của chính sách BHXH nói chung và BHYT
nói riêng tại Việt Nam. Những năm cuối của thập kỷ 80, các cơ sở y tế đứng
trước nhiều khó khăn thử thách, là thời điểm cơ chế cũ cần xoá bỏ cơ chế mới
chưa hình thành, các cơ sở KCB lâm vào tình trạng thiếu kinh phí do nguồn tài
chính đầu tư từ ngân sách nhà nước còn thấp chỉ đáp ứng được 50-54% nhu cầu
chi phí thực tế của ngành y tế.
Thực hiện chủ trương đổi mới trong lĩnh vực y tế với phương châm: “Nhà
nước và nhân dân cùng làm” theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI, chính phủ cho phép các cơ sở KCB thực hiện thu một phần viện phí.
Giải pháp này đã giúp các bệnh viện khắc phục được một phần khó khăn về tài
chính, tuy nhiên đây mới chỉ là giải pháp tình thế và đáp ứng nhu cầu KCB của
một số đối tượng chủ yếu là những người có thu nhập khá. Còn đại bộ phận
những người có thu nhập thấp, nhất là các đối tượng thuộc diện chính sách
ƯĐXH, người nghỉ hưu, người mất sức lao động .ít có khả năng và cơ hội tiếp
cận với DVYT khi ốm đau bệnh tật do gánh nặng về chi phí vẫn còn quá lớn.
Góp phần giải quyết vấn đề bất cập trên, năm 1989 nước ta đã tiến hành
thí điểm mô hình BHYT ở một số địa phương như Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Quảng
Trị, Đăk Lăk, Bến Tre Việc thí điểm đã đem lại những kết quả bước đầu, cải
thiện hơn chất lượng cung cấp DVYT tại các cơ sở KCB. Cơ sở vật chất trang
thiết bị y tế dần được nâng cấp, thuốc men được cải thiện và có những chuyển
biến tích cực trong tổ chức quản lý y tế. Điều đó cho thấy BHYT là một hướng đi
đúng đắn nhằm tăng cường dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, tăng thêm
nguồn kinh phí cho hoạt động KCB, góp phần thực hiện mục tiêu xã hội hoá
công tác y tế, đảm bảo công bằng xã hội trong hoạt động KCB. Trên cơ sở những
kết quả đã đạt được và những bài học kinh nghiệm rút ra sau một thời gian thí
điểm, Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính Phủ) đã ban hành nghị định 299/HĐBT
ngày 15 tháng 8 năm 1992 kèm theo đó'là điều lộ khai sinh ra chính sách BHYT
ở Việt Nam.
1.1.2.2. Tổ chức bộ máy bảo hiểm y tế
sức khỏe: thành viên hộ gia đình, hội viên của các hội đoàn thể, tổ chức nghiệp
đoàn
I.I.2.4. Phương thức thanh toán BHYT
Theo quy định hiện hành, cơ sở KCB lựa chọn một trong hai phương thức
thanh toán chi phí KCB BHYT sau để hợp đồng với BHYT:
+ Thanh toán theo dịch vụ phí với trần chi trả không vượt quá 90% quỹ
KCB (đối với cơ sở y tế thực hiện KCB nội trú, ngoại trú và có thẻ BHYT đăng
ký KCB ban đầu) hoặc không vượt quá 45% quỹ KCB đối với cơ sở y tế chỉ KCB
ngoại trú có thể đăng ký KCB ban đầu.
+ Thanh toán theo định suất, với trần chi trả tương tự như khi thanh toán
theo phí dịch vụ.
Mặt khác thông tư số 21/2005 giành quyền quyết định lựa chọn phương
thức thanh toán cho cơ sở y tế, trong khi chỉ có 2 phương thức thanh toán được
hướng dẫn chi tiết như đã nêu trên. Đa số các bệnh viện lựa chọn phương thức
thanh toán theo phí dịch vụ, là phương thức thanh toán có khả năng khống chế
chi phí kém hiệu quả nhất. Việc sử dụng phương thức thanh toán theo phí dịch vụ
trong bối cảnh các bệnh viện công đang chuyển dần sang cơ chế tự chủ tài chính
có thể dẫn tới tình trạng chỉ định sử dụng các dịch vụ y tế không thật sự cần thiết,
nhằm tăng thêm nguồn thu cho bệnh viện. [2]
Hiện nay theo quy định của cơ quan BHYT thì đang tồn tại hai kiểu hình
thức thanh toán: [4]
- Cơ quan BHYT thanh toán với các cơ sở khám chữa bệnh theo hợp đồng
đã được ký kết.
- Cơ quan BHYT thanh toán trực tiếp cho người bệnh BHYT.
6
1.1.2.5. Mức phí và quỹ BHYT
Quỹ BHYT được hình thành từ hai nguồn chính là do người sử dụng lao
động và người lao động đóng góp. Tại Việt Nam số đối tượng tham gia BHYT
bắt buộc đóng góp 3% tổng thu nhập trong đó người sử dụng lao động có trách
nhiệm đóng 2% còn người lao động đóng 1%. Những người hưu trí hoặc mất sức
90% của 80%
quỹ KCB
90% quỹ KCB
2. Quỹ dự phòng
5%
2%
3. Đại lý phát hành thẻ
BHYT
0% 8%
4. Thông tin tuyên truyền
0%
3%
Ngoài ra khi tiền tạm thời nhàn rỗi (nếu có) của quỹ BHYT được mua tín
phiếu, trái phiếu do kho bạc nhà nước, các ngân hàng thương mại quốc doanh
phát hành và được thực hiện các biện pháp khác nhằm bảo tồn tăng trưởng quỹ
BHYT nhưng phải đảm bảo nguồn chi trả khi cần thiết.
7
Như vậy phần lớn số thu BHYT trong năm được sử dụng để phục vụ cho
việc KCB và dự phòng KCB cho người có thẻ BHYT, theo đó cơ sở KCB cũng
được chủ động về tài chính hơn khi nhận được tới 90% quỹ KCB đối với cơ sở y
tế ký hợp đồng KCB nội và ngoại trú và 45% quỹ KCB đối với cơ sở y tế hợp
đồng KCB ngoại trú. Nguồn kinh phí này được xác định căn cứ vào số lượng thẻ
BHYT đăng ký KCB ban đầu tại cơ sở y tế đó và mức đóng BHYT bình quân
chung toàn tỉnh.
1.1.2.6. Lộ trình tiến tới BHYT toàn dân:
Diện bao phủ BHYT của Việt Nam từ năm 2003 đến nay được cải thiện
đáng kể từ 20,5% dân số năm 2003 lên tới trên 28% dân số vào năm 2005. Số
người tham gia BHYT tăng nhanh, như vậy việc chuyển hệ thống BHYT sang
BHXH Việt Nam đã tạo điều kiện để khai thác triệt để số đối tượng vừa tham gia
BHYT vừa tham gia BHXH trước kia. Chỉ sau một năm sát nhập, số người tham
triệu vào năm 2004.
8
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX về việc tiến tới
thực hiện BHYT toàn dân đến năm 2010, BHYT đã được triển khai thực hiện
với những nguyên tắc cơ bản như sau:[17]
- Cơ chế tham gia phải là BHYT bắt buộc, nếu không bắt buộc sẽ luôn có
nguy cơ của sự lựa chọn ngược, chỉ những người ốm tham gia.
- Mức phí đóng góp theo tỷ lệ % thu nhập thường xuyên, không nên thực
hiện người ốm đóng nhiều, người khỏe đóng ít.
- Quyền lợi KCB theo yêu cầu của điều trị, không phụ thuộc vào số tiền
đóng góp của đối tượng.
Tuy nhiên, thực tế còn nhiều khó khăn trong lộ trình tiến tới BHYT toàn
dân bởi thu nhập của người dân còn thấp, người dân lại chưa có thói quen dự
phòng rủi ro nên việc phát triển và mở rộng đối tượng tham gia BHYT rất khó
khăn. Chúng ta mới chỉ thực hiện BHYT cho người có thu nhập thường xuyên, ổn
định còn đại bộ phận dân cư chưa được BHYT. Vì thế tính chia sẻ rủi ro chưa
cao, thiếu tính ổn định bền vững trong chính sách BHYT. Mức đóng BHYT vẫn
chưa đảm bảo công bằng, mức đóng có thể thấp đối với người giàu nhưng lại cao
đối với người nghèo và nông dân. Mối quan hệ tay ba giữa BHYT, người cung
cấp DVYT và người quản lý BHYT vẫn chưa rạch ròi, vấn đề tuyên truyền phổ
biến chế độ, chính sách BHYT đến mọi người tham gia còn ít. Hệ quả là sau hơn
10 năm triển khai chính sách BHYT, đến nay mới có khoảng gần 30% dân số
tham gia BHYT, trong đó đa số là diện bắt buộc, số tự nguyện chủ yếu là học
sinh.[23]
9
1.1.3. Những bất cập trong hoạt động chính sách BHYT ở nước ta hiện nay
Phương thức thanh toán
chứa đựng nguy cơ mất
an toàn của quỹ BHYT
/" \
_
__________
Cơ sở pháp lý cho BHYT
bắt buôc chưa manh
Hình 1.2: Bất cập của chính sách BHYT hiện nay
1.1.3.1. Phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT
Phương thức thanh toán chi phí KCB hiện nay đang chứa đựng những
nguy cơ không an toàn của quỹ. Do khống cổ quy định ràng buộc và phân định -
trách nhiệm rõ ràng giữa các bên tham gia chính sách, việc lựa chọn phương thức
thanh toán giữa cơ sở KCB và cơ quan BHXH còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó
nội dung của phương thức thanh toán mới (định suất) chưa xác định cơ chế
khuyến khích cơ sở KCB tăng cường tiết kiệm chi phí, chỉ định và cung cấp các
DVYT một cách hợp lý, an toàn và hiệu quả. [2] [21] Quỹ BHYT thanh toán chi
phí khám chữa bệnh theo giá thu một phần viện phí, về bản chất đây là phương
thức thanh toán theo phí dịch vụ - một phương thức mà hệ quả tất yếu không
tránh khỏi là sự leo thang của chi phí KCB và sự tốn kém của chi phí quản lý [4].
Phương thức khuyến khích người cung cấp dịch vụ chỉ định ngày càng nhiều các
10
DVYT không cần thiết như thuốc đắt tiền các dịch vụ chẩn đoán hình ảnh hoặc
chỉ định ngày càng nhiều bệnh nhân vào nội trú khi chưa cần và bệnh viện kéo
dài ngày điều trị không cần thiết. Chi phí quản lý lớn do cơ sở y tế phải dành
nhiều thời gian, nhân lực thống kê tập hợp chi phí theo từng dịch vụ để chuyển
cho quỹ BHYT thanh toán. Cơ quan BHYT cũng phải có lực lượng để kiểm tra
tập hợp số lượng cho kỳ quyết toán. Mặt khác do số lượng bệnh nhân ngày càng
nhiều trong việc tập hợp số liệu dễ dàng xảy ra sai sót và cơ quan BHYT cũng
khó có đủ nhân lực để kiểm tra toàn diện.[15]
Để hạn chế nhược điểm này nước ta cũng theo xu hướng chung của nhiều
nước trên thế giới đã áp dụng biện pháp cùng chi trả hạn chế nhu cầu sử dụng
DVYT của người bệnh, tuy vậy biện pháp này không ảnh hưởng đến việc cung
cấp dịch vụ kỹ thuật đắt tiền vì nguồn thu từ việc cung cấp dịch vụ này ngày càng
trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm tính hấp dẫn của chính sách
BHYT.[17]
Để đảm bảo việc cung ứng thuốc phục vụ nhu cầu KCB của người có thẻ
BHYT đã có nhiều phương thức được áp dụng nhưng chưa có một phương thức
cung ứng nào hội tụ đầy đủ tính ưu việt và đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thuốc
cho bệnh nhân BHYT. Nguyên nhân chủ yếu lại chính từ quy định của Bộ y tế
khi giao trách nhiệm cung ứng thuốc bảo hiểm y tế cho các cơ sở khám chữa
bệnh nhưng cơ quan BHXH mới là đơn vị quản lý quỹ và chi trả chi phí KCB.
Dẫn tới tình trạng BHYT vẫn phải chi trả nhiều thuốc với mức giá không hợp lý
mà chưa thể kiểm soát được.[l]
Một vấn đề nổi cộm nữa mà chưa có giải pháp nào tháo gỡ, ảnh hưởng trực
tiếp đến chính sách BHYT là quản lý giá thuốc KCB và hiệu quả nguồn NSNN
dành cho y tế cũng như hiệu quả sử dụng của quỹ BHYT. Cơ quan BHYT thanh
toán chi phí thuốc sử dụng cho người bệnh BHYT căn cứ theo giá mua vào của
cơ sở KCB đồng nghĩa với việc người bệnh có thẻ BHYT được cơ sở KCB
nhượng nguyên giá thuốc nhập vào mà không tính thêm lãi xuất. Tuy nhiên thực
tế nhiều năm qua cơ quan BHXH đã phải thanh toán chi phí thuốc với giá cao
hơn giá bán trên thị trường cùng chủng loại thuốc, việc xác định giá gốc và thặng
số lưu thông chưa có một cơ sở chuẩn nào. Dẫn đến sự lãng phí và thâm hụt quỹ
BHYT, mất niềm tin của người dân vào chế độ BHYT. Do đó cần có một mô
hình tổ chức cung ứng phù hợp mà người chịu trách nhiệm phải là cơ quan
BHXH trong việc lựa chọn nhà sản xuất thuốc có đủ năng lực chuyên môn và kỹ
thuật công nghệ theo tiêu chuẩn GMP đáp ứng yêu cầu sản xuất thuốc hàng loạt
với số lượng lớn cung cấp cho các cơ sở KCB-BHYT, đồng thời hạn chế mức
chênh lệch giá thuốc đang lãng phí quỹ bảo hiểm vốn đã eo hẹp. [17]
12
1.2. CUNG ỨNG THUỐC BHYT
Hình 1.3: Sơ đồ hệ thống cung ứng thuốc
Trong định hướng của Chính sách Quốc gia về thuốc, với mục tiêu nhằm
đảm bảo cung ứng thuốc đầy đủ, thường xuyên và có chất lượng, thực hiện công
lên BYT đối với các bệnh viện trực thuộc BYT hoặc SYT đối với các bệnh viện
trực thuộc SYT. Có thể theo các phương thức: [10][24]
14
Bảng 1.3: Các phương thức mua sắm tung ứng thuốc
\
Phương
thức
mua
sắm
Mô tả tóm tắt
Hiệu
quả
về giá
Những điều kiện khuyên khích việc
sử dụng phương thức
Đâú
thầu
rộng rãi
Đấu thầu được mở cho tất
cả các nhà cung ứng thích
hợp, công khai về các điều
kiện, thời gian dự thầu trên
các phương tiện thông tin
đại chúng.
Giá
thường
thấp
- Là hình thức chủ yếu được áp dụng
trong đấu thầu.
- Khi những nhà cung ứng uy tín sẵn
tiết hay thoả thuận việc
cung cấp dịch vụ. Việc gửi
chào hàng có thể được thực
hiện bằng cách gửi trực tiếp,
bằng fax, bằng đường bưu
điện hoặc bằng các phương
tiện khác.
Có thể
thích
hợp
- Cơ sở giàu kinh nghiệm cùng với
việc đánh giá tốt tin tức thị trường.
- Các khoản mục giá thấp hoặc mua
với số lượng nhỏ.
- Mua bán khẩn cấp hay đấu thầu bổ
sung.
Chỉ định
thầu
Việc mua bán được thực
hiện trực tiếp từ một nhà
cung ứng đơn lẻ ở giá đưa
ra.
Giá
thường
cao
- Tình trạng mua bán khẩn.
- Mua bán những nguồn thuốc đơn lẻ.
- Các khoản mục giá thấp hoặc số
lượng nhỏ.
15
+ Tháng 5-2004, nghị định 120 về quản lý giá thuốc phòng chữa bệnh cho
người được ban hành qui định: cơ sở bán buôn căn cứ vào giá mua vào và thặng
số bán buôn do Bộ Tài chính qui định để qui định giá bán buôn. Cơ sở bán lẻ sẽ
căn cứ trên giá mua vào và thặng số bán lẻ do Bộ Tài chính qui định để định giá
lố
bán lẻ và cơ sở bán lẻ phải niêm yết bằng cách in, ghi, dán giá bán lẻ trên bao bì
thuốc. Tuy nhiên thặng số bán buôn, bán lẻ cho đến giờ này vẫn tiếp tục tranh
cãi và một thông tư hướng dẫn thực hiện vẫn chưa ra đời.[12]
+ Nhập khẩu song song: Giải pháp nhập khẩu song song đã được BYT đưa
ra nhằm bình ổn giá thuốc tiến tới chống độc quyền. Để đảm bảo chất lượng
thuốc, BYT quy định thuốc nhập khẩu vào VN phải có giấy phép lưu hành tại
nước sở tại của nhà sản xuất hoặc tại nước mà thuốc đó đang được phép lưu
hành. Cơ sở xuất khẩu và cơ sở nhập khẩu phải có cam kết chịu trách nhiệm về
chất lượng thuốc. Tuy nhiên, điều kiện “thuốc nhập khẩu vào VN phải có giấy
phép lưu hành tại nước sở tại của nhà sản xuất hoặc tại nước mà thuốc đó đang
được phép lưu hành” thì rất khó thực hiện, do các nước chỉ cấp một lần duy nhất,
không cấp phép lưu hành cho bên thứ ba trừ khi nhà sản xuất đó thay đổi công
thức, sang nhượng bản quyền cho một nhà sản xuất khác hay thay đổi nhà máy
sản xuất.
Mặt khác hiện nay những công ty được phép nhập khẩu để chống độc
quyền mới chỉ nhập một số mặt hàng đặc trị có giá cao và như thế thì chưa đủ đề
bình ổn giá tất cả các mặt hàng trên thị trường.[18] [25]
+ Một thực tế cần nhìn nhận lại là giá thuốc tăng tương đương với sự gia
tăng của chỉ số tiêu dùng. Thuốc tăng giá thời gian qua hầu hết đều là thuốc
ngoại nhập hoặc nguyên liệu làm thuốc trong đó phụ thuộc rất nhiều vào ngành
công nghiệp hóa dầu. Giá dầu lửa và nhiều chi phí khác nữa tăng khiến giá thuốc
tăng và điều đó nằm ngoài mong muốn của các doanh nghiệp dược. Chưa tính
đến các chi phí đầu tư thiết bị mới, khấu hao, cùng các chi phí chủ quan khác. Bộ
Y Tế đã khẳng định tỷ lệ tăng giá của nhóm hàng dược phẩm so với biến thiên
của chỉ số giá tiêu dùng là tương đương nhau. Tỷ lệ tăng giá nhóm hàng dược
ngành dược phát triển như vậy nhưng thực tế thuốc sản xuất trong nước khó có
thể vào bệnh viện. [7]
- Quy trình đấu thầu hiện nay còn rất nhiều bất cập trong quản lý giá thuốc
BHYT, việc xác định giá gốc và thặng số lưu thông chưa có một cơ sở chuẩn nào.
Tại một sô địa phương một thặng số lưu thông nhất định được xác định để hoạch
toán vào giá thuốc mà cơ quan BHYT phải thanh toán. Tuy nhiên phương pháp
thống nhất để xác định thặng số lưu thông còn nhiều vấn đề đang gây tranh cãi,
trong đó căn cứ để xác định giá gốc để nhân với thặng số lưu thông là một trong
những vấn đề nổi cộm. Yêu cầu cấp thiết cần có một mô hình tổ chức cung ứng
phù hợp mà người chịu trách nhiệm phải là cơ quan BHXH trong việc lựa chọn
nhà sản xuất thuốc có đủ năng lực chuyên môn và kỹ thuật công nghệ theo tiêu
chuẩn GMP đáp ứng yêu cầu sản xuất thuốc hàng loạt với số lượng lớn cung cấp
cho các cơ sở KCB-BHYT, đồng thời hạn chế mức chênh lệch giá thuốc đang
lãng phí của quỹ bảo hiểm vốn đã eo hẹp. [17]
18
> Một sô nghiên cứu về chính sách BHYT ở Việt Nam
- Lê Mạnh Hùng (2003) Luận văn Thạc sỹ Dược học “Nghiên cứu đánh
giá một số hoạt động và chính sách BHYT ở Việt Nam từ năm 1999-2001”.
- Chu Văn Dương (2004), Luận văn tốt nghiệp “Bước đầu khảo sát mô
hình tổ chức, chính sách cơ chế hoạt động của BHYT ở Việt Nam và một số nước
trên thế giới
- Đỗ Thị Hạnh Lê (2005), Luận văn tốt nghiệp “Khảo sát đánh giá hệ
thống chính sách và thực trạng chi trả tiền thuốc cho các đối tượng BHYT trong
giai đoạn 2001-2004”.
- Phạm Lương Sơn (2005), Luận văn Thạc sỹ Dược học “Nghiên cứu đánh
giá chính sách chi trả tiền thuốc theo chế độ BHYT ở Việt Nam”.
Các nghiên cứu đã chỉ ra
+ Mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động và hệ thống chính sách BHYT của
Việt Nam hiện nay được quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương đã
thực hiện đầy đủ và triệt để chức năng chỉ đạo và điều tiết các hoạt động liên