MỤC LỤC:
A.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lý do chủ quan:
2. Lý do khách quan:
B.CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Quan niệm mới mẻ về môn văn và dạy học tác phẩm văn chương.
2. Về cách hiểu: Chọn điểm đột phá và lồng ghép.
C.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
D. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Cách khai thác tránh cháy giáo án:
2. Cách chọn điểm đột phá ấn tượng, dễ hiểu.
3. Cách lồng ghép trong quá trình phân tích.
E. KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ :
1.Tự kiểm tra đánh giá qua giờ dạy của bản thân :
2. Đánh giá qua việc dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp:
3.Bảng số liệu ghi chép đánh giá ( năm học 2007-2008)
a. Bảng số liệu đánh gía hiệu quả về mặt thời gian thực hiện dạy trên lớp
b.Bảng số liệu đánh giá kết quả học tập của học sinh
H. KẾT LUẬN
*DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO :
*Chú thích: Về tên sáng kiến kinh nghiệm.
Trong thực trạng và biện pháp thực hiện sáng kiến kinh nghiệm tôi đã đưa ra
và nêu một số giải pháp đã thực hiện như :cách đặt câu hỏi , cách chuẩn bị
giáo án , cách dùng tranh minh họa , chọn điểm đột phá và lồng ghép … Nhưng
tôi ghi tên sáng kiến kinh nghiệm là : Chọn điểm đột phá và lồng ghép trong
quá trình phân tích tác phẩm văn chương bậc THCS để khắc phục tình
1
trạng thiếu giờ và giúp học sinh dễ hiểu bài. Vì tôi cho rằng “Chọn điểm đột
phá và lồng ghép” là cách làm chính của tôi khi thực hiện kinh nghiêm này .
Đề tài :
theo hướng tích cực, sáng tạo dưới sự tổ chức của thầy. Để đạt được như vậy
giáo viên cần phải thiết kế giáo án làm sao, phải có phương án khai thác văn
bản, cách phân tích như thế nào, để có thể chuyển hóa một cách tối đa, có hiệu
quả mục tiêu trang giáo án, tác phẩm văn chương đến từng học sinh trong lớp
học (THCS).
2. Lý do khách quan:
Hiện nay ta thấy trình độ văn hóa, văn minh của xã hội luôn tiến bộ không
ngừng điều đó đã đặt ra cho nghành giáo dục một nhiệm vụ hết sức nặng nề là
phải đào tạo ra những con người toàn diện, thế hệ trẻ của chúng ta trong tương
3
lai không chỉ phải có đủ tài mà còn phải hoàn thiện về cả đức. Xuất phát từ chức
năng của môn ngữ văn là không chỉ có giúp cho học sinh nhận thức tốt mà còn
phải giáo dục cho các em về thẩm mỹ trong cuộc sống đó là lòng yêu quê
hương, đất nước, yêu thương con người, biết tự hào và góp phần tài trí của mình
để xây dựng và bảo vệ tổ quốc …Có thế mới đáp ứng được đòi hỏi của sự phát
triển của đất nước. Nhưng thực tế một số học sinh chưa thật mặn mà học môn
Ngữ Văn so với các môn học khác.Vì các em có tâm lý cho rằng đây không
phải là môn học “thời thượng” mà xã hội đang cần …
Là một giáo viên được trực tiếp dạy văn trong nhà trường THCS, được tiếp
cận đào tạo bồi dưỡng phương pháp dạy học mới .Để gieo vào tâm hồn các em
tình yêu văn học, để hoàn thành nhiệm vụ dạy học một cách có hiệu quả, với
lòng yêu nghề, ý thức về công việc đã thôi thúc tôi chọn đề tài này để nghiên
cứu.
B.CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Quan niệm mới mẽ về môn văn và dạy học tác phẩm văn chương.
Dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường được coi là nghành nghệ
thuật “ Trò diễn bằng ngôn từ” thể hiện cuộc sống tinh thần bằng hình tượng, mà
hình tường nghệ thuật lại được xây dựng từ cuộc sống . Khi phân tích tác phẩm
văn chương, giáo viên trên cơ sở kinh nghiệm cảm thụ phân tích của bản thân tổ
chức một cách khoa học và lôgíc để học sinh cảm thụ và nhìn nhận bài tác
sinh hiểu những vấn đề trìu tượng của bài một cách dễ dàng hơn
C.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết giảng văn trước đây, đọc - hiểu văn bản ngày nay
thường bị thiếu giờ, đến nỗi nhiều đồng nghiệp coi đó là bệnh kinh niên! Trong
quá trình giảng dạy nói chung, cũng như dự giờ thao giảng nói riêng, hễ có lớp
5
nào ra muộn thì anh em lại nghĩ đó là giờ văn! Mà quả là đúng thế thật.Giờ văn (
đọc , hiểu văn bản ) người dạy “Khéo” thì cũng thiếu vài ba phút, những người
dạy “chưa khéo lắm” hoặc những người mới ra trường thì ít nhất cũng 5-7
phút là chuyện thường , đó là chưa kể có bài dạy 1 tiết kéo thành 2 tiết điều này
không phải là chuyện hiếm.Thiếu giờ thì chạy vội, chạy vàng. Bài giảng không
tránh khỏi: “đầu voi đuôi chuột”. Trống đánh rồi thì mới tổng kết thì dù thầy có
nghiêm khắc, mềm mỏng đến mấy thì cũng khác nào “dùng tay bốc nước”. Cái
phần chốt lại bài học, lẽ ra như đinh đóng cột lại hóa ra thành “Nước đổ lá
khoai”.Nguyên nhân làm cho chúng ta chưa đạt được mục đích như mong muốn
thì có nhiều.Nhưng cơ bản vẫn là ở thầy và trò.
Đến lớp trò không thuộc bài, không chuẩn bị bài, phần kiểm tra bài kéo
dài.Trình độ kỷ năng nghe, nói, đọc, viết, cảm thụ của học sinh còn yếu làm mất
nhiều thời gian. Mà lớp nào nhiều học sinh ngồi nhầm lớp thì tình trạng này
càng phổ biến.
Nhưng xét kỹ thì lỗi vấn là ở phía thầy.Lỗi bao trùm tất cả là thầy không chủ
động định lượng kiến thức,định hướng phát huy đối tượng cụ thể mà ra.
Trước hết là tật nói nhiều , giảng nhiều .
Những giáo viên mới ra trường kiến thức đang còn dồi dào, nóng hổi, nhiệt
tình sôi nổi, lại ít hiểu học trò nên cái gì cũng muốn giảng, không nói thì sợ
thiếu, sợ học sinh không hiểu. Bài giảng thì ào ào, thầy thì rát cổ họng mà trò
thì như “Gió qua miền tối sáng”.Kiến thức thì lỏm bỏm chẳng đâu ra đâu. Lâu
ngày thành thói quen nói theo cảm xúc của mình mà quên rằng nhiệm vụ của
thầy là phải: “Nói cho học trò tôi hiểu”.
Không ít giáo viên do không nắm được chương trình cả năm , cả cấp, rồi cấp
chương mới tạo ra được sự lung linh kỳ ảo trong cảm nhận của người đọc. Nếu
có ai đó tài giỏi lắm, có đào tạo trình độ nghệ thuật hội họa thì mới vẽ được
7
nàng kiều (sắc sảo - mặn mà ) và rồi cũng không bằng ngôn ngữ văn chương
chỉ cần đọc qua là hiểu ngay được :
“Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn”.
Ngoài ra có một số thầy cô cứ hễ có tiết dự giờ là phải chuẩn bị ít ra cũng vài
ba đồ dùng bằng bảng phụ, thiết kế bảng và sử dụng hợp lý đó là cái hay, thế
nhưng tôi thấy rằng có những bảng không nên làm mà họ cũng cứ cố mà làm
cho được, rồi đến lúc sử dụng thì chẳng đâu vào đâu cả.Đó chẳng phải là phí
công vô ích hay sao. Còn ghi bảng cũng là một nghệ thuật cần phải trau dồi
thường xuyên vì việc ghi bảng không những thể hiện được trình độ kỷ năng của
thầy mà còn giúp cho học trò quan sát được những kiến thức cơ bản, hiểu được
đâu là ý chính, ý phụ từ đó mà học sinh hiểu bài hơn, thậm chí các em còn học
tập được cả cách trình bày của thầy cô.
Vấn đề cơ bản là có khắc phục được căn bệnh trầm kha này không? Theo tôi
thì có thể khắc phục được.
Đặc biệt khi dự giờ , thăm lớp tôi thấy một số thầy cô đang còn lúng túng
trong việc tìm ra phương án khai thác tốt nhất cho văn bản( Chọn điểm đột
phá ) và còn hạn chế trong việc lồng ghép các văn bản đã học ở bài trước ,
lớp dưới , cấp dưới trong quá trình phân tích tác phẩm văn học để giúp học
sinh dễ hiểu bài hơn
Tuy nhiên mỗi thầy cô giáo lại có một cách riêng của mình.Phần tôi, tôi xin
trình bày những việc đã làm được để tránh cháy giáo án mà vẫn đảm bảo hoàn
thành nội dung kiến thức bài học như sau: ( Biện pháp thực hiện)
E. KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ :
1. Tự kiểm tra đánh giá qua giờ dạy của bản thân:
8
Qua quá trình giảng dạy của bản thân tôi thấy rằng trong quá trình giảng dạy
ý ghi chép
để đánh giá
Số giờ áp dụng đạt hiệu
quả
9
11 tiết 10 tiết
( Lý do 1 tiết không đạt
như mong muốn vì học
sinh học bài cũ chưa tốt )
17 tiết 15 tiết ( Lý do 2 tiết không
đạt hiệu quả về mặt thời
gian là vì 01 tiết giáo viên
sử dụng đồ dùng không tốt
và 01 tiết giáo viên chưa
biết tìm cách đột điểm
trong quá trình phân tích
thơ Đường )
b.Bảng số liệu đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học hai văn bản :
“ Nam quốc sơn hà ” của Lý Thường Kiệt và “ Đoàn thuyền đánh cá ”của Huy
Cận
*Văn bản : “ Nam quốc sơn hà ” của Lý Thường Kiệt
Lớp Số lượng học sinh Loại khá ,
giỏi
Loại trung
bình
Loại yếu ,
kém
7B2,4,6 129 32 = 24,8 % 80 = 62 % 17 =13.2%
*Văn bản :“ Đoàn thuyền đánh cá ”của Huy Cận
Lớp Số lượng học sinh Loại khá ,
3 Văn học Việt Nam hiện đại ( 1945 -1975) Mã Giang Lân
4 Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương
( theo loại thể )
Nguyễn Viết Chữ
5 Giáo trình: Văn học Việt Nam từ thế kỷ X
đến giữa thế kỷ XVIII
Bùi Duy Tân
6 Sách giảng văn: văn học Việt Nam trong Trần Đăng Xuyền
11
chương trình THCS
7 Giáo trình : Ngôn ngữ thơ Trương Thị Tuyết
8 Sách giáo khoa - sách giáo viên Ngữ Văn 7
tập một hiện hành. Nhà xuất bản giáo dục
Nguyễn khắc Phi
9 Sách giáo khoa – sách giáo viên ngữ văn 8
Tập một hiện hành. Nhà xuất bản giáo dục
Nguyễn khắc Phi
10 Sách giáo khoa – sách giáo viên ngữ văn 9
Tập hai hiện hành. Nhà xuất bản giáo dục
Nguyễn khắc Phi
Trích nhận xét của hội đồng giám khảo nhà trường:
1/ Lý do chọn đề tài:
Giáo viên lựa chọn đề tài phù hợp với thực trạng chung của nhà trường và tình
hình học tập của học sinh.
2/ Cơ sở lý luận:
Đã đưa ra được những cơ sở lý luận khoa học chặt chẽ, đã tham khảo nhiều tài
liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu bộ môn.
3/ Thực trạng:
Giáo viên đã tìm hiểu nguyên nhân của vấn đề để tìm ra biện pháp giải quyết.
4/ Biện pháp: