BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN HỮU NGHĨA
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA HUYỆN KHÁNH SƠN,TỈNH KHÁNH HÒA
GIAI ĐOẠN 2007-2013 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01 Hà Nội, 2014
LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập, giờ đây khi cuốn luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Quản lý
bệnh viện đã và đang được hoàn thành đó là thành quả trong học tập, với tất cả
tình cảm, sự kính trọng và biết ơn, từ tận đáy lòng mình tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn
sâu sắc đến:
Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo Trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình
giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và hỗ trợ tôi
trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Ban Giám hiệu Trường Đại học Tây Nguyên đã tạo điều kiện về cơ sở vật
chất môi trường học tập cho tôi hoàn thành khóa học.
Thầy TS. Phan Văn Trọng và cô Ths. Nguyễn Quỳnh Anh người đã giúp
đỡ hướng dẫn tôi từ khi xác định vấn đề nghiên cứu, viết đề cương, chia sẻ thông tin
và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban giám đốc bệnh viện đa khoa huyện
Khánh Sơn tỉnh Khánh Hòa và các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác và tiến hành
nghiên cứu, đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, góp ý, hướng dẫn và tham
gia vào nghiên cứu này.
Xin cảm ơn bố mẹ, người vợ yêu quý, hai con gái và những người thân trong
gia đình tôi đã chịu nhiều hy sinh, vất vả, luôn động viên tôi trong suốt quá trình
học tập, làm việc và hoàn thành luận văn.
Xin cám ơn các anh chị em, bạn bè thân hữu đã khuyến khích tôi trên con
đường học tập và các bạn đồng môn lớp Cao học QLBV 5 – Tây Nguyên đã cùng
nhau học tập, chia sẻ kinh nghiệm trong hơn 2 năm qua.
Cuối cùng, với những kết quả trong nghiên cứu này, tôi xin chia sẻ với tất cả
các bạn đồng nghiệp nhất là những ai quan tâm đến lĩnh vực này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nguyễn Hữu Nghĩa
3.3.NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG 7 NĂM THỰC HIỆN
TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN KHÁNH SƠN 44
iii
Chương 4.BÀN LUẬN 49
4.1.KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG 7 NĂM (2007-2013) 49
4.1.3.1. Tình hình nhân lực 61
4.1.3.2. Kết quả hoạt động khám chữa bệnh 61
4.1.3.3. Về hiệu quả hoạt động thu - chi của bệnh viện 62
4.1.3.4. Cân đối thu – chi và trích lập các quỹ 63
4.2.MỘT SỐ THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH 63
Chương 5.KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70
5.1 Kết luận 70
5.1.1.Một số kết quả hoạt động tài chính 70
5.1.2.Thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện 70
5.2.Khuyến nghị 71
:
Chuyên môn nghiệp vụ
CSHT
:
Cơ sở hạ tầng
CSSK
:
Chăm sóc sức khỏe
DVYTTN
:
Dịch vụ y tế tư nhân
GB
:
Giường bệnh
HĐTX
:
Hoạt động thường xuyên
KCB
:
Khám chữa bệnh
KH
Tự chủ tài chính
TLN :
Thảo luận nhóm
TSCĐ
:
Tài sản cố định
TTB
:
Trang thiết bị
TYT
:
Trạm y tế
VNĐ
:
Việt Nam đồng
VTTH
:
Vật tư tiêu hao
VTYT
:
Vật tư y tế
v
Bảng 3.14.
Phân bố các khoản chi mua sắm và sửa chữa lớn TSCĐ (nhóm III) 48
Bảng 3.15.
Tình hình thực hiện dự toán thu sự nghiệp và nghiệp vụ 50
Bảng 3.16.
Cân đối thu – chi 49
Bảng 3.17.
Tình hình trích lập các quỹ 49
Bảng 3.18.
Bình quân chi lương và thu nhập cho CBVC/tháng 52
Bảng 3.19.
Chi tiết các khoản chi cho nghiệp vụ chuyên môn 52 DANH MỤC CÁC BẢNG/ BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1.
Phân bố tổng các nguồn thu sự nghiệp 43
Biểu đồ 3.2.
Phân bố tổng các nguồn thu ngoài NSNN 44
thường xuyên chi trả cho các hoạt động chuyên môn và con người. Khó khăn
vii
đối với bệnh viện huyện Khánh Sơn hiện nay là nguồn nhân lực còn hạn chế,
toàn bệnh viện chỉ có 7 BS và không tăng trong 7 năm nghiên cứu. Nguồn
ngân sách phân bổ theo giường bệnh và số dân chưa phù hợp thực tế hoạt
động của đơn vị và không khuyến khích việc tăng hiệu quả kỹ thuật.
Kết quả nghiên cứu này là một trong những bằng chứng về kết quả thực
hiện tự chủ tại BV tuyến huyện, làm cơ sở cho các nhà quản lý nâng cao hiệu
quả sử dụng nguồn lực trong việc thực hiện tự chủ tài chính của bệnh viện
tuyến huyện nói riêng và ngành Y tế Khánh Hòa nói chung.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài chính Y tế là một trong những thành phần chủ chốt của hệ thống Y
tế có tác động lớn đến vấn đề định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển
của hệ thống Y tế. Một hệ thống tài chính tốt thì tiêu chí đầu tiên phải là đảm
bảo đủ nguồn tài chính chăm sóc sức khỏe cho người dân [3]. Tổng chi cho Y
tế của toàn xã hội so với tổng sản phẩm nội địa của Việt Nam có xu hướng
tăng dần trong những năm qua, từ mức 5,2% năm 2000 lên 6,4% năm 2009,
mức chi giành cho Y tế bình quân đầu người của Việt Nam tăng khá nhanh, từ
mức 21 đô la Mỹ năm 2000 đã lên đến 76 đô la Mỹ vào 2009 [12].
Báo cáo tổng quan của Tài chính Việt Nam cho thấy tỷ trọng các nguồn
tài chính công: ngân sách nhà nước (NSNN), viện trợ xã hội và bảo hiểm Y tế
(BHYT) trong tổng chi tiêu Y tế của toàn xã hội vẫn còn thấp [5]. Chi trực tiếp
từ tiền túi của người dân cho chăm sóc sức khỏe chiếm 60% – 70 % tổng chi Y
tế gây tác động bất lợi đến sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Kết quả
khảo sát của Viện Chiến lược - Chính sách Y tế năm 2010 về thực hiện tự chủ
tài chính tại các bệnh viện công cho thấy: nguồn thu của các bệnh viện đều tăng
Khánh Hòa giai đoạn 2007- 2013 như thế nào?.
Thuân lợi, khó khăn trong công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện đa
khoa huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa là gì?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này nhằm các mục tiêu cụ thể sau:
1. Mô tả thực trạng nguồn thu, nguồn chi tại Bệnh viện đa khoa huyện
Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2007- 2013.
2. Thuân lợi, khó khăn trong công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện
đa khoa huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Định nghĩa, phân loại bệnh viện tại Việt Nam
Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho
người bệnh. Có hai loại là bệnh viện công lập (thuộc sở hữu nhà nước) và
bệnh viện ngoài công lập (thuộc sở hữu tư nhân) [12]. Nghiên cứu này chỉ đề
cập đến hoạt động của bệnh viện công lập (sau đây gọi tắt là bệnh viện). Căn
cứ vào khả năng huy động nguồn thu sự nghiệp, bệnh viện được phân thành 3
loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đó là:
- Bệnh viện tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động.
- Bệnh viện tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động.
- Bệnh viện do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động.
Cách phân loại này là cơ sở để nhà nước cấp ngân sách cho bệnh viện
và bệnh viện thực hiện phân phối kết quả hoạt động tài chính hàng năm [19].
1.2. Tài chính bệnh viện
1.2.1. Vai trò, chức năng của tài chính bệnh viện
lại không bao cấp phần thiếu hụt, điều này đòi hỏi nhà nước cần thay đổi cơ
chế tính giá viện phí [5], [21].
- Chính sách Bảo hiểm y tế
Tại Việt Nam, BHYT ra đời vào năm 1992 với mô hình BHYT bắt
buộc cho những người làm công ăn lương [21]. Năm 2002, BHYT từ BYT
được chuyển sang Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cùng với việc hoàn thiện các
chính sách về BHYT. Năm 2005, Nghị định Số 63/2005/NĐ-CP được ban
hành về Điều lệ BHYT và năm 2008 Quốc hội đã thông qua Luật BHYT, tạo
5
hành lang pháp lý cho việc xây dựng và triển khai BHYT nhằm mục tiêu bao
phủ BHYT toàn dân [21].
Năm 2009, Nghị định Số 62/2009/NĐ-CP được ban hành để quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT. Sau 3 năm triển
khai, số người tham gia BHYT đã tăng nhanh, ngoài đối tượng tham gia bắt
buộc còn có tự nguyện (học sinh, sinh viên và nông dân ), nhà nước cũng
trích NSNN để mua thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách và
hộ nghèo đồng thời hỗ trợ hộ cận nghèo một phần kinh phí mua BHYT [21].
Đến năm 2010, tỷ lệ tham gia BHYT đạt khoảng 60% dân số và nước
ta đang tiến tới lộ trình BHYT toàn dân vào năm 2020. Với phương thức
thanh toán viện phí theo phí dịch vụ đã có một nhược điểm lớn, đó là có nguy
cơ lạm dụng dịch vụ làm tăng chi phí điều trị. Để bảo toàn quỹ, BHYT đã quy
định các đối tượng tham gia BHYT đồng chi trả từ 0-20% viện phí và thanh
toán trần viện phí. Khi quyết toán chi phí KCB, BHYT chi trả cho bệnh viện
theo thực chi nhưng chi phí bình quân không cao hơn năm trước 10% [5],
[20]. Hiện nay khả năng cân đối quỹ của BHYT vẫn còn thấp và không ổn
định do mức phí đóng BHYT ở đối tượng bắt buộc và tự nguyện thấp hơn
nhiều so với các chi phí Y tế [5], [21].
Chính sách tự chủ tài chính
Nhằm huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho một số ngành trong đó
một phần chi phí hoạt động bao gồm các nguồn thu từ NSNN (cấp cho hoạt
động thường xuyên) và thu sự nghiệp (thu viện phí do người bệnh đóng trực
tiếp, quỹ BHYT chi trả, thu từ hoạt động dịch vụ).
- NSNN cấp cho hoạt động thường xuyên
Hiện nay, ngân sách nhà nước đầu tư cho bệnh viện còn thấp, chưa đáp
ứng được các yêu cầu chi tiêu của bệnh viện, chủ yếu là đầu tư cơ sở hạ tầng,
TTB và trả lương, phụ cấp [5]. Ngân sách cấp cho các bệnh viện dựa vào hạng
bệnh viện và quy mô giường bệnh kế hoạch được giao hàng năm [26]. Việc
7
phân bổ ngân sách mang tính bình quân, dựa vào các chỉ số hành chính mà
chưa căn cứ vào các chỉ số hoạt động chuyên môn, vậy là có bệnh viện hoạt
động tốt, người bệnh đông cũng được cấp kinh phí ngang bằng với bệnh viện
hoạt động yếu, bệnh nhân ít mặc dù có cùng số giường và cùng hạng, dẫn đến
tình trạng bệnh viện chỉ quan tâm đến việc tăng số giường bệnh mà ít chú
trọng phát triển chuyên môn nâng cao chất lượng.
Từ năm 2003, nhà nước đã chuyển một phần ngân sách đầu tư cho bệnh
viện để hỗ trợ trực tiếp cho người bệnh như: Quỹ KCB người nghèo (Quỹ 139),
mua thẻ BHYT cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, người già trên 85 tuổi…
Trong thời gian tới, NSNN cấp trực tiếp cho các bệnh viện vẫn thấp và sẽ tiếp
tục giảm, nên nguồn thu chủ yếu của các bệnh viện sẽ là thu sự nghiệp [5].
- Thu sự nghiệp: bao gồm thu viện phí và thu hoạt động dịch vụ
+ Thu viện phí
Giá viện phí tại bệnh viện trong tỉnh do HĐND và UBND tỉnh phê
duyệt dựa trên khung giá thu MPVP quy định tại Thông tư 14, bổ sung tại
Thông tư 03 và gần đây nhất là thông tư 04. Trong điều kiện nguồn NSNN
hạn chế, nguồn thu viện phí có vai trò rất quan trọng đối với tài chính bệnh
viện. Tuy nhiên, cách tính giá viện phí hiện nay chưa hợp lý vì chưa bao gồm
đầy đủ các chi phí của dịch vụ được cung cấp. Phương thức thanh toán viện
phí theo phí dịch vụ cũng chưa khuyến khích cung cấp dịch vụ KCB có hiệu
những công việc độc hại, nguy hiểm, có cường độ lao động cao. Cơ chế này đã
dẫn đến tình trạng dịch chuyển nhân lực từ bệnh viện công sang bệnh viện tư
hoặc tuyến dưới lên tuyến trên [3], [26].
Năm 2009, trong chi thường xuyên của bệnh viện, Tỷ trọng chi cho con
người là 26.5% [5], [12]. Mức chi cho con người tương đối thấp so với các
nước phát triển (70 - 80%). Chi DVCC là 4,1%. Chi sửa chữa lớn tài sản cố
định là 1,4%. Phần chi cho chuyên môn nghiệp vụ (bao gồm chi cho thuốc,
hóa chất, máu, vật tư tiêu hao, chi cho hoạt động chuyên môn khác) trên tổng
chi là 59,3% trong đó chi vật tư tiêu hao chiếm 6,8% tổng chi và chi thuốc
9
cao chiếm 49,5% tổng chi trong khi việc kiểm soát cung ứng và sử dụng
thuốc còn nhiều khó khăn.
1.5. Những thuận lợi, khó khăn trong tự chủ tài chính bệnh viện tại Việt Nam
1.5.1. Thuận lợi
Cơ cấu tài chính Y tế ở Việt Nam biến động theo hướng tích cực với sự
gia tăng tỷ lệ chi tiêu công, tăng chi NSNN cho Y tế, tăng diện bao phủ
BHYT và chi tiêu tư giảm dần. Tỷ lệ tăng NSNN cho y tế hằng năm trung
bình là 22%/năm [13]. Chính phủ đã ban hành nhiều Quyết định để tăng đầu
tư cho Y tế, trong đó có đầu tư cho các bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện khu
vực, các TYT xã, Trung tâm Y tế dự phòng tuyến huyện, bên cạnh việc tăng
chi thường xuyên [13].
Tự chủ tài chính cho các cơ sở y tế công lập, các đơn vị sự nghiệp trong
ngành Y tế đã thực hiện tự chủ tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của
Chính phủ và đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận như: quyền lực và
trách nhiệm của lãnh đạo cơ quan được tăng lên rõ rệt. Nguồn thu tài chính
của các đơn vị tăng đáng kể, góp phần giải quyết những khó khăn do nguồn
đầu tư của Nhà nước còn hạn hẹp. Chất lượng và hiệu quả hoạt động của các
đơn vị được cải thiện đáng kể, thu nhập của cán bộ y tế được tăng thêm [3].
Chính sách TCTC đã tạo điều kiện cho các bệnh viện tự chịu trách
theo quy định chỉ thu một phần trong tổng chi phí, chủ yếu chi phí thuốc, vật
tư và các dịch vụ xét nghiệm [7]. Ngân sách cấp trực tiếp cho các bệnh viện
chỉ bù đắp một phần của chi phí vận hành, chi phí lao động và chi khấu hao
trang thiết bị và nhà cửa. Vì vậy, phần thu từ một phần viện phí và NSNN cấp
chưa bù đắp đủ chi phí để đảm bảo hoạt động và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Phương thức phân bổ NSNN theo đầu vào có nhiều hạn chế: đa số các
bệnh viện công vẫn đang được phân bổ ngân sách trên cơ sở những mục ngân
sách theo yêu cầu nguồn lực đầu vào (số giường bệnh, số cán bộ ). Về cơ
bản, ngân sách theo định hướng đầu vào nhằm mục tiêu kiểm soát chi tiêu mà
11
không gắn ngân sách với chất lượng, hiệu quả công việc và kết quả đầu ra.
Việc “hoàn thành kế hoạch” luôn đi kèm với việc “giải ngân” phần ngân sách
đã được phân bổ mà không có những yếu tố khuyến khích sử dụng nguồn lực
một cách hiệu quả. Trên thực tế, số lượng giường bệnh nội trú chưa phải là
chỉ số hợp lý về nhu cầu nguồn lực, vì nó không phản ánh thực tế năng suất
và hiệu quả hoạt động của các bệnh viện. Các bệnh viện công có thể cố gắng
để có được lượng ngân sách phân bổ lớn hơn thông qua tăng số giường bệnh,
khuyến khích thu dung bệnh nhân không hợp lý, tăng bệnh nhân nội trú, kéo
dài thời gian điều trị để có tỷ lệ sử dụng giường cao hơn Đây có thể là một
trong số những nguyên nhân các bệnh viện tuyến trên liên tục trong tình trạng
quá tải với công suất sử dụng giường tới 130%-150% [13].
1.6. Một số nghiên cứu về tự chủ tài chính bệnh viện trên thế giới và Việt Nam
1.6.1. Các nghiên cứu về tự chủ tài chính bệnh viện trên thế giới
Quá trình "tự chủ", trong đó có TCTC được thực hiện ở nhiều nước
trên thế giới cùng với xu hướng đổi mới quản lý khu vực công diễn ra vào đầu
những năm 80 của thế kỷ trước [23]. Khái niệm này ngày càng được xác định
rõ hơn, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất. Theo World Bank, tự chủ hóa và
doanh nghiệp hóa là những cải cách đem lại cho các cơ quan cung ứng dịch
vụ công có quyền tự chủ nhiều hơn và dựa vào những khuyến khích của thị
nghiên cứu về tự chủ bệnh viện tại 5 nước đang phát triển (Ấn Độ, Indonesia,
Ghana, Zimbabwe, Kenya) [32]. Nghiên cứu kết hợp phân tích định lượng và
định tính (thu thập và phân tích số liệu thứ cấp, quan sát trực tiếp, phỏng vấn
và phát vấn) những kinh nghiệm dựa trên khung lý thuyết đưa ra với 4 tiêu chí
đánh giá kết quả tự chủ bệnh viện là: hiệu quả, công bằng, chất lượng KCB và
độ tin tưởng của cộng đồng.
Tại Ấn Độ, Chính phủ trao quyền tự chủ cho bệnh viện thông qua việc
tạo ra một tổ chức độc lập thay thế cho Bộ Y tế trong quản lý bệnh viện
nhưng vẫn nằm dưới sự quản lý của chính phủ. Ở mô hình này, bệnh viện có
13
một số tự chủ về tài chính và quản lý, các bệnh viện đã lập một số hình thức
để tăng thu như: thu viện phí, quyên góp, sổ xố và nhận các hỗ trợ từ bên
ngoài. Kết quả có được là số lượng TTB được đầu tư tăng nhanh, đặc biệt ở
khu vực cấp cứu và hồi sức; cơ sở hạ tầng, điện, nước đều được cải thiện.
Chất lượng KCB cũng được đánh giá tốt lên thông qua nghiên cứu định tính
trên phản hồi của bệnh nhân. Một số điểm chưa đạt được trong tự chủ bệnh
viện là chế độ khuyến khích về lương cho nhân viên không thay đổi so với cơ
chế cũ do bệnh viện vẫn không có quyền tự chủ về nhân lực.
Indonesia bắt đầu thực hiện TCTC từ năm 1991 tại Bệnh viện Swadana
[32]. Đây là bệnh viện trực thuộc chính phủ, chịu sự quản lý của BYT, Bộ
Nội vụ và chính quyền địa phương. Mô hình tự chủ tại bệnh viện này có quản
lý về cơ bản tương tự như ở Việt Nam. Bệnh viện được giữ lại viện phí, được
mua TTB, thuốc, tăng lương cho cán bộ và thuê cán bộ hợp đồng. Bệnh viện
được tổ chức đấu thầu cho thuê dịch vụ ăn uống, giặt và vệ sinh. Tuy nhiên,
không được dùng viện phí để đầu tư CSHT và TTB. Sau khi thực hiện TCTC,
nguồn kinh phí của Bệnh viện đã tăng lên đáng kể và nguồn thu từ NSNN hỗ
trợ cũng tăng lên.
1.6.2. Các nghiên cứu về tự chủ tài chính bệnh viện tại Việt Nam
Tại Việt nam, một số bệnh viện bắt đầu thực hiện TCTC từ năm 2002
chi phí không tăng. Trong khi đó, chi phí từ tiền túi bệnh nhân và chi phí cho
một ca bệnh lại tăng. Bên cạnh đó, chưa thấy sự cải thiện về chất lượng KCB
và mức độ nguồn lực được sử dụng.
Một nghiên cứu khác cũng cho thấy: sau khi thực hiện TCTC thì các
bệnh viện đều mở rộng các loại hình dịch vụ KCB [25], [28], nguồn thu tại
các bệnh viện đều tăng. Tỷ trọng và cơ cấu nguồn thu đều thay đổi theo
hướng tỷ trọng NSNN cấp giảm, tỷ trọng nguồn thu sự nghiệp tăng. Cơ cấu
chi cũng có sự thay đổi, thu nhập của NVYT được cải thiện.
15
Năm 2009, Viện Chiến lược và Chính sách y tế phối hợp với Vụ Kế
hoạch Tài chính BYT đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tình hình thực hiện
Nghị định 43 trong hệ thống bệnh viện công lập [28]. Nghiên cứu gồm 3 mục
tiêu, trong đó có mục tiêu đánh giá kết quả triển khai thực hiện Nghị định 43
tại các bệnh viện công lập về các mặt: Thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy,
biên chế và tài chính. Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra cắt ngang kết
hợp với hồi cứu các số liệu hoạt động của bệnh viện (2005-2008). Nghiên cứu
được thực hiện tại 18 bệnh viện gồm 7 bệnh viện tuyến trung ương, 5 bệnh
viện tuyến tỉnh/thành phố và 6 bệnh viện tuyến quận/huyện. Kết quả cho thấy,
các bệnh viện đều mở rộng các loại hình dịch vụ KCB, có sự thay đổi rõ rệt
về hoạt động chuyên môn. So sánh số liệu 2008 và 2005 tại các bệnh viện
trung ương cho thấy: Công suất sử dụng giường bệnh tăng 17%, số lượt nhập
viện tăng 1,2 - 1,4 lần, số xét nghiệm bình quân/lượt bệnh nhân tăng 1,4 lần
và chụp CT Scaner trung bình/lượt bệnh nhân tăng 2 lần.
TCTC đã tạo điều kiện cho các bệnh viện chủ động hơn về tài chính
[39]. Tổng nguồn thu của các bệnh viện tăng nhanh qua các năm từ khi thực
hiện tự chủ. So sánh năm 2008 với năm 2005, nguồn thu của bệnh viện tuyến
trung ương tăng gần 3 lần, trong đó mức tăng chủ yếu là từ nguồn thu sự
nghiệp bao gồm viện phí trực tiếp, viện phí BHYT và nguồn thu khác. Tỷ
trọng và cơ cấu các nguồn thu thay đổi theo hướng tỷ trọng nguồn thu từ
bệnh viện tăng gần 2 lần. Nghiên cứu này đã phân tích thực trạng thu chi dưới
góc độ nghiên cứu tài chính doanh nghiệp nhưng chưa nghiên cứu TCBV
trong mối quan hệ với tăng chi phí điều trị làm giảm khả năng tiếp cận DVYT
của người bệnh và chất lượng DVYT.