HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
--------------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA HUYỆN QUẢNG XƯƠNG –
TỈNH THANH HÓA”
Người thực hiện
: PHẠM THỊ THU
Lớp
: K57-MTA
Khóa
: 57
Chuyên ngành
: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN THỊ HỒNG LINH
Giáo viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN THỊ HỒNG LINH
Địa điểm thực tập : huyện Quảng Xương - tỉnhThanh Hóa
Hà nội – 2016
2
2
2
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Môi trường, Học Viện NôngNghiệp Việt
Nam. Và sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn Nguyễn Thị Hồng Linh, em đã
thực hiện đề tài : “ Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế
tại bệnh viện đa khoa huyện Quảng Xương – tỉnh Thanh Hóa”
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo
đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu tại trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam.
Xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn Nguyễn Thị Hồng Linh đã
tận tình, chu đáo hướng dẫn em thực hiện khóa luận này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực để thực hiện đề tài một cách hoàn
chỉnh nhất. Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa
học, tiếp cận thực tế, cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm cho nên
không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được sự đóng
góp, ý kiến của Quý thầy giáo, cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn
chỉnh tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
CTRYT
: Chất thải rắn y tế
CTR
: Chất thải rắn
CTYTNH
: Chất thải y tế nguy hại
CTTT
: Chất thải thông thường
QCVN
: Quy chuẩn Việt Nam
WHO
: World Health Origanization
5
DANH MỤC BẢNG
STT
những người phơi nhiễm (như HIV, HBV, HCV).
Có thể nói chất thải y tếđã và đang là vấn đề quan tâm của toàn xã nói chung
và của ngành y tế và môi trường nói riêng. Chất thải y tế tiềm ẩn những nguy
cơ rủi ro lây nhiễm các mầm bệnh hoặc gây nguy hại cho người bệnh, nhân
viên y tế và cộng đồng nếu không được quản lý theo đúng cách tương ứng với
từng loại chất thải. Trong khi đó, vấn đề chất thải y tế vẫn chưa được chính
những người làm phát sinh chất thải và người làm công tác quản lý chất thải
quan tâm đúng mức.
Thanh Hóa là một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế xã hội khá cao, đứng thứ 3
về dân số trong các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương. Cùng với chất
lượng đời sống được nâng lên thì nhu cầu về y tế của người dân cũng ngày
một tăng. Dẫn đến lượng rác thải y tế của Thanh Hóa tăng cao. Hầu hết các
bệnh viện trên địa bàn tỉnh được xây dựng từ lâu, trong quy hoạch không có
7
7
hệ thống xử lý chất thải hoặc nếu có cũng không phù hợp và hoạt động kém
hiệu quả. Các điểm tập trung chất thải đều nằm trong khuôn viên bệnh viện,
không đảm bảo vệ sinh. Bên cạnh đó nhận thức về thực hành xử lý chất thải
trong các bộ y tế, nhân viên làm công tác xử lý chất thải và bệnh nhân còn
chưa cao.
Bệnh viện đa khoa huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa là một trong những
nơi tiếp nhận và điều trị bệnh. Sau nhiều lần nâng cấp, xây dựng mới, đến nay
bệnh viện có 205 giường bệnh, mỗi ngày tiếp đón hàng trăm lượt người đến
khám chữa bệnh. Theo dự báo, chất thải y tế sẽ tăng nhanh trong thời gian tới.
Vì vậy, việc phát sinh và thải bỏ chất thải y tế nếu không được kiểm soát chặt
chẽ sẽ gây nguy hại đến môi trường xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp đến
sức khỏe của người dân. Hiện nay, công tác quản lý chất thải y tế ở bệnh viện
tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y
tế.
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc
tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải nguy
hại lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm.
Chất thải y tế thông thường là chất thải được phát sinh từ các buồng bệnh, từ
các công việc hành chính ( giấy, báo, nilon…) lá cây và rác sinh hoạt ở khu
vực ngoại cảnh, là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm cho con người.
1.1.2. Nguồn gốc chất thải rắn y tế
Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện, các cơ sở y tế khác như:
trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng
khám ngoại trú, trung tâm lọc máu...các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu
y sinh học, ngân hàng máu... Hầu hết các CTRYT đều có tính chất độc hại và
tính đặc thù khác với các loại CTR khác. Các nguồn xả chất lây lan độc hại
chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược.
9
9
1.1.3. Phân loại chất thải rắn y tế
1.1.3.1. Chất thải nguy hại lây nhiễm bao gồm:
a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các
vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc
nhọn của dây truyền, kim chọc dò, kim châm cứu, lưỡi dao mổ, đinh, cưa
dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác.
b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính,
chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể, các chất thải phát sinh từ buồng bệnh
cách ly.
Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc
thù so với các loại CTR khác. Các loại chất thải này nếu không được phân
loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra
những nguy hại đáng kể.Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa được
trình bày trong biểu đồ sau:
Hình 1.1: Biểu đồ thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa
(Nguồn: Kết quả điều tra của dự án hợp tác giữ BYT và WHO, 2009)
Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các
thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTRYT,
chưa kể 52% CTR y tế là các chất hữu cơ. Trong thành phần CTRYT có
lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có
thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêu
đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại.
1.1.5. Khối lượng chất thải rắn y tế
Tham khảo số liệu một số nước công nghiệp em thấy lượng chất thải
bệnh viện như sau:
Bảng 1.1. Lượng chất thải của một số phòng khoa trong bệnh viện
Phòng khoa
Khoa điều trị
11
Lượng chất thải
1,5 - 3,0
11
Đơn vị
Kg/ngày/giường
Khoa hồi sức cấp cứu
(kg/giường/ngày)
hại (kg/giường/ngày)
Khoa
BV
BV
BV
Trung
BV
BV
BV
Trung
TW
Tỉnh
Huyện
bình
0,30
0,31
0,18
Khoa nội
0,64
0,47
0,45
0,04
0,03
0,02
Khoa nhi
0,50
0,41
0,45
0,04
0,21
0,22
0,17
Khoa mắt/TMH
0,66
0,68
0,34
0,12
0,10
0,08
Khoa cận lâm sàng
0,11
0,10
0,08
0,03
+ Các loại hóa chất dược phẩm có thành phần độc, tế bào nguy hiểm.
+ Các chất chứa đồng vị phóng xạ.
+ Vật sắc nhọn có thể gây tổn thương.
+ Chất thải có yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội.
a, Nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:
Các vật thể trong thành phần chất thải y tế chứa đựng một lượng lớn các
tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B. Các
tác nhân này có thể thâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:
+ Qua da, qua một vết thương, trầy xước hoặc vết cắn trên da do vật sắc
nhọn gây tổn thương.
+ Qua niêm mạc, màng nhầy.
+ Qua đường hô hấp do hít phải.
+ Qua đường tiêu hóa do nuốt, ăn phải.
b, Nguy cơ từ các chất thải gây độc tế bào:
Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động
đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình tổng hợp ADN
hoặc quá trình phân bào nguyên phân. Nhiều loại thuốc có độc tính cao và gây
nên hậu quả hủy hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc măt.
Chúng cũng có thể gây ra chóng mặt buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da.
14
14
c, Nguy cơ từ chất thải phóng xạ:
Loại bệnh và hội chứng gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi
loại chất thải đối tượng và phạm vi tiếp xúc. Nó có thể là hội chứng đau đầu,
hoa mắt, chóng mặt và nôn nhiều một cách bất thường. Chất thải phóng xạ, cũng
như chất thải dược phẩm, là một loại độc hại tới tế bào, gen. Tiếp xúc với các
nguồn phóng xạ có hoạt tính cao ví dụ như nguồn phóng xạ của các thiết bị
Nếu không được xử lý trước khi thải bỏ vào hệ thống thoát nước chung của
thành phố thì có thể gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước.
Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh.
Đặc biệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể
gây ô nhiễm. (Nguồn: Cục Y Tế dự phòng & Môi Trường, Bộ Y Tế)
1.3. Quy trình quản lý chất thải y tế
Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu
gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất
thải y tế và kiểm tra, giám sát thực hiện. Giống như các loại chất thải khác thì
việc quản lý chất thải y tế cũng chia thành các công đoạn : phân loại, thu gom,
vận chuyển và xử lý.
1.3.1. Giảm thiểu tại nguồn
- Chọn nhà cung cấp hậu cần cho bệnh viện mà sản phẩm của họ ít phế
thải hay giảm lượng chất thải rắn y tế nguy hại phải xử lý đặc biệt.
- Sử dụng các biện pháp khử trùng tẩy uế cơ lý học nhiều hơn các biện
pháp hóa học sẽ giảm thiểu chất thải nguy hại.
-
Giảm thiểu chất thải, nhất là trong công tác hộ lý và khử trùng tẩy.
1.3.2. Phân loại chất thải y tế
•
Nguyên tắc phân loại chất thải y tế
a) Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại
để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh.
b) Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ,
thiết bị lưu chứa chất thải. Trường hợp các chất thải y tế nguy hại không có khả
năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý có
e) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng
cụ có nắp đậy kín.
g) Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng
trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh.
h) Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi
hoặc trong thùng có lót túi và có màu trắng.( Nguồn : Theo
số: 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT)
1.3.3. Thu gom chất thải y tế
1.3.3.1. Thu gom chất thải nguy hại lây nhiễm
a) Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực
lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế.
17
17
b) Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng
đựng chất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò rỉ chất thải trong
quá trình thu gom.
c) Cơ sở y tế quy định tuyến đường và thời điểm thu gom chất thải lây
nhiễm phù hợp để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh và
khu vực khác trong cơ sở y tế.
d) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu
gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế.
đ) Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu
giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 1lần/ngày.
e) Đối với các cơ sở y tế có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05
kg/ngày, tần suất thu gom chất thải lây nhiễm sắc nhọn từ nơi phát sinh về
khu lưu giữ tạm thời trong khuôn viên cơ sở y tế hoặc đưa đi xử
lý,tiêu hủy tối thiểu là 1 lần/tháng.
Chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm phải lưu giữ
riêng trừ trường hợp các loại chất thải này áp dụng cùng một phương pháp xử lý.
Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế và chất thải y tế
thông thường không phục vụ mục đích tái chế được lưu giữ riêng.
Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm:
a) Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh tại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ
chất thải lây nhiễm tại cơ sở y tế không quá 02 ngày trong điều kiện bình
thường. Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh
dưới 8°C, thời gian lưu giữ tối đa là 07 ngày. Đối với cơ sở y tế có lượng chất
thải lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, thời gian lưu giữ không quá 03
ngày trong điều kiện bình thường và phải được lưu giữ trong các bao bì được
buộc kín hoặc thiết bị lưu chứa được đậy nắp kín.
b) Đối với chất thải lây nhiễm được vận chuyển từ cơ sở y tế khác về để xử lý
theo mô hình cụm hoặc mô hình tập trung, phải ưu tiên xử lý trong ngày.
Trường hợp chưa xử lý ngay trong ngày, phải lưu giữ ở nhiệt độ dưới 20°C và
thời gian lưu giữ tối đa không quá 02 ngày .( Nguồn: Theo số: 58/2015/TTLTBYT-BTNMT)
19
19
1.3.5. Vận chuyển chất thải y tế
Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh
đến nơi xử lý ban đầu, lưu giữ và tiêu hủy.
Vận chuyển chất thải gồm có 2 quá trình vận chuyển riêng biệt. Thứ
nhất là vận chuyển trong các cơ sở y tế thường được thực hiện bởi các hộ lý
của các khoa, phòng hay nhân viên vệ sinh của bệnh viện. Thứ hai là vận
chuyển chất thải bên ngoài cơ sở y tế, các cơ sở y tế có thể ký hợp đồng với
cơ sở có tư cách pháp nhân trong việc vận chuyển và tiêu hủy chất thải.
1.3.6. Xử lý chất thải y tế
sung nước/hơi nước) và sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa trong điều
kiện nhiệt độ, áp suất cao. Trong phương pháp này thường đi kèm các thiết bị
máy cắt, nghiền và máy ép để giảm thể tích chất thải. Các loại CTLN có thể
xử lý được: Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (có thấm máu, dịch sinh học
và chất thải từ buồng cách ly), chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải
giải phẫu. CTR sau khi khử khuẩn, giảm thể tích đạt tiêu chuẩn có thể xử lý,
tái chế, tiêu hủy như chất thải thông thường.
e. Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh: Chỉ áp dụng tạm thời đối với các
BV thuộc khu vực khó khăn chưa có cơ sở xử lý CTYTNH đạt tiêu chuẩn tại
địa phương. Không chôn chất thải lây nhiễm lẫn với chất thải thông thường.
g. Phương pháp đóng rắn (trơ hóa): Chất thải cần đóng rắn được
nghiền nhỏ, sau đó được đưa vào máy trộn theo từng mẻ. Các chất phụ gia
như xi măng, cát và polymer được bổ sung vào để thực hiện quá trình hòa
trộn khô, sau đó tiếp tục bổ sung nước vào để thực hiện quá trình hòa trộn
ướt. Sau 28 ngày bảo dưỡng khối rắn, quá trình đóng rắn diễn ra làm cho các
thành phần ô nhiễm trong chất thải hoàn toàn bị cô lập. Khối rắn sẽ được
kiểm tra cường độ chịu nén, khả năng rò rỉ và lưu giữ cẩn thận tại kho, sau đó
vận chuyển đến bãi chôn lấp an toàn. Phương pháp đóng rắn đơn giản, dễ
thực hiện, chi phí thấp. ( Nguồn: Sổ tay hướng dẫn quản lý chất thải y tế
trong bệnh viện 2015)
Bảng 1.3 Một số mô hình lò đốt CTYT trên thế giới
21
21
Lò đốt một khoang
Công suất
Lò đốt hai khoang Lò quay
Cần được đào tạo
Cần được
để vận hành
đào tạo tốt
Có
Cần phải đào
tạo ở trình độ
cao
Hiệu quả khử
Ưu điểm
Hạn chế
Hiệu quả khử khuẩn rất cao khuẩn rất cao
Xử lý được tất
Làm giảm đáng kể trọng
Xử lý được chất
cả chất thải
lượng và thể tích chất thải
độc tế bào
22
Chi phí đầu tư
và vận hành cao
Hình 1.2. Lò đốt chuyên dụng cho chất thải y tế ở thể rắn
1.4. Tình hình quản lý và xử lý chất thải y tế trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1. Trên Thế Giới
Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm
và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu. Về quản lý, một loạt những chính
sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này.
Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất CTNH
Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận
chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y
tế. Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy
hại từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc
23
23
gia có điều kiện vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt.
(Nguồn :Trịnh Thị Ngọc Anh 2013).
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP): Nêu rõ mọi người,
mọi cơ quan làm phát sinh chất thải phải chụi trách nhiệm về pháp luật và tài
Bệnh viện trung ương
Bệnh viện tỉnh
Bệnh viện huyện
Tổng lượng chất thải y tế
Chất thải y tế nguy hại
(kg/giường bênh/ngày)
( kg/ giường bệnh/ngày)
4,1 – 8,0
2,1 – 4,2
0,5 – 1,8
0,4 – 1,6
0,2 – 1,1
0,1 – 0,4
Nguồn : Môi trường bệnh viện nhìn từ góc nhìn quản lý an toàn chất thải 2004
Trên thế giới, quản lý và xử lý chất thải bệnh viện đã được nhiều quốc
gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ lâu.Về quản lý, một loạt các chính
24
24
3,9 – 7,4
1,7 – 2,4
3,4 – 4,2
1,2 – 2,7
0,9 – 1,3
1,6 – 2,3
Nguồn : Môi trường bệnh viện nhìn từ góc nhìn quản lý an toàn chất thải 2004
Ở những nước có nền kinh tế phát triển, mức sống của người dân cao
do ý thức bảo vệ sức khỏe của mình và sự đầu tư của chính phủ cho y tế rất
cao nên thường có số lượng chất thải phát sinh cao, cao nhất là ở các nước
Tây Âu và Bắc Mỹ, thấp nhất là Thái Lan.
Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế
giới, đặc biệt là các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Hoa Kì,
Canada...Các nghiên cứu đã quan tâm đến việc như phát sinh, phân loại
CTYT, quản lý CTYT như các biện pháp nhằm giảm thiểu chất thải, tái sử
dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất
25
25