LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin cảm ơn Ban Giám hiệu và các thầy
cô trong Bộ môn Kĩ thuật Môi trường, Viện Môi trường trường Đại học Hàng
hải Việt Nam đã tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp em hoàn thành đề tài tốt
nghiệp này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Thạc Sỹ Phạm Thị
Dương – người đã quan tâm, dìu dắt và tận tình hướng dẫn em trong suốt quá
trình làm đồ án tốt nghiệp. Đồng thời, em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến chị
Phạm Thị Thủy – Trưởng phòng hành chính bệnh viện đa khoa Thái Bình đã
nhiệt tình hướng dẫn em có những đóng góp ý kiến giúp em hoàn thiện đề tài
này.
Được sự đồng ý của Nhà trường, Viện Môi trường trường Đại học Hàng
hải Việt Nam, Bộ môn Kỹ thuật Môi trường và sự hướng dẫn của cô giáo
Phạm Thị Dương, em đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá
hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa Thái Bình và đề
xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý”.
Đồng thời, xin gửi lời cám ơn tới tất cả các bạn sinh viên lớp KMT 52ĐH đã đóng góp ý kiến, giúp đỡ, động viên và khuyến khích tôi trong suốt
thời gian học tập và thực hiện đồ án tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hải Phòng, ngày 30 tháng 11 năm 2015
Người thực hiện
Sinh viên
Bùi Thị Diến.
1
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
bảng
1.1
Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế.
Cơ cấu tổ chức Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn ở bệnh
viện đa khoa Thái Bình.
2
Tran
g
3
27
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, vấn đề môi trường đã được các quốc gia và cộng đồng trên thế
giới quan tâm. Bởi lẽ, suy thoái ô nhiễm và những sự cố môi trường có ảnh
hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn về lâu dài cho thế hệ mai sau.
Toàn thế giới đều đã nhận thức được rằng: phải bảo vệ môi trường thì xã hội
loài người mới phát triển bền vững.
Trong số các loại chất thải, chất thải rắn y tế được xem là khá nguy hại vì
tính chất của chúng là khá phức tạp và khả năng lây nhiễm cao, ảnh hưởng
lớn tới sức khỏe cộng đồng. Việc quản lý tốt, xử lý triệt để các loại chất thải
này là vấn đề mà chính quyền và lãnh đạo nhiều cơ sở y tế các cấp đặc biệt
quan tâm.
Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế đang đà phát triển dẫn đến
nhu cầu khám và điều trị ngày càng gia tăng, một số cơ sở khám chữa bệnh và
bệnh viện tăng mạnh mẽ. Từ năm 1997, các văn bản quản lý chất thải bệnh
3. Nội dung của đề tài
- Giới thiệu tổng quan về chất thải rắn y tế.
- Tìm hiểu thông tin tình hình khám chữa bệnh của bệnh viện đa khoa
Thái Bình.
- Tìm hiểu công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện thông qua tài liệu
liên quan hiện có và khảo sát, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường
chung tại bệnh viện.
- So sánh các yêu cầu của quy định (từ Bộ Y tế và bệnh viện) và hiện
trạng hiện nay nhằm tìm ra các vấn đề còn bất cập.
- Đề xuất biện pháp quản lý chât thải rắn y tế đối với bệnh viện dựa trên
các vấn đề bất cập đã phân tích ở trên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: bệnh viện đa khoa Thái Bình, thành phố Thái
Bình
- Phạm vi nghiên cứu: bệnh viện đa khoa Thái Bình
- Thời gian: 20/9/2015 đến 30/11/2015
- Lĩnh vực đề cập: thông tin về chất thải rắn y tế.
5. Phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp luận: nêu mối quan hệ giữa các yếu tố: khái niệm, thành
phần, phân loại, nguyên nhân, tác hại của chất thải rắn y tế; tình hình
công tác quản lý của bệnh viện, nhận thức về chất thải y tế của cán bộ
nhân viên và đặc biệt là bộ phận làm việc trực tiếp với chất thải rắn y
4
tế. Từ đó rút ra kết luận và đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu
quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện.
Phương pháp tổng hợp số liệu:
- Sưu tầm và thu thập số liệu khách quan đã được nghiên cứu, được công
Mặt khác đây cũng là ngành có cơ sở rộng khắp toàn quốc vì nó đảm bảo
cho người về mặt thể chất và luôn có nhiều đối tượng so với các ngành khác.
Chính vì vậy ngành luôn được sự quan tâm và chú trọng đặc biệt trong hầu
hết tất cả các lĩnh vực.
Kèm theo mối quan tâm đó thì công tác bảo vệ môi trường trong sạch
cũng là vấn nạn đáng lo ngại của hầu hết tất cả các cơ sở y tế toàn quốc. Vì
thế, Y tế là một ngành có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe nhân dân, giải quyết các hậu quả xã hội và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
1.2. Đặc trưng của chất thải rắn y tế
1.2.1. Một số khái niệm về chất thải rắn y tế
Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của
Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế được hiểu
như sau:
1. Chất thải rắn y tế là vật thể rắn được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm
chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.
2. Chất thải rắn y tế nguy hại là chất thải y tế chứa nhiều yếu tố nguy hại
cho sức khỏe con người và môi trường, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc,
phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác
nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn.
3. Quản lý chất thải rắn y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý
ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế,
xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
4. Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát
thải chất thải y tế, bao gồm: giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử
dụng các sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát
chặt chẽ quá trình thực hiện và phân loại chất thải chính xác.
1.1.
6
7
Phòng mổ
Phòng xét nghiệm chụp và rửa phim
Phòng cấp cứu
Phòng bệnh nhân không lây nhiễm
Phòng bệnh nhân truyền nhiễm
Khu bào chế dược phẩm
Khu vực hành chính
Đường thải chung
Buồng tiêm
Chất thải sinh hoạt
Chất thải lâm sàng
Bình áp suất
Chất thải phóng xạ
Chất thải hóa học
Hình 1.1. Nguồn phát sinh chất thải y tế.
Chất thải y tế nguy hại là chất thải có một trong các thành phần như: máu,
dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan người và động vật, bơm
kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ dùng
trong y tế.
Chất thải bệnh viện bao gồm 2 thành phần chính là phần không độc hại
được xử lý đơn giản như rác thải sinh hoạt và phần độc hại cần những biện
pháp xử lý thích hợp để tránh nguy cơ rủi ro ô nhiễm môi trường và ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe con người.
Như vậy, việc xác định nguồn gốc phát sinh chất thải là khâu rất quan
trọng. Do đó, mỗi cơ sở y tế cần xác định lượng và loại chất thải phát sinh từ
dạng lỏng và dạng khí.
- Chất thải phóng xạ rắn bao gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét
nghiệm, chuẩn đoán, điều trị như bơm tiêm, ống tiêm, kim tiêm, gạc sát
khuẩn, ống nghiệm, kính bảo hộ, chai lọ đựng chất phóng xạ…
- Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: dung dịch có chứa chất phóng xạ
phát sinh trong quá trình chuấn đoán, điều trị như các chất bài tiết,
nước súc rửa, nước tiểu của người bệnh, các dụng cụ có chất phóng
xạ…
- Chất thải phóng xạ khí bao gồm: các khí thoát ra từ các kho hóa chất
chứa chất phóng xạ…
c) Chất thải hóa học nguy hại:
Chất thải hóa học nguy hại gồm:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
- Các dung môi dùng trong cơ sở y tế: hợp chất halogen, chlorfom,
holothane, axeton, etyl axetat…
9
- Các chất quang hóa: được sử dụng trong khoa X-quang.
- Formaldehit: đây là hóa chất thường được sử dụng trong bệnh viện, nó
được sử dụng để làm vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ, bảo quản bệnh phẩm
hoặc khử khuẩn các chất lỏng nhiễm khuẩn. Nó được sử dụng trong các
khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, ướp xác….
- Các chất hóa học hỗn hợp: bao gồm các dung dịch làm sạch và khử
khuẩn như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh…
- Các chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế
thủy ngân vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc
quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng ngăn tia xạ
từ các khoa chuẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
- Các chất gây độc tế bào như: lọ thuốc, vỏ chai thuốc, các chất tiết từ
- Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc…
- Rác rưởi, lá cây, đất đá…
b) Thành phần hóa học:
Thành phần hóa học của chất thải rắn y tế bao gồm:
- Vô cơ: hóa chất, thuốc thử…
- Hữu cơ: đồ vải sợi, phần cơ thể, thuốc…
c) Thành phần sinh học:
Thành phần sinh học của chất thải rắn y tế bao gồm:
- Máu, những loại dịch tiết, bệnh phẩm…
- Bộ phận cơ thể bị cắt bỏ, những động vật làm thí nghiệm, đặc biệt là
các vi trùng gây bệnh…
1.3. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe con
người
1.3.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường
Xét về mức độ độc hại và dơ bẩn thì chất thải rắn y tế có xếp vào loại ô
nhiễm bậc nhất trong số các loại chất thải rắn xả thải ra môi trường. Do vậy,
chúng sẽ gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.
a) Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với môi trường đất:
Khi chất thải rắn y tế không được phân loại mà thải chung với rác thải
sinh hoạt và đem chôn lấp tại các bãi rác không đúng quy cách, nước rác sẽ
thấm vào đất, rác tồn đọng trong đất sẽ gây ra sự thay đổi các thành phần và
tính chất hóa lý của đất, gây ô nhiễm vùng đất nơi chôn lấp. Các quá trình hấp
phụ các chất độc hại, trao đổi ion với đất, quá trình kết tủa và phân hủy sinh
học đều làm cho thành phần đất bị ảnh hưởng theo hướng xấu đi.
11
b) Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với môi trường nước:
Chất thải rắn y tế chứa nhiều hóa chất độc hại, vi sinh gây bệnh truyền
nhiễm, nếu không được quản lý đúng theo quy định thì chúng sẽ phát tán vào
12
NOx, dioxin và bụi. Nếu chất thải đốt ở nhiệt độ t o < 900oc thì quá trình đốt sẽ
phát sinh dioxin gây nguy hiểm cho người vận hành lò đốt.
1.3.2. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe con người
a) Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp chất thải rắn y tế
Hầu hết các đối tượng tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại đều có nguy cơ
chịu ảnh hưởng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế và những
người làm công việc thu gom, vận chuyển chất thải y tế. Dưới đây là nhóm
đối tượng có nguy cơ lây nhiễm cao:
- Bác sỹ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện
- Bệnh nhân khám chữa, điều trị nội trú và ngoại trú
- Người nhà bệnh nhân tới chăm sóc hay tới thăm nom
- Những người thu gom rác và làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải
như các lò đốt rác, bãi đổ rác…
- Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ, phục vụ cho các cơ
sở khám chữa bệnh và điều trị như giặt là, lao công, vận chuyển bệnh
nhân…
b) Tác động từ chất thải rắn y tế
Từ các chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:
Thành phần của chất thải rắn y tế có chứa một lượng rất lớn những tác
nhân vi sinh gây bệnh và truyền bệnh, một trong những mối nguy cơ lớn nhất
hiện nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch HIV, các virus lây qua
đường máu như viêm gan B… và rất nhiều bệnh truyền nhiễm khác có thể lan
truyền qua con đường rác thải y tế tới cộng đồng. Hầu hết những virus này
thường lan truyền qua các vết tiêm hoặc tổn thương do kim tiêm có nhiễm
máu của người bệnh, chúng xâm nhập vào cơ thể thông qua các con đường
sau:
cũng là một loại độc hại gen ảnh hưởng tới các yếu tố di truyền; mức độ ảnh
hưởng từ các chất phóng xạ cũng phụ thuộc vào loại chất thải và phạm vi tiếp
xúc, biểu hiện có thể là buồn nôn, chóng mặt và nhiều bất thường khác. Khi
tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao như các nguồn phóng xạ của
máy chụp cắt lớp, máy X-Quang… có thể gây ra một loạt các tổn thương như
phá hủy các mô tế bào, dẫn đến việc xử lý loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ
thể.
1.3.3. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với kinh tế và xã hội
Nhiều ảnh hưởng của chất thải bệnh viện tới đời sống kinh tế, xã hội
chúng ta không thể nhận thấy bằng mắt thường. Ví dụ, việc phát tán các chất
độc hại và sinh vật gây ra các dịch bệnh làm ảnh hưởng tới kinh tế và trật tự
đời sống. Tuy vậy, ít người có khả năng nhận ra đó là những hậu quả của việc
quản lý chất thải không đạt yêu cầu vệ sinh.
Đối với các cơ sở y tế và cơ sở liên quan khác có chất thải y tế đặc biệt là
những chất lây nhiễm nếu không có biện pháp kiểm soát và kế hoạch quản lý
14
sẽ phải chi phí tốn kém để tiêu hủy các loại chất thải này. Ngoài ra, các Công
ty Môi trường đô thị hay các cơ sở xử lý có thể từ chối phục vụ các cơ sở y tế
thiếu trách nhiệm về phân loại chất thải tại nguồn, thậm chí không cấp phép
sử dụng các bãi chôn lấp, như vậy sẽ ảnh hưởng tới kinh phí và công tác quản
lý của các cơ sở y tế, và để giải quyết bắt buộc họ phải nâng cao trách nhiệm
của mình.
1.4. Quản lý chất thải rắn y tế
Quản lý chât thải rắn y tế là quản lý từ khâu phân loại rác thải y tế tại
nguồn, thu gom, lưu giữ và vận chuyển tới nơi xử lý và xử lý sao cho đảm
bảo vệ sinh an toàn môi trường; cuối cùng là đề xuất biện pháp để giảm lượng
chất thải phát sinh trong môi trường bệnh viện.
và chất thải y tế nguy hại.
Việc tách và phân loại phải có thùng chứa, hộp đựng vật sắc nhọn, túi
nilon lót trong thùng … và yêu cầu màu sắc, túi nilon, thùng đựng và biểu
tượng chỉ chất thải y tế phù hợp với quy định của cơ sở y tế cũng như Bộ Y tế
đề ra.
Bảng 1.1 Yêu cầu màu sắc, túi, thùng đựng và biểu tượng chỉ chất thải y tế
Loại chất thải
Chât thải lây nhiễm cao
Chất thải lây nhiễm,
bệnh phẩm, giải phẫu
Vật sắc nhọn
Chất thải y tế có đồng
vị phóng xạ
Chất thải y tế
thông thường
Chất thải có khả năng
tái chế
Màu và đánh dấu
nhãn
Vàng, kí hiệu nhiễm
khuẩn cao
Vàng, có nguy cơ
nhiễm khuẩn
Vàng, đề chữ
“vật sắc nhọn”
Đen, logo có bức xạ
theo quy định
Xanh, như túi đựng rác
sinh hoạt
y tế nguy hại của bệnh viện.
- Yêu cầu trên các túi, thùng thu gom chất thải phải ghi rõ chất thải từ
phòng, khoa, ngày, giờ phát sinh.
- Phải có túi, thùng chứa khác thay thế khi túi, thùng cũ chuyển đi.
c) Lưu chứa:
- Chất thải thông thường và chất thải nguy hại phải được lưu giữ trong
các buồng bệnh khác nhau, tránh để tập trung.
- Khu lưu giữ chất thải phải được xây riêng, tách biệt và cách xa với khu
khám chữa bệnh của bệnh viện.
- Thời gian lưu chứa có thể đến 72 giờ nếu chất thải được chứa trong
thùng lạnh hoặc nhà bảo quản lạnh.
- Tốt nhất là vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế nguy hại ngay trong
ngày, thời gian lưu chứa không quá 48 giờ đối với các khu lưu chứa
thông thường.
d) Vận chuyển:
Chất thải y tế được vận chuyển bằng xe chuyên dụng, đảm bảo các tiêu
chuẩn: có nắp, có thành, đáy kín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ
làm sạch, tẩy uế và làm khô. [1]
1.5. Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam và ở Thái Bình
1.5.1. Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
a) Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Chất thải y tế nói chung, chất thải y tế nguy hại nói riêng hiện đang trở
thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nhiều quốc gia trên thế giới,
trong đó có Việt Nam. “Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, hiện cả nước có
13.511 cơ sở y tế các loại bao gồm: 1.361 cơ sở khám chữa bệnh thuộc tuyến
Trung ương, tỉnh, huyện, bệnh viện ngành và bệnh viện tư nhân; 789 cơ sở
thuộc hệ dự phòng tuyến Trung ương, tỉnh và huyện; 77 cơ sở đào tạo y dược
tuyến Trung ương, tỉnh; 180 cơ sở sản xuất thuốc và 11.104 trạm y tế xã.
17
còn nhiều bất cập trong công tác quản lý, nguyên nhân chính là do các công
đoạn như phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chưa được thực
hiện nghiêm túc tại các cơ sở y tế và các cơ quan, cụ thể là:
18
- Các cơ sở y tế, cơ quan phụ trách thu gom và xử lý chưa đủ các phương
tiện chuyên dụng thu gom và vận chuyển chất thải y tế.
- Lao công, hộ lý, nhân viên bệnh viện chưa được tập huấn hoặc tập huấn
chưa đầy đủ kiến thức về công tác quản lý chất thải bệnh viện.
- Các cơ sở y tế địa phương chưa đủ khả năng xử lý chất thải y tế nguy
hại như chưa có lò đốt hoặc có lò đốt nhưng chưa đủ công suất.
Về tài chính:
Cơ sở hạ tầng của hầu hết các bệnh viện đã xuống cấp do đã xây dựng lâu
năm nhưng thiếu nguồn kinh phí để tu bổ và xây dựng các khu xử lý rác thải y
tế đúng tiêu chuẩn. Một số địa phương và bệnh viện vẫn chưa được lắp đặt hệ
thống lò đốt chất thải y tế nguy hại, nhiều địa phương đã có hệ thống lò đốt
nhưng vẫn chưa đủ nguồn kinh phí để vận hành đưa hệ thống lò đốt vào hoạt
động thường xuyên.
Về công tác quản lý:
Thiếu đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên gia có trình độ kinh nghiệm để
hướng dẫn triển khai các quy trình quản lý chất thải y tế, thiếu phòng chức
năng quản lý chất thải bệnh viện, chưa phân định rõ trách nhiệm về công tác
thanh tra, kiểm tra, kiểm soát môi trường bệnh viện theo từng quý, chưa có
nhiều lớp tập huấn về quản lý chất thải y tế, chưa có được sự quan tâm đúng
mức của chính quyền địa phương.
c) Các biện pháp quản lý của nhà nước trong công tác quản lý chất thải
y tế
Các biện pháp chính sách (cơ sở pháp lý)
độ cực kỳ nguy hiểm song ngay từ lúc này cần phải có những biện pháp chiến
lược trong quan điểm và tầm nhìn để từng bước tháo gỡ khó khăn, giúp cải
thiện môi trường ngành y tế nói riêng và môi trường cả nước nói chung.
1.5.2. Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Thái Bình
Cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Thái Bình hiện bao gồm:
1. Tuyến khu vực, ngành: bệnh viện Đại học Y Thái Bình 200 giường.
2. Tuyến tỉnh: bệnh viện đa khoa tỉnh; bệnh viện phụ sản; bệnh viện tâm
thần; bệnh viện nhi; bệnh viện mắt; bệnh viện y học cố truyền; bệnh
viện điều dưỡng phục hồi chức năng; bệnh viện lao và phổi. Với tổng
số giường bệnh là gần 1600 giường bệnh.
3. Tuyến thành phố: bệnh viện đa khoa thành phố; trung tâm y tế thành
phố, với gần 100 giường bệnh.
4. Tuyến phường, xã: bao gồm 19 trạm y tế trong các phường, xã với gần
100 giường.
5. Tuyến ngoài công lập như: bệnh viện đa khoa Lâm Hoa 50 giường,
bệnh viện đa khoa Hoàng An với 45 giường.
Dự án khu trung tâm y tế Thái Bình rộng 42ha có các dự án như: bệnh
viện đa khoa tỉnh 1000 giường bệnh, bệnh viện nhi, bệnh viện mắt, bệnh viện
tâm thần, trung tâm vận chuyển cấp cứu 115, trung tâm giám định y khoa,
bệnh viện đa khoa Lâm Hoa cơ sở 2, bệnh viện phụ sản tư nhân, phòng khám
20
tư vấn chăm sóc sức khỏe và vận chuyển cấp cứu… đang được triển khai
nhưng công tác xây dựng là khá chậm so với tiến độ đề ra”.
( ).
Hàng năm bệnh viện kiện toàn lại hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn. Hội
đồng tổ chức họp, xây dựng kế hoạch hoạt động của hội đồng và phân công
nhiệm vụ cho các thành viên, các thành viên chịu trách nhiệm phụ trách công
tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại lĩnh vực mình được phân công và thường
Đại học y và trường Cao đẳng y Thái Bình.
2.1.2. Cơ sở pháp lý thành lập và phát triển bệnh viện
Trải qua chặng đường 110 năm xây dựng và trưởng thành (1903 - 2013),
Nhà thương Thái Bình là tiền thân của bệnh viện đa khoa Thái Bình đã có
nhiều cống hiến được ghi nhận trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ
nhân dân. Trước năm 1945, ngoài việc khám chữa bệnh, Nhà thương Thái
Bình còn chú trọng tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh và phương pháp chữa
bệnh bằng Tây y cho người dân, đồng thời thành lập mạng lưới khám chữa
bệnh tại các phủ huyện.
Sau cách mạng tháng Tám 1945, bệnh viện hoạt động dưới sự quản lý của
chính quyền nhân dân. Từ năm 1945 đến năm 1954, bệnh viện đã thực hiện
nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho các tầng lớp nhân dân và
tham gia phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong giai đoạn 1954 -1975,
miền Bắc giải phóng và bước vào phát triển kinh tế - xã hội, làm nhiệm vụ
hậu phương lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bệnh viện Thái Bình đã
tích cực thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh, phục vụ sự nghiệp chung. Từ
22
năm 1994 đến 2013 là thời kỳ lớn mạnh và trưởng thành của bệnh viện đa
khoa tỉnh Thái Bình. Được UBND tỉnh phê duyệt các dự án đầu tư, nâng cấp
cải tạo bệnh viện một cách toàn diện, cơ sở vật chất của bệnh viện đa khoa
tỉnh Thái Bình đã trở nên khang trang, hiện đại. Với quá trình đổi mới toàn
diện, đến nay bệnh viện đã trở thành một cơ sở khám chữa bệnh đầu ngành có
uy tín, chất lượng, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khoẻ và khám chữa bệnh
của nhân dân địa phương.
Bên cạnh nhiệm vụ khám chữa bệnh, bệnh viện còn là cơ sở đào tạo và
thực hành chính của trường Cao đẳng y Thái Bình và trường Đại học y Thái
Bình, góp phần đào tạo ra lực lượng cán bộ y tế cho đất nước và hai nước bạn
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Vương quốc Campuchia.
phòng chống các dịch bệnh truyền nhiễm và nguy hiểm, các dịch bệnh
mới phát sinh.
- Nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, thử nghiệm lâm sàng và
triển khai các dịch vụ khoa học kĩ thuật tiên tiến thuộc chuyên ngành
các bệnh truyền nhiễm nhằm nâng cao sức khỏe cho nhân dân.
d) Đào tạo cán bộ y tế:
- Là cơ sở để thực hành về chuyên khoa và đào tạo cán bộ y tế bậc đại
học và cao đẳng y tế trong khu vực và các tỉnh thành lân cận.
- Bệnh viện tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện
tuyến dưới nâng cao trình độ chuyên môn.
e) Quản lý đơn vị:
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đơn vị, sắp xếp tổ
chức bộ máy, biên chế, quản lý cán bộ, viên chức, lao động, tiền lương,
tài chính, vật tư, trang thiết bị kỹ thuật của đơn vị theo quy định của
Nhà nước.
- Thực hiện tốt các chủ trương xã hội hóa ngành y tế của Đảng và Nhà
nước để huy động nguồn vốn trong xã hội nhằm đầu tư, nâng cấp bệnh
viện đúng pháp luật.”
(benhnhietdoi.vn)
2.1.4. Quy mô và cơ cấu tổ chức của bệnh viện
Bệnh viện đa khoa Thái Bình hoạt động với quy mô hiện tại gồm 240
phòng bệnh, 1440 giường bệnh, cùng với các ban phòng có quy mô hiện đại
để đáp ứng nhu cầu của người bệnh. Năm 2014, bộ máy của bệnh viện gồm
có: 40 khoa phòng ban: (9 phòng ban, 23 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng.
Các phòng ban: phòng kế hoạch tổng hợp, phòng tổ chức hành chính,
phòng tài chính kế toán, phòng điều dưỡng, phòng chỉ đạo tuyến, phòng quản
trị, phòng vật tư kĩ thuật, phòng công nghệ thông tin, phòng ban bảo vệ.
Các khoa lâm sàng: khoa ngoại tổng hợp, khoa ngoại tiết niệu, khoa ung
bướu, khoa gây mê phẫu thuật, khoa chấn thương chỉnh hình - bỏng, khoa
25