1
ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀
NÔ
̣
I
TRƢƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C TƢ
̣
NHIÊN
Nguyễn Thị Thu Trang
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀
NÔ
̣
I
TRƢƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C TƢ
̣
NHIÊN Nguyễn Thị Thu Trang THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA NAM ĐỊNH VÀ ĐỂ XUẤT MÔ HÌNH
CAN THIỆP
Chuyên nga
3
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐẾ
TRANG
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
1.1. Khái niệm và phân loại chất thải y tế
4
1.1.1. Một số khái niệm về chất thải y tế
4
1.1.2. Phân loại chất thải y tế
6
1.2. Tình hình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế
6
1.2.1. Tình hình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới
6
1.2.1.1. Tình hình phát thải chất thải y tế rắn trên thế giới
6
1.2.1.2. Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải y tế trên thế
giới
8
1.2.1.3. Tình hình xử lý chất thải y tế trên thế giới
9
1.2.2. Tình hình quản lý và xử chất thải y tế trong nƣớc
10
1.2.2.1. Một số văn bản quản lý chất thải y tế
10
3.1.1. Thực trạng phát thải chất thải rắn y tế nguy hại của Bệnh viện đa
khoa tỉnh Nam Định
39
3.1. 2. Thực trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế nguy hại của Bệnh
viện đa khoa tỉnh Nam Định
42
3.1.3. Thực trạng vận chuyển, lƣu giữ chất thải y tế rắn nguy hại của Bệnh
viện đa khoa tỉnh Nam Định
48
3.1.4. Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế nguy hại của Bệnh viện đa khoa
tỉnh Nam Định
51
3.1.5. Công tác tổ chức thực hiện quản lý chất thải y tế của Bệnh viện đa
khoa tỉnh Nam Định
54
3.2. Xây dựng và đề xuất mô hình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế
nguy hại cho Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
56
3.2.1. Căn cứ các văn bản pháp quy liên quan
56
3.2.2 Căn cứ vào thực tế của bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
58
3.2.3. Căn cứ vào dịch vụ vệ sinh môi trƣờng của Nam Định
60
3.2.4. Căn cứ thực tế của bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định đề xuất mô
hình can thiệp
62
3.3.Thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế nguy hại của Bệnh
viện đa khoa tỉnh Nam Định
64
6 BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT ASEAN:
Association of Southeast Asian, Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á
ATVSLĐ:
An toàn vệ sinh lao động
BK:
Bảng kiểm
BV:
Bệnh viện
BYT:
Bộ Y tế
CTYT:
Chất thải y tế
CTR:
Chất thải rắn
CTRYT:
Chất thải rắn y tế
CTRBV:
Chất thải rắn bệnh viện
phƣơng châm của ngành y từ muôn đời nay là “ PRIMO NO CERA” nghĩa là
“đầu tiên là đừng làm hại” và ngôn ngữ này là phòng bệnh hơn chữa bệnh. Vì
vậy bệnh viện cứu đƣợc một ngƣời mà do những yếu tố khách quan và chủ
quan lại từ các chất thải của bệnh viện làm nguy hại đến trăm ngƣời là việc
không thể chấp nhận đƣợc và xếp vào việc “ cần làm ngay”.
Hiện cả nƣớc có trên 1000 bệnh viện. Trung bình các bệnh viện trong
cả nƣớc phát thải 252 tấn/ngày chất thải y tế, trong đó có 12%-25% là chất
thải y tế nguy hại cần phải xử lý đặc biệt 13. Lƣợng chất thải y tế nguy hại
tăng lên nhanh chóng do tăng tỷ lệ sử dụng các dụng cụ dùng một lần; tăng số
lƣợng giƣờng bệnh ở cơ sở điều trị từ tuyến huyện trở lên và ngày càng tăng
ứng dụng kỹ thuật cao trong tất các khâu từ khám bệnh, xét nghiệm, chẩn
đoán và điều trị14.
Công tác quản lý và xử lý chất thải y tế của các bệnh viện còn kém hiệu
quả, chƣa có biện pháp quản lý chất thải y tế hữu hiệu và an toàn. Biện pháp
xử lý chất thải của các bệnh viện chủ yếu vẫn là chôn lấp, trong đó 29,0% 8
bệnh viện chôn rác ngay tại khuôn viên, chỉ có 18,7% xử lý bằng phƣơng
pháp đốt, số còn lại chủ yếu vận chuyển rác thải tới bãi rác công cộng để xử
lý . Hầu hết các chất thải rắn ở các bệnh viện đều không xử lý trƣớc khi chôn
hoặc đốt. Một số ít bệnh viện có lò đốt rác y tế song quá cũ, hoặc đốt lộ thiên,
sử dụng củi và dầu để đốt gây ô nhiễm môi trƣờng. Hệ thống thu gom và xử
lý chất thải vốn đƣợc thiết kế theo số giƣờng bệnh nhƣng bên cạnh lƣợng chất
thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn còn một lƣợng lớn từ các hoạt
động thăm nuôi của ngƣời nhà bệnh nhân và các hoạt động dịch vụ khác trong
bệnh viện. Chính vì vậy, hệ thống xử lý rác thải y tế của các bệnh viện luôn bị
quá tải, chất lƣợng và hiệu quả xử lý rác thải cũng bị hạn chế rất nhiều 17.
Thực trạng trên đã đƣợc cải thiện và thu đƣợc nhiều kết quả khả quan
10
11
bất cứ dạng nào (rắn, lỏng, khí) đều có chứa các mầm bệnh gây nguy hiểm tới
sức khỏe và môi trƣờng. Nguồn gốc phát sinh CTYT là từ các cơ sở khám
chữa bệnh cho con ngƣời và động vật, từ các trung tâm nghiên cứu, trong quá
trình sản xuất vaccin hoặc có trong chất thải của các cơ thể sống. Chúng
thƣờng đƣợc phát sinh tại các bệnh viện, phòng thí nghiệm của các trung tâm
nghiên cứu, phòng khám tƣ nhân và các trung tâm chăm sóc sức khỏe.
Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới, CTYT đƣợc xác định là chất
thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm
sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo. CTYT nguy hại
(CTYTNH) đƣợc xác định là chất thải có chứa một trong các thành phần nhƣ:
máu, dịch cơ thể, chất bài tiết; các bộ phận, cơ quan của cơ thể ngƣời và động
vật; bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dƣợc phẩm; hóa chất và các chất
phóng xạ đƣợc sử dụng trong y tế. Những chất này không đƣợc xử lý đúng
cách sẽ gây nguy hại cho môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời 69.
Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới, chất thải y tế là tất cả các
loại chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế bao gồm cả các chất thải nhiễm
khuẩn và không nhiễm khuẩn 68.
Theo định nghĩa của Bộ Y tế Việt Nam1011:
- Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí đƣợc thải ra từ các cơ
sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thƣờng.
- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức
khỏe con ngƣời và môi trƣờng nhƣ dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ
cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải
này không đƣợc tiêu hủy an toàn.
- Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban
đầu, thu gom, vận chuyển, lƣu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu
hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
quản lý và xử lý chất thải rắn y tế 48, 49, 51, 58, 61, 63
1.2.1.1. Tình hình phát thải chất thải y tế rắn trên thế giới 13
Khối lƣợng chất thải y tế thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa
và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác66, 69, 70:
- Cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, thảm hoạ đột xuất.
- Quy mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa.
- Số lƣợng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú
và ngoại trú.
- Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực.
- Phƣơng pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị
và chăm sóc.
Khối lƣợng chất thải rắn y tế đƣợc ƣớc lƣợng trên cơ sở số giƣờng
bệnh và hệ số phát thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ thay đổi theo mức thu
nhập, thay đổi theo loại bệnh viện và trong một bệnh viện mức phát thải khác
nhau theo các khoa phòng chuyên môn cụ thể nhƣ sau66, 67, 68, 69:
Nước có thu nhập cao:
+ Chất thải y tế nói chung:
1,2 – 12 kg/GB/ ngày
+ Chất thải y tế nguy hại:
0,4 – 5,5kg/GB/ngày
Nước có thu nhập trung bình:
+ Chất thải y tế nói chung:
0,8 – 6kg/ GB/ ngày
+ Chất thải y tế nguy hại:
0,3 – 0,4 kg/GB/ ngày
Nước có thu nhập thấp:
1.2.1.2. Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải y tế trên thế giới
- Phân loại chất thải rắn y tế:
Trƣớc những năm 1980, hầu hết các nƣớc trên thế giới đều không có hệ
thống phân loại CTRYT hợp lý59. Một nhóm nghiên cứu đã đƣợc thành lập
vào năm 1983 tại Thụy Điển để xây dựng các hƣớng dẫn phân loại CTRYT.
Theo WHO, chất thải nguy hại chiếm tới 20% tổng lƣợng CTRYT phát sinh
tại cơ sở y tế, trong đó, rác thải nhiễm khuẩn và lây nhiễm là 15% tổng lƣợng
rác64, 66.
- Thu gom và vận chuyển chất thải y tế:
Tại các nƣớc phát triển, có 2 mô hình thu gom và vận chuyển CTYT:
+ Hệ thống hút chân không tự động.
+ Thu gom và vận chuyển bằng các thiết bị chuyên dụng với các
phƣơng tiện và dụng cụ thích hợp.
Nguyên tắc làm việc của hệ thống này nhƣ sau: Sau khi phân loại tại
nguồn, CTYT đƣợc chuyển tới một xe tải chuyên dụng thông qua hệ thống
hút chân không tự động đƣợc thiết kế ngay trên xe hoặc ở một trạm nào đó.
Tất cả CTYT đƣợc vận chuyển theo đƣờng ống ở gầm xe tải. Khí ô nhiễm do
chất thải tạo ra sẽ đƣợc làm sạch trƣớc khi thải ra môi trƣờng.
Ưu điểm của hệ thống: 15
Hệ thống hút chân không tự động cho phép hạn chế một cách tối đa
lƣợng xe ra vào lấy rác ở các khu trung tâm thành phố và các bệnh viện là nơi
tập trung đông ngƣời, điều kiện đất đai chật hẹp, dễ gây bụi, tiếng ồn… Nhờ
đó, có thể làm giảm ô nhiễm môi trƣờng và ách tắc giao thông.
Hạn chế một cách tối đa sự tiếp xúc của con ngƣời với CTYT
Cho tới nay, trên thế giới đã có 500 hệ thống tƣơng tự nhƣ vậy, nhƣ ở
Washington (Mỹ, 1977) 54, Tokyo (Nhật Bản, 1973), Gothenburg (Thụy
điều kiện của từng địa phƣơng.
- Tại Hồng Kông, chất thải lây nhiễm đƣợc xử lý bằng phƣơng pháp
thiêu đốt, chất thải còn lại không lây nhiễm đƣợc chôn lấp. Chỉ có 4 bệnh viện
công có cơ sở thiêu đốt chất thải lây nhiễm. Đối với các cơ sở không có lò
đốt, chất thải lây nhiễm đƣợc vận chuyển đến lò đốt chất thải tập trung để xử
lý chất thải lây nhiễm. Mô hình áp dụng này giống Malaysia.
- Tại Nhật Bản, hầu hết chất thải y tế phát sinh trong ngày đƣợc thiêu
hủy trong các cơ sở đốt chất thải của tƣ nhân.
- Phƣơng pháp khử khuẩn:
Mục đích của việc khử khuẩn là biến đổi rác nhiễm khuẩn sang dạng
rác thải không nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, phƣơng pháp này không thể áp dụng
cho một số loại CTYT nhƣ chất thải hóa học, chất thải phóng xạ… Nguyên lý
của phƣơng pháp này là tạo ra các phản ứng hóa học, ở nhiệt độ cao đƣợc tạo
ra do các thiết bị nhiệt hoặc lò vi sóng.
Biện pháp xử lý CTRYT bằng công nghệ Plasma là quá trình nhiệt
phân CTRYT và khí thải độc hại ở nhiệt độ rất cao (3000-16.600
0
C). Đây là
phƣơng pháp hiện đại nhất để xử lý CTRYT trên thế giới. Nếu sử dụng công
nghệ này, tất cả CTRYT và khí độc hại đều đƣợc phân hủy hoàn toàn, không
gây ô nhiễm môi trƣờng. Tuy nhiên chi phí rất lớn và thƣờng chỉ đƣợc sử
dụng trong phòng thí nghiệm.
1.2.2. Tình hình quản lý và xử chất thải y tế trong nước
1.2.2.1. Các văn bản liên quan tới quản lý, xử lý chất thải y tế
1. Luật bảo vệ môi trƣờng đựoc quốc hội thông qua ngày 27/12/1993
và 2005. 17
18
7.1. Thông tƣ liên tịch số 1590/1997/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày
17/07/1997 của Bộ KHCN và MT và Bộ xây dựng hƣớng dẫn thi hành chỉ thị
số 199/TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về các biện pháp cấp bách trong quản
lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp.
7.2. Thông tƣ liên tịch số 2237/1999/TTLT/BKHCNMT-BYT ngày
28/12/1999 của Liên bộ Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng- Bộ Y tế hƣớng
dẫn việc thực hiện an toàn toàn bức xạ trong y tế, trong đó có hƣớng dẫn xử
lý chất thải phóng xạ trong các cơ sở y tế.
8. Các văn bản của Bộ Y tế:
Thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật Nhà nƣớc ban hành, Bộ Y
tế đã ban hành một số văn bản về quản lý chất thải y tế:
Quy chế bệnh viện: ban hành theo quyết định số 1895/1997/BYT-QĐ
ngày 19/09/1997 có Quy chế công tác xử lý chất thải.
Quy chế quản lý chất thải y tế năm 1999 và Quy chế quản lý chất thải y
2007 làm cơ sở để các cơ sở y tế thực hiện quản lý và xử lý chất thải y tế.
9. Quyết định 64/QĐ-TTg, phê chuẩn kế hoạch xử lý các cơ sở gây ô
nhiễm nghiêm trọng, trong đó có bệnh viện.
1.2.2.2. Tình hình phát thải chất thải y tế ở Việt Nam
- Thực trạng phát thải :
Tính chung cả nƣớc, lƣợng chất thải từ các loại hoạt động dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ, dịch vụ y tế phát thải hàng ngày đạt 252 tấn, trong đó có 50 tấn
là chất thải rắn y tế nguy hại. Hai thành phố có tải lƣợng lớn nhất là : TP Hồ
Chí Minh: 31,3 tấn CTR y tế chung và 6,2 tấn CTR y tế nguy hại. Tiếp đến là
TP Hà Nội : 26,5 tấn CTR y tế chung và 5,3 tấn CTR y tế nguy hại 41, 42,
43, 45.
Bảng 1.1. Phân bố chất thải y tế nguy hại theo vùng sinh thái, năm 2004
4
Bắc Trung bộ
26501
5300
12
5
Nam Trung bộ
20839
4167
9
6
Tây Nguyên
11814
2362
5
7
Đông Nam bộ
47520
9504
21
8
Đồng bằng sông Cửu
long
36840
7368
16
- Khuynh hướng phát thải chất thải y tế:
Tuy tổng thải chung chất thải y tế ít tăng hoặc chỉ tăng nhẹ, nhƣng
lƣợng chất thải y tế nguy hại phải xử lý đặc biệt lại tăng lên theo thời gian do
2 xu thế sau17, 20:
1995
1997
1998
1999
2000
2001
2002
Giƣờng bệnh
( 1000 giƣờng)
115,05
118,0
118,0
120,3
120,1
121,9
122,5
CTR y tế chung
248,3
253,7
253,7
258,6
258,2
262,1
263,9 20
( tấn/ ngày)
CTR y tế nguy hại,
số hoá chất khử trùng để tiêu diệt các vi sinh vật trong đó co mầm bệnh làm
cho rác đƣợc an toàn về mặt vi sinh vật. Hoá chất thƣờng hay đƣợc sử dụng
nhƣ formaldehyde (HCHO); ethylene oxide (CH
2
OCH
2
) glutaraldehyde 21
(CHO-(CH
2
)
3
-CHO); Sodium hypoclorite (NaOCl); chlorine dioxide (ClO
2
).
Phƣơng pháp này chi phí đầu tƣ ban đầu thấp hơn, chi phí vận hành đắt tuỳ
thuộc vào loại hoá chất, một số ô nhiễm thứ cấp có thể gặp từu các hoá chất
dƣ. Chi phí xử lý rác y tế ở các nƣớc công nghiệp khoảng 100-120 USD/ tấn.
- Công nghệ xử lý nhiệt khô và hơi nƣớc (wet and dry thermal
treatment). Sử dụng nhiệt ẩm (autoclave) hoặc hấp khô (ovens) để diệt khuẩn
ở nhiệt độ 121-160
o
C. Hầu hết các mầm bệnh bị tiêu diệt ở nhiệt độ này. Ƣu
điểm của phƣơng pháp này là có thể áp dụng đƣợc với các trƣờng hợp số
lƣợng chất thải rất nhỏ, nhƣợc điểm của phƣơng pháp là hiệu quả kém trong
việc làm giảm thiểu cả về khối lƣợng và trọng lƣợng.
- Công nghệ vi sóng (Microwave irradiation). Công nghệ vi sóng để xử
- Cân nhắc tới khía cạnh an toàn lao động và bệnh nghề nghiệp.
- Tổng khối lƣợng chất thải cần xử lý và tiêu huỷ trên tổng khả năng xử
lý của hệ thống thiết bị.
- Nhóm loại chất thải để xử lý và tiêu huỷ.
- Nhu cầu cơ sở hạ tầng.
- Lựa chọn xử lý của địa phƣơng khu vực và công nghệ
- Lựa chọn khả năng tiêu huỷ cuối cùng trong chu trình.
- Nhu cầu đào tạo nhân lực cho vận hành.
- Cân nhắc về khía cạnh vận hành và bảo trì hệ thống
- Mặt bằng, thổ những khu vự xử lý tiêu huỷ.
- Chi phí đầu tƣ ban đầu và chi phí vận hành.
- Sự chấp nhận của cộng đồng.
- Yêu cầu về các quy định, luật lệ chung của khu vực
Trong điều kiện Việt Nam, tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi địa phƣơng,
điều kiện cụ thể của cơ sở y tế mà lựa chọn công nghệ cho thích hợp hay còn
gọi là công nghệ phù hợp. Nhƣ vậy đối với các bệnh viện trung ƣơng, bệnh
viện đa khoa tại các khu đô thị dân cƣ đông đúc phải lựa chọn công nghệ khác
hơn, yêu cầu cao hơn so với các bệnh viện huyện, cơ sở y tế tuyến huyện, xã 23
Công nghệ phù hợp vẫn phải bảo đảm xử lý đƣợc CTRYTNH nhƣng
đáp ứng thực tiễn đời sống xã hội, kinh tế, môi trƣờng vv. Công nghệ phù hợp
thoả mãn
- Phù hợp về điều kiện kỹ thuật thiết bị.
- Phù hợp với trình độ vận hành và bảo dƣỡng.
- Phù hợp về khả năng kinh tế.
- Phù hợp với phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên của địa phƣơng.
1.2.2.4. Thực trạng thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải y tế ở
nƣớc, không khí, và là nguyên nhân của nhiều dịch bệnh.
Theo kết quả điều tra 36 Bệnh viện, viện có giƣờng bệnh trực thuộc Bộ
Y tế của Cục quản lý khám chữa bệnh năm 2009 cho thấy:
+ Đối với chất thải rắn y tế thông thƣờng có 34/36 bệnh viện hợp đồng
thuê công ty môi trƣờng đô thị vận chuyển và xử lý, chỉ có 2 bệnh viện
(5,6%) tự xử lý.
+ Đối với chất thải rắn y tế nguy hại: trong số 36 bệnh viện có 8 bệnh
viện có lò đốt nhƣng chỉ có 7 bệnh viện (19,4%) đã xử lý chất thải y tế nguy
hại bằng lò đốt tại chỗ của bệnh viện và 28 bệnh viện (77,8%) hợp đồng thuê
xử lý chất thải y tế nguy hại bằng lò đốt tập trung của cơ sở thiêu hủy chất
thải trên địa bàn (công ty môi trƣờng đô thị). Chỉ có 1 bệnh viện hiện nay
chƣa có cơ sở xử lý chất thải rắn, vẫn áp dụng phƣơng pháp thiêu đốt ngoài
trời và chôn lấp 3.
Hiện nay, các bệnh viện và viện có giƣờng trực thuộc Bộ Y tế, hầu hết
đang sử dụng công nghệ đốt để tiêu hủy chất thải rắn y tế nguy hại và hiện có
rất ít loại hình xử lý bằng công nghệ khác nhƣ hấp ƣớt, vi sóng40.
1.2.2.5. Các mô hình xử lý chất thải rắn y tế hiện nay ở Việt Nam
- Xử lý tập trung:
Mô hình này đƣợc áp dụng cho các bệnh viện nằm trên địa bàn Hà Nội
(20 bệnh viện), TP. Hồ Chí Minh (3 bệnh viện) chiếm 64%. Mô hình thu gom
và xử lý tập trung tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (do URENCO và 25
CITENCO quản lý) phát huy hiệu quả, tiết kiệm chi phí đầu tƣ và vận hành,
giảm ô nhiễm môi trƣờng do đã trang bị thiết bị làm sạch khí thải lò đốt [31].
Tại một số tỉnh/thành phố lớn khác nhƣ Thái Nguyên, Quảng Nam, Đà
Nẵng, Phú Yên, Đồng Nai cũng áp dụng mô hình xử lý tập trung nhƣng với
quy mô nhỏ. Các bệnh viện này hợp đồng với công ty môi trƣờng đô thị trên