Thực trạng quản lý, xử lý chất rắn y tế tại
Bệnh viện Đa khoa Nam Định và đề xuất mô
hình can thiệp Nguyễn Thị Thu Trang Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS. ngành: Khoa học môi trƣờng; Mã số: 60 85 02
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Phạm Ngọc Châu
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Điều tra đặc điểm phát thải, thực trạng thu gom phân loại và xử lý chất
thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2011. Đề xuất mô hình quản
lý và xử lý chất thải rắn y tế nguy hại cho Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định.
Keywords. Khoa học môi trƣờng; Xử lý chất thải; Chất thải rắn Content
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tác động tiêu cực của chất thải y tế nói chung và đặc biệt là chất thải y tế nguy hại
nói riêng là rất rõ ràng, đặc biệt là nếu những chất thải nguy hại này không đƣợc quản lý và
xử lý đúng quy cách. Trong thực tế quản lý và xử lý chất thải y tế ở Việt Nam, cho thấy mặc
dầu đã có nhiều tiến bộ, cố gắng nhƣng chƣa đạt đƣợc nhƣ yêu cầu nhất là những năm trƣớc
1999 khi chƣa có Quy chế quản lý chất thải y tế.
Phát biểu khai mạc tại Hội thảo quốc gia về xử lý chất thải bệnh viện đƣợc tổ chức
ngày 17-7-1998, GS Phạm Song nguyên Bộ trƣởng Y tế, phó trƣởng ban thƣờng trực Ban chỉ
định 64/2003/QĐ- TTg với trên 84 bệnh viện hiện đang là nguồn ô nhiễm nghiêm trọng cần
xử lý triệt để. Hàng năm Chính phủ vẫn phải dành ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi
trƣờng trong đó xử lý ô nhiễm từ nƣớc thải bệnh viện. Cho tới hiện nay, chỉ mới vài bệnh
viện đƣợc rút ra khỏi danh sách là cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng.
Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định là bệnh viện tuyến tỉnh, là trung tâm khám và điều
trị của tỉnh Nam Định. Quy mô bệnh viện là 700 giƣờng bệnh, với đủ các khoa hệ nội, khoa
hệ ngoại, các khoa cận lâm sàng. Số lƣợng bệnh nhân khám bệnh trung bình 500-600 ca mỗi
ngày. Tỷ lệ sử dụng giƣờng bệnh thƣờng xuyên vƣợt trên 100%. Bệnh viện nằm ở trung tâm
của thành phố, là nơi tập trung đông dân cƣ cho nên những thiếu sót trong quản lý và xử lý
chất thải y tế sẽ ảnh hƣởng rất lớn tới cộng đồng dân cƣ lân cận.
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:“Thực trạng
quản lý, xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định và đề xuất mô hình can
thiệp.”
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Điều tra đặc điểm phát thải, thực trạng thu gom phân loại và xử lý chất thải rắn y tế
tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2011.
2. Đề xuất mô hình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế nguy hại cho Bệnh viện đa khoa
tỉnh Nam Định. CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm và phân loại chất thải y tế
1.1.1. Một số khái niệm về chất thải y tế
Điều rất ngạc nhiên là bên cạnh việc thống kê gần nhƣ toàn diện tất cả các lĩnh vực
của cuộc sống thì lại không có sự thống kê về số lƣợng, về nguồn gốc hình thành và sự tồn
đọng của chất thải. Nguyên nhân chính là không có sự phân loại chất thải một cách thống
nhất. Việc xử lý chất thải cũng rất phong phú mỗi nơi một khác. Chất thải rắn y tế cũng trong
tình trạng tƣơng tự nhƣ vậy.
- Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí đƣợc thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm
chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thƣờng.
- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con ngƣời
và môi trƣờng nhƣ dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có
đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không đƣợc tiêu hủy an toàn.
- Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom,
vận chuyển, lƣu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra,
giám sát việc thực hiện.
- Tái sử dụng là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ sản phẩm
hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới.
- Tái chế là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành những sản phẩm mới.
- Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và lƣu
giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế.
- Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi xử lý
ban đầu, lƣu giữ, tiêu hủy.
- Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ lây
nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trƣớc khi vận chuyển tới nơi lƣu giữ hoặc tiêu hủy.
- Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả
năng gây huy hại của chất thải đối với sức khỏe con ngƣời và môi trƣờng.
1.1.2. Phân loại chất thải y tế
Ở Việt Nam, theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành, chất thải y tế
đƣợc phân thành 5 nhóm chất thải chính, bao gồm: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học
nguy hại, bình chứa áp suất, chất thải phóng xạ và chất thải sinh hoạt.
1.2. Tình hình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế
1.2.2. Tình hình quản lý và xử chất thải y tế trong nước
1.2.2.1. Các văn bản liên quan tới quản lý, xử lý chất thải y tế
1.2.2.2. Tình hình phát thải chất thải y tế ở Việt Nam
- Thực trạng phát thải :
Tính chung cả nƣớc, lƣợng chất thải từ các loại hoạt động dịch vụ chăm sóc sức khoẻ,
dịch vụ y tế phát thải hàng ngày đạt 252 tấn, trong đó có 50 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại.
Bắc Trung bộ
26501
5300
12
5
Nam Trung bộ
20839
4167
9
6
Tây Nguyên
11814
2362
5
7
Đông Nam bộ
47520
9504
21
8
Đồng bằng sông Cửu long
36840
7368
16
- Khuynh hướng phát thải chất thải y tế:
Tuy tổng thải chung chất thải y tế ít tăng hoặc chỉ tăng nhẹ, nhƣng lƣợng chất thải y tế
nguy hại phải xử lý đặc biệt lại tăng lên theo thời gian do 2 xu thế sau17, 20:
Tăng tỷ lệ sử dụng các dụng cụ dùng một lần nhƣ bơm kim tiêm, đè lƣỡi, găng tay
phẫu thuật, ống thông, túi thu dịch dẫn lƣu, bông băng, vải trải phẫu thuật.
Tăng số lƣợng các giƣờng bệnh ở cơ sở điều trị từ tuyến huyện và tƣơng đƣơng trở
2000
2001
2002
Giƣờng bệnh
( 1000 giƣờng)
115,05
118,0
118,0
120,3
120,1
121,9
122,5
CTR y tế chung
( tấn/ ngày)
248,3
253,7
253,7
258,6
258,2
262,1
263,9
CTR y tế nguy hại, (
tấn/ ngày)
55,4
56,6
56,6
57,7
57,6
58,5
58,9
-CHO); Sodium hypoclorite (NaOCl); chlorine
dioxide (ClO
2
). Phƣơng pháp này chi phí đầu tƣ ban đầu thấp hơn, chi phí vận hành đắt tuỳ
thuộc vào loại hoá chất, một số ô nhiễm thứ cấp có thể gặp từu các hoá chất dƣ. Chi phí xử lý
rác y tế ở các nƣớc công nghiệp khoảng 100-120 USD/ tấn.
- Công nghệ xử lý nhiệt khô và hơi nƣớc (wet and dry thermal treatment). Sử dụng
nhiệt ẩm (autoclave) hoặc hấp khô (ovens) để diệt khuẩn ở nhiệt độ 121-160
o
C. Hầu hết các
mầm bệnh bị tiêu diệt ở nhiệt độ này. Ƣu điểm của phƣơng pháp này là có thể áp dụng đƣợc
với các trƣờng hợp số lƣợng chất thải rất nhỏ, nhƣợc điểm của phƣơng pháp là hiệu quả kém
trong việc làm giảm thiểu cả về khối lƣợng và trọng lƣợng.
- Công nghệ vi sóng (Microwave irradiation). Công nghệ vi sóng để xử lý CTRYTNH
là một công nghệ mới, hiệu quả. Các thiết bị hiện đại có thể xử lý đƣợc 250 kg/giờ tƣơng
đƣơng khoảng 3000 tấn năm. Lò vi sóng loại này thƣờng sử dụng nguồn phát bức xạ sóng
điện từ siêu cao tần có tần số 2450 MHz, bƣớc sóng khoảng 12,24 cm. Chi phí đầu tƣ ban đầu
tƣơng đối đắt, nhƣng xử lý bằng phƣơng pháp này nhiều vật liệu có thể tái sử dụng làm
nguyên liệu để đƣa vào chu trình kinh tế.
Công nghệ chôn lấp (land disposal). Phƣơng pháp này có chi phí đầu tƣ ban đầu thấp,
chi phí vận hành rẻ nhƣng chỉ nên thực hiện khi các nhà chức trách quản lý về môi trƣờng
cho phép và phải có điều kiện tự nhiên phù hợp nhƣ diện tích rộng, đặc điểm thổ nhƣỡng, đặc
điểm nguồn nƣớc ngầm, xa khu dân cƣ vv.
Nhốt chất thải (inertization). Quá trình nhốt các chất thải cùng với chất cố định xi
măng, vôi. Thông thƣờng ngƣời ta trộn hỗn hợp rác y tế nguy hại 65%, vôi 15%, xi măng
15%, nƣớc 5%. Hỗn hợp này đƣợc nén thành khối.
Công nghệ phù hợp.
Xử lý và tiêu huỷ CTRYTNH tuy có nhiều biện pháp và công nghệ nhƣ đã nêu ở phần
trên. Tuy nhiên không có một công nghệ nào giải quyết đƣợc thấu đáo toàn bộ các khía cạnh
nhƣ mong muốn kể cả công nghệ đốt rác hiện đại. Để hƣớng tới một môi trƣờng lành mạnh
- Phù hợp với phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên của địa phƣơng.
1.2.2.4. Thực trạng thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải y tế ở Việt Nam
- Thực trạng thu gom, phân loại, vận chuyển và bảo quản chất thải y tế:
Kết quả khảo sát của Vụ điều trị – Bộ Y tế năm 2002, 2003 cho thấy 13, 14:
+ Có 88% bệnh viện, cơ sở y tế phân loại chất thải theo quy định của Bộ Y tế, song
tình trạng phân loại nhầm chất thải sinh hoạt và chất thải y tế vẫn còn xảy ra.
+ 77% bệnh viện đã đƣợc trang bị thùng, túi màu vàng để đựng chất thải y tế nguy
hại, 76% bệnh viện đã trang bị thùng, túi màu xanh để đựng chất thải sinh hoạt, 27% bệnh
viện trang bị thùng, túi màu đen để đựng chất thải hoá học và chất thải gây độc tế bào, 24%
bệnh viện có sử dụng hộp để đựng vật sắc nhọn.
+ 5% bệnh viện đã đƣợc trang bị các xe đẩy để vận chuyển chất thải, 65% bệnh viện
vận chuyển chất thải bằng quang gánh hoặc xách tay.
+ 66% bệnh viện có xử lý ban đầu các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bằng hoá
chất hoặc hấp sấy.
+ 1% bệnh viện có nhà lạnh để chứa chất thải.
- Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế:
Trong số các bệnh viện ở nƣớc ta hiện nay có tới 815 bệnh viện không có hệ thống xử
lý chất thải hoặc có nhƣng không hoạt động, hoặc hoạt động không thƣờng xuyên, hoặc hoạt
động quá tải, không hiệu quả 18. Trong hầu hết các bệnh viện, rác thải đến nay vẫn chƣa
đƣợc xử lý, kể cả các vật phẩm, bệnh phẩm độc hại. Điều này thực sự nguy hiểm cho sức
khoẻ cộng đồng. Chất thải các bệnh viện chứa rất nhiều mầm bệnh nhƣ tả, viêm gan A,
thƣơng hàn, lỵ, các tổ chức hoại tử… những mầm bệnh này có thể nhiễm vào đất, nƣớc,
không khí, và là nguyên nhân của nhiều dịch bệnh.
Theo kết quả điều tra 36 Bệnh viện, viện có giƣờng bệnh trực thuộc Bộ Y tế của Cục
quản lý khám chữa bệnh năm 2009 cho thấy:
+ Đối với chất thải rắn y tế thông thƣờng có 34/36 bệnh viện hợp đồng thuê công ty
môi trƣờng đô thị vận chuyển và xử lý, chỉ có 2 bệnh viện (5,6%) tự xử lý.
+ Đối với chất thải rắn y tế nguy hại: trong số 36 bệnh viện có 8 bệnh viện có lò đốt
nhƣng chỉ có 7 bệnh viện (19,4%) đã xử lý chất thải y tế nguy hại bằng lò đốt tại chỗ của
bệnh viện và 28 bệnh viện (77,8%) hợp đồng thuê xử lý chất thải y tế nguy hại bằng lò đốt
đốt của BV Điều dƣỡng-phục hồi chức năng trung ƣơng, BV Việt Nam-Cu Ba Đồng Hới. Lò
đốt của Bệnh viện C Đà Nẵng đã hỏng nên BV phải đổi sang hình thức ký hợp đồng với công
ty môi trƣờng đô thị để xử lý tập trung28.
- Hình thức khác:
Hiện nay, tại một số cơ sở y tế vẫn sử dụng tạm thời biện pháp thiêu đốt chất thải y tế
nguy hại ngoài trời hoặc chôn lấp chất thải y tế nguy hại ở bãi chôn lấp chất thải chung của
địa phƣơng nhƣ bệnh viện Phong-Da liễu Quỳnh Lập.
- Chi phí xử lý chất thải rắn y tế:
Đối với các bệnh viện thuê Công ty môi trƣờng đô thị xử lý chất thải y tế, chi phí
khoảng 9.000đ/kg (chƣa tính chi phí vận chuyển)21.
Chi phí vận hành cho xử lý chất thải rắn y tế đối với một số bệnh viện có lò đốt trong
khoảng 50-100 triệu đồng/tháng26.
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định: là bệnh viện tuyến tỉnh, có đủ các khoa hệ nội,
khoa hệ ngoại, các khoa cận lâm sàng. Bệnh viện là trung tâm khám và điều trị của tỉnh Nam
Định với quy mô 700 giƣờng bệnh. Số lƣợng bệnh nhân tới khám bệnh trung bình 500-
600ca/ngày. Tỷ lệ sử dụng giƣờng bệnh thƣờng xuyên đạt trên 100% số lƣợng. Bệnh viện có:
- Khoa lâm sàng: hệ khoa nội, hệ khoa ngoại, hệ khoa cận lâm sàng, khoa khám bệnh.
- Trang thiết bị, phƣơng tiện thu gom, vận chuyển, lƣu trữ và xử lý chất thải y tế:
+ Dụng cụ thu gom chất thải y tế tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng.
+ Phƣơng tiện vận chuyển chất thải y tế từ các khoa lâm sàng, cận lâm sàng về khu
tập kết của bệnh viện.
+ Hệ thống nhà tập kết, lƣu trữ chất thải của bệnh viện.
+ Trạm xử lý chất thải của bệnh viện.
Địa điểm nghiên cứu
2
Chất thải lây nhiễm
94,94
0,14
3
Chất thải hóa học
14,84
0,02
4
Chất thải phóng xạ
0,0
0,0
5
Bình chứa áp suất
22,42
0,04
Cộng
464,44
0,66
Ghi chú: Lượng chất thải rắn y tế phát thải chung của toàn bệnh viện được xác định bằng
cách cân từng loại chất thải hàng ngày tại khu vực tập kết chất thải, nghiên cứu tiến hành
trong 1 tuần và kết quả được tính giá trị trung bình.
Nhận xét:
Lƣợng chất thải y tế phát thải của Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định trung bình đạt
464,44 kg/ngày, tƣơng ứng 0,66 kg/GB/ngày. Các nhóm chất thải phát thải là: chất thải sinh
hoạt, chất thải lây nhiễm và chất thải hóa học, bình chứa áp suất. Trong đó, lƣợng chất thải
sinh hoạt phát thải chiếm tỷ trọng nhiều nhất, trung bình đạt 332,24 kg/ngày (0,46
kg/GB/ngày), tiếp đến là chất thải lây nhiễm 94,94 kg/ngày (0,14 kg/GB/ngày) và bình chứa
áp suất 22,42kg/ngày (0,04 kg/GB/ngày), ít nhất là chất thải hóa học phát thải trung bình đạt
14,84 kg/ngày (0,02 kg/GB/ngày). Bệnh viện không phát thải chất thải phóng xạ.
9
Nội cán bộ
0,64
10
Phục hồi chức năng
14,12
11
Hồi sức cấp cứu
2,62
12
Nội tổng hợp
4,96
13
Nội tim mạch
2,86
14
Nội tiêu hóa
5,38
15
Truyền nhiễm
8,68
16
Ngoại
3,7
17
Tai – mũi – họng
6,08
18
Răng hàm mặt
2,44
cân từng loại chất thải hàng ngày tại mỗi khoa, nghiên cứu tiến hành trong 1 tuần và kết quả
được tính giá trị trung bình.
Nhận xét:
Nguồn phát thải chất thải rắn y tế nguy hại chủ yếu tập trung ở các khoa/ phòng nhƣ:
Cấp cứu tổng hợp, Chấn thƣơng, Phẫu thuật – gây mê hồi sức, Hồi sức cấp cứu, Ngoại.
Bảng 3.3. Đặc điểm thành phần chất thải rắn y tế nguy hại
của Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
TT
Đặc điểm, thông số
Số lƣợng
(kg/ngày)
Tỷ lệ %
1
Thành phần kim loại, vỏ hộp kim loại
22,78
17,3
2
Thành phần thủy tinh, ống thuốc tiêm, lọ
thuốc tiêm, bơm kim tiêm
3,24
2,5
3
Bông, băng, gạc, bột bó gãy xƣơng, nẹp cố
định
91,58
69,2
4
Chai thuốc, túi thuốc, chai dịch, túi dịch, túi
máu, thành phần chất dẻo
Tỷ lệ %
1
Có phân loại riêng chất thải y tế nguy hại với
chất thải sinh hoạt
27
100
2
Phân loại chất thải lây nhiễm riêng
22
81,4
3
Phân loại chất thải lây nhiễm thành 4 nhóm
riêng biệt *
15
55,5
4
Phân loại chất thải hóa học thể rắn riêng
11
40,7
(*Chất thải sắc nhọn; Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn; Chất thải có nguy cơ lây nhiễm
cao; Chất thải giải phẫu)
Nhận xét:
Tất cả các khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định đều thực hiện phân loại riêng
chất thải sinh hoạt và chất thải y tế nguy hại. Tuy nhiên, tỷ lệ khoa phân loại riêng từng loại
chất thải y tế nguy hại còn thấp. Trong đó chỉ có 81,4% khoa phân loại riêng chất thải lây
nhiễm với các loại chất thải khác và 55,5% phân loại riêng chất thải lây nhiễm thành 4 nhóm
khác nhau. Số khoa phân loại riêng chất thải hóa học cũng chỉ đạt 40,7%.
Bảng 3.5. Tỷ lệ khoa thu gom chất thải rắn y tế
không đúng mã màu sắc (n=27)
nƣớc thải chung của bệnh viện.
Bảng 3.6. Tỷ lệ khoa thu gom chất thải rắn y tế không đúng biểu tượng (n=27)
TT
Loại chất thải
Số lƣợng
Tỷ lệ %
1
Chất thải lây nhiễm
20
74,0
2
Chất thải hóa học
16
59,2
3
Chất thải tái chế
27
100
Ghi chú:Túi, thùng màu vàng đựng chất thải lây nhiễm có biểu tượng nguy hại sinh học;
Túi, thùng màu đen đựng chất thải gây độc tế bào có biểu tượng chất gây độc tế bào kèm
dòng chữ “chất gây độc tế bào”; Túi, thùng màu đen đựng chất thải phóng xạ có biểu tượng
chất phóng xạ và có dòng chữ “chất thải phóng xạ”; Túi, thùng màu trắng đựng chất thải để
tái chế có biểu tượng chất thải có thể tái chế.
Nhận xét:
Hầu hết các khoa đều chƣa phân loại chất thải y tế theo đúng biểu tƣợng. Trong đó tất
24
58,3
41,7
0,0
Nhận xét:
Tỷ lệ khoa có đủ phƣơng tiện thu gom chất thải lây nhiễm còn thấp, chỉ có 58,3 %
khoa đạt tiêu chuẩn. Trong đó, có 7,5% khoa không có phƣơng tiện thu gom tại buồng thủ
thuật và 41,7% khoa thiếu phƣơng tiện thu gom chất thải lây nhiễm tại buồng bệnh.
Bảng 3.8. Tỷ lệ khoa có đủ phương tiện thu gom
chất thải rắn hóa học(n=27)
TT
Phƣơng tiện thu gom
Số khoa
khảo sát
Đủ
(%)
Thiếu
(%)
Không có
(%)
1
Tại buồng bệnh
27
40,7
59,3
0,0
2
Tại buồng thủ thuật
27
(%)
1
Tại xe tiêm
27
92,5
7,5
0,0
2
Tại buồng thủ thuật
27
62,9
0
37,1
3
Cả xe tiêm và buồng thủ
thuật
27
62,9
7,5
37,1
Nhận xét:
Kết quả khảo sát cho thấy, tất cả 27 khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định đều
phát thải chất thải sắc nhọn. Tuy nhiên, chỉ có 62,9 % khoaphát thải có đủ phƣơng tiện thu
gom chất thải sắc nhọn. Tỷ lệ khoa không có dụng cụ thu gom chất thải sắc nhọn tại buồng
thủ thuật là 37,1 và thiếu dụng cụ thu gom cho mỗi xe tiêm chiếm 7,5%.
Bảng 3.10. Kết quả quan sát dụng cụ thu gom
chất thải rắn y tế lây nhiễm (n=60)
TT
Thông tin nghiên cứu
gom chất thải lây nhiễm. Chỉ có 11,7% thùng thu gom có in vạch quy định mức chứa tối đa
và 75% có quy ƣớc màu vàng dành cho thu gom chất thải lây nhiễm. Tình trạng thùng thu
gom bị dập, vỡ chiếm 8,3%.
Bảng 3.11. Kết quả khảo sát tình trạng vệ sinh dụng cụ thu gom
chất thải sắc nhọn (n=95)
TT
Thông tin nghiên cứu
Số lƣợng
Tỷ lệ %
1
Hộp thu gom chuyên dụng
55
57,9
2
Dụng cụ tự tạo: chai truyền dịch, chai nhựa đựng nƣớc,
vỏ hộp thuốc.
40
42,1
3
Có khả năng chống thấm
58
61,1
4
Có nắp đóng mở dễ dàng
12
12,6
5
Màu vàng
90
94,7
thu gom chất thải là dụng cụ tự tạo không đảm bảo an toàn từ vỏ chai truyền dịch, chai nhựa
đựng nƣớc hay vỏ hộp thuốc. Tỷ lệ dụng cụ thu gom có khả năng chống thấm cũng còn thấp,
chỉ đạt 61,1%. Hầu hết các thùng thu gom vẫn chƣa có quy định mức chứa tối đa cũng nhƣ in
hình biểu tƣợng và dòng chữ hƣớng dẫn thu gom đối với chất thải sắc nhọn.
Bảng 3.12. Kết quả quan sát dụng cụ thu gom
chất thải rắn hóa học nguy hại (n=28)
TT
Thông tin nghiên cứu
Số lƣợng
Tỷ lệ %
1
Thùng dập, vỡ
5
17,9
2
Có nắp đậy
8
28,6
3
Có đạp chân
2
7,1
4
Mặt bên ngoài màu đen
12
42,9
5
Có bảng phân loại chất thải tƣơng ứng
2
0,0
2
Chất thải hóa học
100,0
0,0
0,0
3
Chất thải sắc nhọn
88,8
11,2
0,0
Nhận xét:
Toàn bộ chất thải nhiễm khuẩn đều đƣợc các khoa thu gom hàng ngày giúp đảm bảo
yêu cầu vệ sinh. Với chất thải hóa học, bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định có 11 khoa phát
thải chất thải hóa học thể rắn thì cả 11 khoa đều đƣợc thu gom hàng ngày. Tỷ lệ thu gom
hàng tuần của các khoa với chất thải sắc nhọn là 11,2 %.
3.1.3. Thực trạng vận chuyển, lưu giữ chất thải y tế rắn nguy hại của Bệnh viện đa khoa
tỉnh Nam Định
Bảng 3.14. Kết quả khảo sát tình trạng vệ sinh phương tiện vận chuyển
chất thải rắn y tế nguy hại
TT
Thông tin nghiên cứu
Tần suất
1
Xe vận chuyển chuyên dụng
7
2
Vận chuyển riêng với chất thải thông thƣờng
7
Bảng 3.15. Kết quả khảo sát tình trạng vệ sinh đường và thời gian
vận chuyển chất thải rắn y tế nguy hại
TT
Thông tin nghiên cứu
Có
Không
Quy định
chuẩn
1
Đƣờng vận chuyển cách xa khu vực chăm
sóc ngƣời bệnh (>10m)
+
-
+
2
Cách xa nhà ăn (>10m)
+
-
+
3
Qua các khu vực sạch khác (>10m)
-
+
-
4
Ngoài giờ làm việc hành chính
+
-
+
3
Cách lối đi công cộng và nơi tập trung
đông ngƣời < 10m
-
+
-
4
Có mái che
+
-
+
5
Có hàng rào bảo vệ
+
-
+
6
Có cửa và khóa
+
-
+
7
Súc vật, các loài gậm nhấm và ngƣời
không có nhiệm vụ tự do xâm nhập
-
+
-
8
Nhà lƣu giữ có hệ thống thoát nƣớc
+
-
+
15
Chất thải tái sử dụng, tái chế đƣợc lƣu giữ
riêng
-
+
+
16
Có buồng bảo quản lạnh
+
-
+
Nhận xét:
Đa số các tiêu chí vệ sinh của nhà lƣu giữ chất thải đều đạt tiêu chuẩn. Riêng buồng
bảo quản lạnh chất thải y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định đã đƣợc trang bị một buồng đi
vào sử dụng năm 2006. Các tiêu chí vệ sinh bị vi phạm: chƣa có phƣơng tiện vệ sinh cho
nhân viên, chƣa có phƣơng tiện bảo hộ cho nhân viên, chƣa có khu vực lƣu giữ riêng chất
thải tái chế.
3.1.4. Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế nguy hại của Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
Bảng 3.17. Kết quả khảo sát biện pháp xử lý và tiêu hủy
chất thải rắn y tế nguy hại
Biện pháp xử lý
Có
Không
Quy định
chuẩn
Xử lý ban đầu
-
-
+
-
Tái sử dụng
-
+
-
Nhận xét:
Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định đƣợc đầu tƣ xây dựng trạm xử lý CTRYT với nhà
xƣởng có 1 lò Hoval MZ4. Hệ thống đã đƣợc đƣa vào sử dụng từ năm 2002.
Tất cả các chất thải rắn y tế nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm (gồm cả chất thải
sắc nhọn) và chất thải hóa học đều đƣợc Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định xử lý triệt để bằng
phƣơng pháp thiêu đốt. Tuy nhiên, Bệnh viện chƣa có biện pháp xử lý ban đầu với chất thải y
tế nguy hại.
Bảng 3.18. Kết quả khảo sát hệ thống lò đốt chất thải rắn y tế nguy hại
của Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
TT
Thông tin nghiên cứu
Có
Không
Quy định
chuẩn
1
Lò đốt có ít nhất 2 buồng đốt
+
-
+
2
C
+
-
+
8
Thông gió cho lò đốt là thông gió
cƣỡng bức
+
-
+
9
Cửa thu gom tro xỉ dễ dàng
+
-
+
10
Tro xỉ rơi vãi xung quanh lò đốt
+
-
-
11
Ống khói bị ăn mòn
-
+
-
12
Ống khói ≥8m tính từ mặt đất
+
-
+
-
+
TT
Thông tin nghiên cứu
Có
Không
Quy định
chuẩn
18
Công suất đủ đáp ứng tiêu hủy chất thải
nguy hại của Bệnh viện
+
-
+
19
Tro và xỉ còn lại trong buồng đốt đƣợc
đem chôn lấp trong khuôn viên bệnh
viện
+
-
+
20
Cặn từ quá trình xử lý khí chôn lấp
trong bệnh viện
+
-
-
Nhận xét :
Kết quả khảo sát các thông số kỹ thuật lò đốt HOVAL MZ4 của Bệnh viện đa khoa
vận chuyển chất thải
19
67,8
4
Nhân viên vận hành thiết bị xử lý chất thải
4
14,5
Cộng
28
100
Nhận xét
Toàn bệnh viện có 28 nhân viên làm công tác quản lý chất thải y tế. Trong đó, nhân
viên chuyên trách chiếm 17,8 %. Chƣa có nhân viên giám sát công tác quản lý chất thải ở các
khoa/phòng của bệnh viện.
Bảng 3.20. Tài chính dành cho quản lý chất thải rắn y tế
của Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
TT
Thông tin nghiên cứu
Số lƣợng
(triệu/tháng)
Tỷ lệ %
1
Chi phí trả lƣơng cho nhân viên chuyên trách làm
công tác thu gom, vận chuyển hàng tháng
12,5
16,9
2
Nhận xét
Tổng kinh phí dành cho quản lý chất thải y tế của bệnh viện trung bình đạt 86,03
triệu/tháng. Do đây không phải là bệnh viện Quân đội nên toàn bộ kinh phí từ thu gom, phân
loại vận chuyển, bảo quản và xử lý chất thải rắn y tế đều do bệnh viện tự chi trả. Kinh phí
dành cho trả lƣơng nhân viên chuyên trách chiếm 16,9% và 25,8% cho nhân viên kiêm
nhiệm. Kinh phí dành cho vận hành lò đốt chiếm 44,1% tổng kinh phí quản lý chất thải tƣơng
ứng 32,23 triệu đồng/tháng.
Biểu đồ 3.2. Kinh phí xử lý chất thải rắn y tế nguy hại
của Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định theo thời gian
Nhận xét:
Nguồn kinh phí xử lý chất thải rắn y tế nguy hại của Bệnh viện đƣợc đầu tƣ tăng dần
theo thời gian. Tổng chi phí dành cho xử lý chất thải của Bệnh viện năm 2008 chỉ có 144
triệu đồng/năm đã tăng đến 244,8 triệu đồng/năm vào năm 2009 và tăng đến 446,4 triệu
đồng/năm vào năm 2010.
KẾT LUẬN
1. Đặc điểm phát thải, thực trạng thu gom phân loại và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện đa khoa tỉnh Nam Định về cơ bản đã theo Quy chế quản lý chất thải y tế theo
Quyết định 43/QĐ-BYT, 2007.
- Thực trạng thu gom phân loại: có 81,4% khoa phân loại chất thải lây nhiễm riêng,
40,7% khoa phân loại riêng chất thải hóa học, có 18,5% khoa thu gom chất thải lây nhiễm
không đúng mã mầu sắc.
Có 58,3% khoa có đủ phƣơng tiện thu gom chất thải rắn lây nhiễm, 40,7% khoa có đủ
phƣơng tiện thu gom chất thải rắn hóa học và 62,9% khoa có đủ thùng/ hộp thu gom chất thải
Tài liệu tiếng việt:
1. Từ Hải Bằng (2008), “Những khó khăn trong công tác quản lý chất thải bệnh viện”,
Tạp chí Thầy thuốc Việt Nam, Tổng hội Y học Việt Nam, số 26, tr 44-45.
2. Từ Hải Bằng (2009), Điều tra thực trạng quản lý và xử lý chất thải tại các cơ sở
thuộc hệ y tế dự phòng và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm, Báo cáo tổng kết đề
tài nghiên cứu khoa học, Bộ Y tế.
3. Nguyễn Quốc Bình (2004), Công nghệ đốt trong xử lý chất thải nguy hại và một số
kết quả nghiên cứu ứng dụng thực tế.
4. Trần Ngọc Bình (2005), Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của cán bộ, nhân
viên y tế về bảo vệ môi trường tại một số bệnh viện, Luận văn thạc sĩ y học, Học viện
Quân y.
5. Bộ Khoa học Công nghệ & Môi trƣờng (1998), “Quản lý chất thải rắn bệnh viện”,
Kỷ yếu hội thảo 2003.
6. Bộ khoa học Công nghệ và Môi trƣờng (2003), “Quản lý chất thải rắn bệnh viện”,
Kỷ yếu hội thảo 2003.
7. Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2005), “Thực trạng và giải pháp xử lý ô nhiễm môi
trƣờng các bệnh viện”, Tạp chí Bảo vệ môi trường, số 3/2005, tr.13.
8. Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2005), “Các cấp uỷ Đảng, các ngành, các cấp khẩn
trƣơng tiến hành quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 41/NQ/TW”, Tạp chí
Bảo vệ môi trường, số 3/2005, tr. 13.
9. Bộ Y tế (1997), Quy chế bệnh viện, số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19/9/1997.
10. Bộ Y tế (2007), Niên giám thống kê y tế năm 2007, Nhà xuất bản Y học.
11. Bộ Y tế, Quy chế quản lý chất thải bệnh viện, kèm theo QĐ 2575/1999/QĐ-BYT.
12. Bộ Y tế - Vụ điều trị (2000 ), Tài liệu hướng dẫn thực hành quản lý chất thải y tế,
Nhà xuất bản Y học, 2000.
13. Bộ Y tế (2002), Nghiên cứu điều tra giải pháp kỹ thuật xử lý chất thải rắn y tế, Báo
cáo kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học.
14. Bộ Y tế (2003), Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam, Báo
cáo kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học.
15. Bộ Y tế (2005), Quy chế quản lý chất thải bệnh viện, Quyết định 43/2007/QĐ-BYT.
thải bệnh viện, HàNội, 1996.
30. Lê Thị Tài và cộng sự (2003), “Thực trạng quản lý chất thải y tế tại 6 bệnh viện đa
khoa tuyến tỉnh”, Tạp chí nghiên cứu Y học, tập XXI, số 1, tr 56-62.
31. Bùi Thanh Tâm (2004), “Quản lý vệ sinh môi trƣờng bệnh viện”, Sách chuyên khảo
Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế, Nhà xuất bản Y học, tr.32-43.
32. Trần Duy Tạo (2002), Đánh giá thực trạng quản lý và ảnh hưởng của chất thải y tế
bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ lên môi trường xung quanh, Luận văn thạc sĩ y học,
Học viện Quân y.
33. TCVN-6560 (1999), Chất lượng khí thải lò đốt rác y tế.
34. TCVN-7380-2004, Lò đốt chất thải y tế – yêu cầu kỹ thuật.
35. TCVN-7381-2004, Lò đốt chất thải rắn y tế – Phương pháp đánh giá thẩm định.
36. Nguyễn Hƣng Thịnh (2004), Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y
tế và điều kiện trang thiết bị về dự phòng toàn diện tại một số bệnh viện năm 2003 –
2004, Luận văn thạc sỹ Y học, Học Viện Quân Y.
37. Trần Thuy Thủy, Lƣơng Ngọc Khuê, Nguyễn Trọng Khoa (2002), Tăng cường
quản lý và xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam, một số vấn đề cấp bách của công tác
khám chữa bệnh, Nhà xuất bản Y học, tr 235-247.
38. Trƣơng Mạnh Tiến (2005), “Xã hội hoá các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức và
ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trƣờng”, Tạp chí Bảo vệ môi trường, số 5/2005, tr.
23.
39. Nguyễn Thị Hồng Tú ( 2004), “Nguy cơ nghề nghiệp và các biện pháp an toàn vệ
sinh lao động trong ngành y tế”, Sách chuyên khảo: Bảo vệ môi trường trong các cơ
sở y tế, Nhà xuất bản Y học, tr.9-13.
40. Viện hóa học (2008), Hoàn thiện công nghệ xử lý rác thải y tế nguy hại.
41. Viện Pasteur Nha Trang (2004), Báo cáo kết quả điều tra tình hình vệ sinh môi
trường tại các cơ sở y tế 11 tỉnh thành miền Trung, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên
cứu khoa học, Bộ Y tế.
42. Viện vệ sinh y tế công cộng (2004), Báo cáo tổng hợp điều tra môi trường y tế tại
các tỉnh phía Nam, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học, Bộ Y tế.
43. Viện vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên (2004), Báo cáo hiện trạng môi trường trong các
56. L.F. Diaz and G.M.Savege (2003), Risk and costs Associated with the Manegement
of infection Wastes, Malaysia.
57. Ministry of Health (2005), Handbook of hazardous healthcare waste management
in 10-bed and 30-bed community hospitals, Thailan, Bangkok.
58. WHO (1994), Medical waste management in developing country.
59. WHO (1994), Guideline for health care waste management.
60. WHO (1997), Health and Environment in development.
61. WHO/EUROPE (1997), Medical waste managenment, Puplication ERS.
62. WHO (1998), Starting health-care waste management in medical insitutions, A
practical approach.
63. WHO (1999), Safe management of wastes from health care activities.
64. WHO (2004), Managing HCW Disposal – Guideline on How to Construct, Use, and
maintain a Waste Disposal Unit, Geneva, 2004.
65. WHO (2005), Managing HCW at Primary Healthcare Centres – A Dicision –
Making Guild, Geneva, 2005.
66. WHO (2006), Managing of Waste from Infection Activities at the District level:
Guiline for District Health Managers, Geneva, 2006.
67. WHO (2006), Safe management of wastes from health care activities.
68. WHO (2006), Healthcare Waste Management Handbook, May 2006.
69. World Bank (1993), The safe disposal of hazardous waste, Vol 1, vol 2, vol.
70. World Bank (2004), Vietnam Environment monitoring in 2004 – Solid waste.