Đánh giá hiện trạng môi trường tại bệnh viện phụ sản hải phòng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý - Pdf 35

LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong thời đại với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế
thị trường. Khi trình độ phát triển kinh tế xã hội và dân trí của con người ngày càng
phát triển thì nhu cầu của con người về việc chăm sóc sức khỏe càng được chú trọng
hơn. Cùng với tốc độ đô thị hóa, vấn đề quản lý chất thải rắn nói chung, bao gồm chất
thải rắn đô thị, công nghiệp và chất thải bệnh viện đang là những vấn đề nan giải trong
công tác bảo vệ môi trường và sức khỏe của nhân dân.
Nước ta có một mạng lưới y tế với các bệnh viện được phân bố rộng khắp toàn
quốc. Theo số liệu thống kê thì cho đến nay ngành y tế có khoảng 1.200 bệnh viện với
hơn 167.000 giường bệnh. Các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm,
phòng bệnh, nghiên cứu và đào tạo trong các bệnh viện này đều phát sinh chất thải.
Các chất thải y tế dưới dạng rắn, lỏng hoặc khí có là các tác nhân gây ảnh hưởng
nghiêm trọng tới môi trường bệnh viện, xung quanh bệnh viện và đe dọa sức khỏe của
con người.
Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng là bệnh viện chuyên khoa hạng I, không những
đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân thành phố Hải
Phòng mà còn đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân các tỉnh miền duyên hải
Bắc bộ. Bệnh viện càng ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong quá trình
phát triển chung của đất nước. Với những nỗ lực phấn đấu không ngừng, bệnh viện đã
đạt nhiều thành quả đáng kể trong công tác khám chữa bệnh, chăm lo sức khỏe cho
người dân. Tuy nhiên bên cạnh, hiện nay vấn đề nhức nhối của bệnh viện là tình trạng
chất thải rắn y tế thải ra với khối lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguy hại trong khi
hệ thống quản lý còn nhiều thiếu sót.
Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn do chất thải y tế gây ra
đối với môi trường và con người, chúng ta cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng
cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng, nâng cao năng lực
tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải cũng như
nâng cao chất lượng môi trường cho bệnh viện.

Với mong muốn đó, em lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường
tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu

chất thải y tế, bao gồm: Giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử dụng các sản
phẩm có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực
hành và phân loại chất thải chính xác.
5. Tái sử dụng là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ
sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới.
Tái chế là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành những sản phẩm mới.
6. Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng
gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh trong cơ sở y tế.
7. Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh
tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu huỷ.
8. Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có
nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi
lưu giữ hoặc tiêu huỷ.

1


9. Xử lý và tiêu huỷ chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm
mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khoẻ con người và môi
trường.
1.1.2 Nguồn phát sinh, phân loại và thành phần chất thải rắn y tế
a. Nguồn phát sinh
Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế chủ yếu là bệnh viện, các cơ sở y tế khác
nhau như: Trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ
sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu, các trung tâm xét nghiệm và
nghiên cứu y sinh học, ngân hàng máu…. Hầu hết chất thải rắn y tế đều có tính
chất độc hại và chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu vực phẫu thuật, bào
chế dược. Nguồn phát sinh chất thải y tế được thể hiện ở bảng 1.1
Phòng bệnh nhân



2


tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong
y tế.
Chất thải bệnh viện bao gồm 2 thành phần chính là phần không độc hại
được xử lý đơn giản như chất thải sinh hoạt và phần độc hại cần những biện
pháp xử lý thích hợp.
b. Phân loại chất thải rắn y tế
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại,
chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau:
- Chất thải lây nhiễm;
- Chất thải hóa học nguy hại;
- Chất thải phóng xạ;
- Bình áp suất, khí nén;
- Chất thải thông thường.
c.Thành phần của chất thải rắn y tế
* Thành phần vật lý
Đồ bông vải sợi gồm: Bông, gạc, băng, quần áo, khăn lau, vải trải...
Đồ giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh...
Đồ thuỷ tinh: Chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thuỷ tinh, ống nghiệm...
Đồ nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng...
Đồ kim loại: Kim tiêm, dao mổ, hộp đựng...
Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc...
Rác rưởi, lá cây, đất đá...
* Thành phần hóa học
Những chất vô cơ: Hóa chất, thuốc thử, bột bó, …..
Những chất hữu cơ: Đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa, thuốc,...
Nếu phân tích nguyên tố thì thấy gồm những thành phẩm: C, H, O, N, S, P,

+ Độ kiềm : thực chất độ kiềm là môi trường đệm giữ PH trung tính của nước
thải trong quá trình xử lý sinh hóa
+ Nhu cầu oxy sinh hóa(COD) : dùng để xác định lượng chất bị oxy hóa trong
nước thải .COD thường khoảng từ 200-500 mg/l.Tuy nhiên có một số loại nước
thải tăng BODtăng lên rất nhiều lần
+ Các chất khí hòa tan : đây là những chất khí có thể hòa tan trong nước thải
Nước thải công nghiệp thườn có lượng oxy hóa tương đối thấp
4


+ Hợp chất chứa N : số lượng và loại hợp chất chứa N sẽ thay đổi với mỗi loại
nước thải khác nhau
+ PH : đây là cách nhanh nhất để xác định tính axit của nước thải . Nồng độ PH
khoảng 1-14 . Để xử lý có hiệu quả nước thải thường có độ PH từ 6-9.5
+Phospho : đây là nhân tố cần thiết cho hoạt động sinh hóa P thường trong
khoảng từ 6-20mg/l
+ Chất thải rắn : hầu hết các chất ô nhiễm trong nước thải có thể xem là chất
thải rắn
+ Nước : Nước luôn được xem là thành phần chính của nước thải
1.3 Tổng quan về bệnh viện Phụ Sản – Hải Phòng
a. Giới thiệu chung về bệnh viện Phụ sản – Hải Phòng
Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng được thành lập theo Quyết định số 105/QĐVX, ngày 31 tháng 01 năm 1978 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng.
Tổng diện tích khu đất của bệnh viện là 8005 m 2. Bệnh viện được công nhận là
bệnh viện chuyên khoa hạng I chuyên ngành Sản phụ khoa, là tuyến cao nhất
của thành phố về chuyên khoa Phụ- Sản, Sơ sinh và KHHGĐ; có nhiệm vụ
khám chữa bệnh phụ khoa, tiếp nhận đỡ đẻ những trường hợp đẻ khó do các
quận, huyện gửi đến, chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng, thực hiện kỹ thuật dịch vụ
KHHGĐ. Bệnh viện có trách nhiệm chỉ đạo y tế quận, huyện thực hiện công tác
khám chữa bệnh Sản- Phụ khoa, tăng cường kỹ thuật khi cần thiết. Bệnh viện là
cơ sở thực hành của trường Đại học Y khoa Hải Phòng, trường Trung học Y tế

19/09/1997 của Bộ Y tế. Hình thức tổ chức và quản lý của bệnh viện như sau:



Là cơ sở Cấp cứu – Khám chữa bệnh chuyên ngành Sản- Phụ khoa.
Là cơ sở đào tạo thực hành cho trường Đại học Y Hải Phòng, Cao đẳng

Y tế Hải Phòng, đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và tuyến
dưới để nâng cao trình độ chuyên môn.


Nghiên cứu khoa học.



Thực hiện công tác chỉ đạo tuyến, thường xuyên kiểm tra các hoạt động

khám chữa bệnh theo chuyên ngành của tuyến dưới, kể cả y tế ngoài công lập,
thực hiện sơ kết và tổng kết theo định kì.


Phòng bệnh.



Hợp tác Quốc tế.



Quản lý kinh tế Y tế.


Tổng số nhân viên
Số lượt khám bệnh
Công suất sử dụng giường bệnh
Số xét nghiệm
Số lần chụp Xquang
Số phẫu thuật
Số ca đẻ

584
235.919
126%
2.126.779
4.966
93.957
24.599
Nguồn: Sở Y tế Hải Phòng, 2013

b. Vị trí địa lí
Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng ở số 19 đường Trần Quang Khải, thuộc
phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
Các hướng tiếp giáp của bệnh viện như sau:
- Hướng Bắc: giáp đường Lê Đại Hành;
- Hướng Đông: giáp Sở y tế và khu dân cư;
- Hướng Tây: giáp với đường Trần Quang Khải;
- Hướng Nam: giáp với đường Đinh Tiên Hoàng.
Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng nằm trên dải trung tâm thành phố Hải Phòng,
Bệnh viện nằm cách nhà hát lớn Hải Phòng 0,5 km, ga tàu hỏa Hải Phòng 1 km,
sân bay Cát Bi 5 km, bến phà Bính 2 km, cách đường trục chính Hà Nội – Hải
Phòng 4 km.

thải sinh hoạt cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của bệnh viện.
• Bệnh viện kí hợp đồng với công ty Kỹ thuật làm sạch và thương mại Quốc tế
ICT gồm 31 nhân viên và 1 giám sát. Các nhân viên này thực hiện việc vệ sinh, dọn
dẹp các khoa, phòng và vận chuyển chất thải từ các khoa đến nơi tập kết lưu trữ rác.
• Bệnh viện ký hợp đồng với công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hải Phòng
vào 18h hàng ngày đến thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải nguy hại.
• Bệnh viện đã sử dụng đúng màu sắc cho các túi đựng chất thải theo quy chế
của Bộ Y tế, tận dụng các chai nhựa truyền dịch để đựng các mũi tiêm sau sử dụng.
Phương tiện vận chuyển chất thải trong bệnh viện là xe kéo có bánh. Thùng được sử
dụng để đựng chất thải rắn trong khuôn viên bệnh viện và dọc hành lang các khoa
phòng là các thùng nhựa và sắt có nắp đậy, giờ đổ rác cũng được quy định.
Hàng năm Bệnh viện kiện toàn lại Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn. Hội đồng
tổ chức họp, xây dựng kế hoạch hoạt động của hội đồng và phân công nhiệm vụ cho
các thành viên, các thành viên chịu trách nhiệm phụ trách công tác Kiểm soát nhiễm
khuẩn tại lĩnh vực mình được phân công và thường xuyên kiểm tra giám sát, đôn đốc

10


các cán bộ trong phạm vi mình được phụ trách thực hiện tốt công tác Kiểm soát
nhiễm khuẩn.
Hằng năm Bệnh viện kiện toàn lại Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn. Hội đồng tổ
chức họp, xây dựng kế hoạch hoạt động của hội đồng và phân công nhiệm vụ cho các
thành viên, các thành viên chịu trách nhiệm phụ trách công tác Kiểm soát nhiễm
khuẩn tại lĩnh vực mình được phân công và thường xuyên kiểm tra giám sát , đôn đố
Cơ cấu tổ chức bộ máy tham gia công tác quản lý chất thải
Bí thư Đảng ủy - Giám đốc bệnh viện: Đỗ Thị Thu Thủy
Phó bí thư Đảng ủy - Phó giám đốc hậu cần: Phạm Thiện Hoạch
Đảng ủy viên - Phó giám đốc chuyên môn: Nguyễn Văn Học
Đảng ủy viên - Phó giám đốc chuyên môn: Vũ Văn Chỉnh

- Chịu trách nhiệm về chất thải y tế từ khâu phân loại, thu gom, vận chuyển, xử
lý đến tiêu hủy.
- Theo dõi môi trường xung quanh bệnh viện bao gồm theo dõi vi sinh vật bề
mặt và theo dõi chất lượng nước thải bệnh viện.
- Tiệt trùng, khử dụng cụ y tế.
• Phòng Hành chính Quản trị chịu trách nhiệm về nước thải y tế từ khâu xử lý,
vận hành hệ thống xử lý, quan trắc môi trường.
• Phòng vật tư, trang thiết bị y tế của bệnh viện là phòng nghiệp vụ, chịu sự chỉ
đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về toàn bộ
công tác vật tư thiết bị y tế trong bệnh viện.

BV phụ sản
HP

12


CHƯƠNG 2 : ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI BỆNH
VIỆN PHỤ SẢN
2.1. Hiện trạng quản lý môi trường tại bệnh viện Phụ Sản – Hải Phòng
2.1.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải
a.Chất thải rắn
Chất thải rắn phát sinh gồm có chất thải y tế nguy hại và chất thải thông
thường. Nguồn phát sinh chất thải rắn từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc,
xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu đào tạo, sinh hoạt ở tất cả các khoa phòng,
khu căng tin, rác ngoại cảnh. Nguồn chất thải tại bệnh viện được biểu diễn ở
bảng 2.1
Bảng 2.1. Nguồn phát thải chất thải rắn y tế nguy hại của bệnh viện Phụ sản
STT



79
119
55
124
39
33

( kg/ngày)
18,17 ± 0,32
27,37 ± 0,46
12,65 ± 0,21
28,52 ± 0,67
8,97 ± 0,18
7,59 ± 0,22

7

Phụ ngoại

45

92

21,16 ± 0,34

8
9
10


* Nước thải y tế
Nước thải y tế phát sinh từ các khoa phòng như: nhà giặt tẩy, khoa ngoại,
khoa nội, khu giải phẫu bệnh lý… có chứa rất nhiều chất hữu cơ, các chất dinh
dưỡng của Nitơ (N), Phốt pho (P), hợp chất khử khuẩn và các vi khuẩn gây bệnh
nguy hiểm như thương hàn, tả, lỵ, …
Các chất hữu cơ có trong nước thải làm giảm lượng ô-xy hòa tan trong
nước, ảnh hưởng tới đời sống của động, thực vật thủy sinh. Các chất dinh dưỡng
của (N, P) gây ra hiện tượng phú dưỡng nguồn tiếp nhận dòng thải, ảnh hưởng
tới sinh vật sống trong môi trường thủy sinh; các chất rắn lơ lửng gây ra độ đục
của nước, tạo sự lắng đọng cặn làm tắc nghẽn cống, đường ống và máng dẫn.
* Nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt của bệnh viện phát sinh chủ yếu là của bệnh nhân,
người nhà bệnh nhân, khu vực nhà ăn, khu vực hành chính, văn phòng bệnh
viện; nước thải từ khu vực căng tin bệnh viện.
Nước thải sinh hoạt có thành phần chính là:
Nước thải không chứa phân, nước tiểu và các loại thực phẩm từ thiết bị vệ
sinh như bồn tắm, chậu giặt, lavabo...Các loại nước thải này chứa chủ yếu chất
rắn lơ lửng, các chất tẩy giặt và thường được gọi là nước “xám”. Nồng độ chất
hữu cơ trong loại nước thải này thấp và thường là khó phân huỷ sinh học.

14


Nước thải chứa phân, nước tiểu từ các nhà vệ sinh còn được gọi là nước đen.
Loại nước thải này chứa nhiều vi sinh vật, chứa nhiều chất hữu cơ, các
nguyên tố dinh dưỡng nitơ và phôtpho.
Nước thải từ khu vực nhà bếp, nhà ăn chứa nhiều mỡ, dầu thực vật, các
nguyên tố dinh dưỡng N, P.
* Nước mưa chảy tràn
Bệnh viện được xây dựng trên khu đất có diện tích 7.384,17m 2. Với lượng


Phương tiện giao thông chủ yếu lưu hành trong khu vực bệnh viện là các loại
xe ôtô vận chuyển hành khách đến và rời khỏi bệnh viện. Về lý thuyết, khí thải do
quá trình sử dụng nhiên liệu có khả năng gây ô nhiễm không khí nếu lượng chất
thải lớn, tập trung ở một khu vực hẹp. Khí thải của động cơ sinh ra gồm: bụi
CO, SO2, NOx, HC, bồ hóng,... Đặc điểm nổi bật của nguồn ô nhiễm giao thông
vận tải là nguồn ô nhiễm rất thấp, di động, nếu cường độ giao thông lớn thì nó
giống như nguồn đường (nguồn tuyến), chủ yếu gây ô nhiễm cho hai bên đường.
Theo thống kê mỗi ngày có khoảng 2000 lượt xe ra vào bệnh viện làm cho
mật độ xe khu vực tăng lên đáng kể, khi tăng lượng xe ra vào Bệnh viện có thể
gây kẹt xe cục bộ. Với năng lực của tuyến đường, mức độ gia tăng này sẽ không
có những tác động nghiêm trọng đến giao thông. Tuy nhiên, bệnh viện vẫn cần
có sự phối hợp tốt với chính quyền địa phương trong việc bố trí và điều phối
giao thông khu vực, tránh những bất cập nảy sinh.
* Bụi, khí thải phát sinh trong quá trình khám chữa bệnh
- Khí Ozôn hình thành do việc biến đổi O 2 trong không khí thành O3 từ
các phòng chiếu chụp, phóng xạ tia X, hệ thống khí Y tế (ôxy, gây mê...).
- Mùi hôi từ các phòng bệnh, khu vệ sinh, từ khu vực chứa rác y tế,...
* Nguồn phát sinh khí thải từ hệ thống điều hòa nhiệt độ và máy phát
điện dự phòng
- Khí thải dòng nóng của máy điều hòa, máy phát điện thải vào môi
trường sẽ làm cho nhiệt độ môi trường không khí bên ngoài tăng cao, gây ô
nhiễm nhiệt độ cục bộ.
- Rò rỉ chất làm lạnh từ các máy điều hoà làm phát tán khí nhà kính vào
môi trường không khí (HFC…), góp phần gây hiệu ứng nhà kính.

16


- Do máy phát điện dự phòng dùng nhiên liệu đốt là dầu Diezen thành


- Thùng nhựa, túi vàng: đựng dịch mủ, bông băng, gạc thấm máu, dịch cơ
thể...
- Thùng màu xanh, túi xanh: đựng chất thải y tế không nguy hại như vỏ
thuốc, chai nhựa đựng dung dịch không nguy hại, glucose,...
Sau đó, chất thải rắn được đưa về nơi tập kết của khoa. Hộ lý chịu trách
nhiệm phân loại, thu gom chất thải theo đúng màu sắc túi đựng vào thùng chứa
chất thải phù hợp và được nhân viên vệ sinh vận chuyển tới nơi lưu trữ nhiều lần
trong ngày.
Chất thải thông thường được nhân viên vệ sinh thu gom thường xuyên từ
các khoa phòng tập trung về bãi đất trống của bệnh viện chờ Công ty Môi
trường đô thị đến xử lý.
Chất thải sau khi phân loại sẽ được cho vào các túi nilon đúng màu sắc quy
định, không để lẫn chất thải y tế nguy hại vào với chất thải sinh hoạt:
- Túi nilon màu xanh: Đựng chất thải thông thường.
- Túi nilon màu vàng: Đựng chất thải lây nhiễm.
- Túi nilon màu đen: Đựng chất thải phóng xạ, hóa chất độc hại.
- Túi nilon màu trắng: Đựng chất thải được phép tái chế.
- Hộp đựng chất thải sắc nhọn: hộp hoặc thùng nhựa cứng, không bị xuyên
thủng, không bị rò rỉ và có thể thiêu đốt được. Dung tích thùng với các
kích thước khác nhau (2,5 lít; 6 lít; 12 lít và 20 lít) phù hợp với số lượng
các vật sắc nhọn phát sinh.
- Các bình oxy và bình áp kế sẽ được trả lại cho nhà sản xuất.
- Xỉ than phát sinh từ khu vực nồi hơi được thu gom và chứa tại khu chứa
chất thải sinh hoạt.
Sau khi các y bác sĩ phân loại, nhân viên vệ sinh ICT và hộ lý có trách
nhiệm thu gom. Trong trường hợp chất thải quá nhiều sẽ tiến hành thu gom trái
giờ quy định, quá trình thu gom thường được thực hiện 3 lần trong ngày:
Lần1: 6h30 – 7h00
Lần 2: 1h – 1h30

Nhân viên công ty ICT sẽ chịu trách nhiệm vận chuyển tới nhà tập kết chất
thải. Công việc này được thực hiện vào 10h30 – 11h buổi sáng; 4h30 – 5h00 vào
buổi chiều nhằm tránh ô nhiễm môi trường trong và xung quanh khu vực bệnh
viện.
19


Tuy nhiên, có những ngày khối lượng chất thải thải ra lớn do quá trình
khám chữa bệnh tăng của bệnh nhân và các phòng khám nên tần xuất vận
chuyển có thể là 03 lần/ ngày.
+ Lưu trữ chất thải rắn trong bệnh viện
Hiện nay, chất thải y tế nguy hại phát sinh trong bệnh viện sau các giai
đoạn phân loại, thu gom được vận chuyển đến nhà lưu giữ của bệnh viện.
• Nơi lưu trữ nằm ở phía cuối của bệnh viện được xây dựng ở vị trí khuất,
cuối hướng gió và cách ly với khu khám chữa bệnh khoảng 40m.
• Diện tích tổng nơi lưu trữ 56 m 2, trong đó 1 nhà mái đổ bê tông 12m 2
được cô lập riêng biệt bên trong có 7 thùng nhựa PE, màu da cam dung tích 240
lít chứa xác nhi và bệnh phẩm. Diện tích còn lại gồm 9 xe trở rác chứa chất thải
rắn y tế và khu đất trống chứa chất thải sinh hoạt.
• Kết cấu của khu vực bao gồm: Tường bao kín, chưa có mái che, nền
được tráng xi măng, thông khí tốt, có cửa và có khóa, dễ dàng tiêu thoát nước
khi tiến hành rửa vệ sinh. Không để súc vật, các loài gặm nhấm và những người
không có nhiệm vụ tự do xâm nhập.
• Chất thải rắn y tế khi vận chuyển đến được cho vào các xe thùng đựng
chất thải, không để dưới sàn.
• Có cửa riêng thuộc đường Lê Đại Hành để vận chuyển chất thải ra bên
ngoài với tần suất 1 lần/ ngày cố định lúc 18h hàng ngày.
Sinh bệnh phẩm và xác nhi được bảo quản lạnh, sau đó cho vào các thùng gỗ
đưa về nơi lưu trữ tập trung trong bệnh viện
+Vận chuyển bên ngoài bệnh viện

chất thải được phép tái chế như nhựa, giấy bìa được bán cho các cá nhân, cơ sở
thu mua tái chế.
Với xu thế phát triển hiện nay, nhiều vật dụng dùng một lần trong y tế như
chai nhựa đựng các dung dịch NaCl 0,9%, glucose, natri bicacbonate, ringer
lactat, dung dịch cao phân tử, dịch lọc thận; chai, lọ thuỷ tinh đựng thuốc tiêm,
đựng các dung dịch; giấy, báo, bìa, thùng các- tông, vỏ hộp thuốc và các vật liệu
giấy; các vật liệu kim loại không dính các thành phần nguy hại... được sử dụng
với số lượng, chủng loại ngày càng tăng. Đặc biệt là chất nhựa có giá trị cao khi
tái sinh, tái chế, là nguyên liệu để tái chế nhiều vật dụng có ích khác.
21


Ngày 30 tháng 11 năm 2007 Bộ Y tế ban hành quy chế quản lý chất thải y
tế mới cho phép tái chế “các vật liệu thuộc chất thải y tế thông thường không
dính, chứa các thành phần nguy hại (lây nhiễm, chất hoá học nguy hại, chất
phóng xạ, thuốc gây độc tế bào)”.
b.Chất thải lỏng
+ Hệ thống thu gom và xử lý nước thải
*Nước mưa tràn mặt
Toàn bộ lượng nước mưa, nước thải của Bệnh viện được thu gom theo các
đường cống thoát nước tròn PVC đường kính D300, D250, D200, D110 và cống
hộp kích thước CH: 30x40 bao quanh bệnh viện theo đường dẫn riêng và dẫn
trực tiếp và hệ thống thoát nước chung của thành phố.
*Nước thải y tế và nước thải sinh hoạt
Toàn bộ lượng nước thải trong quá trình sinh hoạt, khám chữa bệnh của
bệnh viện được dẫn và các hố ga, qua các ống ngầm và được thu vào hệ thống
các bể tự hoại gồm (05 bể thể tích 20 m 3, 01 bể 40 m3) xử lý sơ bộ tại bể tự hoại
3 ngăn, sau đó tập trung vào bể thu gom nước thải tập trung của bệnh viên có
tổng thể tích 200 m3, tại đây nước được xử lý qua hệ thống xử lý nước thải tập
trung của bệnh viện. Nước sau xử lý thải vào hệ thống thoát nước chung của khu

• Đảm bảo sự an toàn trong công tác quản lý chất thải, khắc phục sự cố và
tránh ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên và bệnh nhân cũng như người thăm
nuôi, hạn chế bệnh nghề nghiệp.

23


Trích đoạn Đánh giá hiện trạng công tácquản lý chất thải khí tại bệnh viện Phụ Sản – Hải Phòng Phương pháp quản lý chất thải lỏng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status