Đánh giá công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Hòa An. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
 TRIỆU HẢI ĐĂNG
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI
RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN HÒA AN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Minh Cảnh


Triệu Hải Đăng

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 2.1. Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế 5

Bảng 2.2. Thực trạng phát sinh chất thải y tế theo giường bệnh 9

Bảng 2.3. Thành phần trung bình của rác thải bệnh viện ở Việt Nam 10

Bảng 2.4. Nguy cơ nhiễm bệnh từ các vật sắc nhọn 16
Bảng 4.1. Kết quả quan trắc nước tại bể Bệnh viện da khoa 27

Bảng 4.2. Thành phần rác sinh hoạt 29

Bảng 4.3. Thành phần rác thải y tế của bệnh viện 29

Bảng 4.4. Tỷ lệ nguy cơ nhiễm bệnh từ vật sắc nhọn 31

Bảng 4.5. Công tác thu gom chất thải rắn y tế tại Bệnh viện 32

Bảng 4.6: Nhân lực và phân bổ nhân lực trong công tác thu gom chất thải rắn
y tế tại Bệnh Viện huyện Thạch An 32

Bảng 4.7. Công cụ thu gom chất thải rắn y tế tại Bệnh Viện 32

Bảng 4.8. Thực trạng công tác phân loại chất thải rắn tại Bệnh Viện 33

Bảng 4.9. Phương tiện vận chuyển chất thải rắn y tế tại Bệnh Viện 34

CTYT Chất thải y tế
CTYTNH Chất thải y tế nguy hại
CTR Chất thải rắn
HBV Hepatitis B vius (vi rút viêm gan B)
HCV Hepatitis C viruts (vi rút viêm gan C)
HIV
Human Imunodeficiency Virus
(vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người)

HTX Hợp tác xã
UBND Ủy ban nhân dân
GB Giường bệnh
TW Trung ương
WHO Tổ chức y tế thế giới
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1. Đặt vấn đề 1

1.2. Mục đích, mục tiêu và yêu cầu 2

1.2.1. Mục đích 2

1.2.2. Mục tiêu 2

1.2.3. Yêu cầu 2

2.4.2. Kinh phí và trang thiết bị xử lý chất thải. 14

2.5. Tác động của chất thải y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng 15

2.5.1. Tác động của chất thải nhiễm khuẩn 16

2.5.2. Tác động của chất thải sắc nhọn 16

2.5.3. Tác động và hóa chất thải và dược phẩm 16

2.5.4. Tác động của chất thải phóng xạ 17

2.6. Tài liệu tham khảo 17

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 18
3.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 18

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 18

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 18

3.1.3. Địa điểm thực hiện và thời gian thực hiện 18

3.2. Nội dung nghiên cứu 18

3.3. Phương pháp nghiên cứu 19

3.3.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 19



4.4.1. Nguồn phát sinh 28

4.4.2. Thải lượng 29

4.4.3. Quá trình thu gom phân loại vận chuyển rác thải rắn y tế tại bệnh viên 31

4.5. Đánh giá xử lý chất thải khí tại bệnh viện 37

4.6. Nhận thức của cộng đồng về quản lý rác thải y tế 38

4.7. Đề xuất giải pháp quản lý và giảm thiểu chất thải rắn y tế tai bệnh viện
Đa khoa Hòa An - Cao Bằng 41

4.7.1. Biện pháp quản lý môi trường 41

4.7.2. Biện pháp kỹ thuật 42

4.8. Biện pháp nâng cao công tác thu gom vận chuyển chất thải rắn y tế tại
bệnh viện đa khoa Hòa An 44

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1. Kết luận 47

5.2. Kiến nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
I. Tài liệu tiếng Việt 50

II. Tài liệu tiếng Anh 51

của người dân ngày càng được nâng cao dẫn đến nhu cầu khám chữa bệnh và
chăm sóc sức khỏe của người dân cũng tăng cao. Nhằm đáp ứng kịp thời các
nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân, được sự quan
tâm của Đảng và Nhà Nước, hệ thống các cơ sở y tếkhông ngừng được tăng
cường, mở rộng và hoàn thiện.
Huyện Hòa AnNằm ở trung tâm tỉnh Cao Bằng bao quanh thành phố Cao
Bằng. trên địa bàn của huyện có Bệnh ViệnĐa Khoa Huyện Hòa An đáp ứng nhu
cầu khám chữa bệnh của người dân. Tuy nhiên trong quá trinh hoạt động ytế bệnh
viện đã thải ra lượng chất thải lớn, các chất thải nguy hại, chất phóng xạ, chất gây
độc tế bào. Đó là các yếu tố nguy cơ gây ôi nhiễm môi trường.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, và được sự đồng ý của Ban
giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm Khoa Tài Nguyên Môi Trường, dưới sự
hướng dẫn của thầy giáo Th.s Nguyễn Minh Cảnh, em tiến hành thực hiện đề
tài“Đánh giá công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa
khoa huyện Hòa An”.

2

1.2.Mục đích, mục tiêu và yêu cầu
1.2.1.Mục đích
Nâng cao nhận thức và hiểu biết của con người về chất thải nguy hại y
tế trong quá trình điều trị và khám chữa bệnh.
Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác thu gom và quản
lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An.
Đánh giá công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa
huyện Hòa An.
Tạo ra một môi trường làm việc tốt hơn cho các nhân viên y tế, nhân
viên vệ sinh và bệnh nhân một môi trường sống trong sạch.
1.2.2. Mục tiêu
- Nghiên cứu đánh giá hiện trangchất thải tại bệnh viện

- Kết quả của đề tài là căn cứ tăng cường tuyên truyền,giáo dục, nâng
caonhận thức của người dân về môi trường.

4

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài


- Công nhân làm việc trong bệnh viện như thu gom, vận chuyển rác.
- Công nhân làm việc trong cơ sỏ xử lý rác như bãi chôn lấp, lò đốt.
Bảng 2.1. Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế
Các dạng nhiễm
khuẩn
Ví dụ về tác nhân gây
bệnh
Chất truyền
Nhiễm khuẩn đường
tiêu hóa
Vi khuẩn đường tiêu
hoá:Salmonella, shigella,
trứng giun
Phân và chất nôn
Nhiễm khuẩn hô hấp Herpes
Nươc bọt (ho) hắt xi
hơi
Nhiễm khuẩn da Phế cầu khuẩn Mủ, nước vết thương
Bệnh than Trực khuẩn than Mồ hôi
AIDS HIV Máu, dịch tiết sinh dục

Nhiễm khuẩn huyết Tụ cầu máu
Viêm gan A Virus viêm gan A Phân,
Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu, dịch thể
- Nguy cơ của chất thải lây nhiễm
Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ
thể thông qua nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da, qua niệm mạc, qua
đường hô hấp, qua đường tiêu hóa. Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng
sinh và kháng hóa chất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất

Cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định
những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt,buồn nôn cho các vấn
đề đột biến gen trong dài hạn.
b, Tác hại và nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trường
- Nguy cơ đối với môi trường nước
Nguồn nước có thể nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải
bệnh viện. Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh. Chúng có thể chứa
kim loại nặng, phần lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa
phim X quang. Một số dược phẩm nhất định, nếu xả thải mà không xử lý có
thể gây nhiễm độc nguồn nước cấp. Bên cạnh đó, việc xả thải bừa bãi chất thải
lâm sàng, ví dụ xả chung chất thải lây nhiễm vào chất thải thông thường, có
thể tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD.
- Nguy cơ đối với môi trường đất
Tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt hay bùn của hệ
thống xử lý nước thải rất có vấn đề khi các chất gây ô nhiễm từ bãi rác có khả

7

năng rò thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nước, và cuối cùng là tác động tới
sức khỏe cộng đồng trong dài hạn.
- Nguy cơ đối với môi trường không khí
Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại
được thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng. Việc thiêu đốt không đủ nhiệt
độ trong khi rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen. Việc đốt
chất thải y tế đựng trong túi nilon PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất
định, có thể tạo ra khí axit, thường là HCl và SO2. Trong quá trình đốt các
dẫn xuất halogen (F, Cl,. Br, I ) ở nhiệt độ thấp, thường tạo ra axit. Như
hydrochloride (HCl). Điều đó dẫn đến nguy cơ tạo thành dioxins, một loại hóa
chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp. Các kim loại nặng, như thủy
ngân, có thể phát thải theo khí lò đốt.

TCVN 7575:2005 - Lò đốt chất thải rắn y tế - xác định kim loại nặng
trong khí thải - phần 1: Quy định chung.
TCVN 7957:2008 - về thiết kế mạng lướivà công trình thoát nước bên ngoài.
TCXDVN 365:2007 - Hướng dẫn thiết kế bệnh viện.
2.2. Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
+Tình hình chung:
Phần lớn các bệnh viện ở nước ta được xây dựng trong gia đoạn đất
nước còn nghèo, lại trải qua chiến tranh nên vấn đề môi trường được quan tâm
đến chưa cao. Cơ sở vật chất để xử lý triệt để các chất độc hại còn nhiều hạn
chế, thiếu thốn nghiêm trọng. trong những năm qua, các cơ quan chức năng
quản lý môi trường đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, vận động các cán bộ,
nhân viên y tế, bệnh nhân và thân nhân để thấy rõ trách nhiệm quan trọng
trong việc thu gom, phân loại và xử lý sơ bộ, giảm thiểu độc hại do chất thải y
tế gây ra. Tuy nhiên nhận thức của cộng đồng về nguy cơ tiềm ẩn của chất
thải y tế còn nhiều yếu kém.
Chất thải y tế được các công ty môi trường đô thị thu gom xử lýhoặc
được xử lý bằng các lò đốt, hoặc được ngâm trong formandehyt rồi tập trung
chôn lấp trong khuôn viên bệnh viện
2.2.1.Thực trạng phát sinh chất thảiy tế
Dựa theo kết quả khảo sát tại 24 bệnh viện trên phạm vi toàn quốc cho
thấykhối lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện theo các tuyến như sau: 9

Bảng 2.2.Thực trạng phát sinh chất thải y tếtheo giườngbệnh
Tuyến bệnh viện
Tổng lượng chất thải
(kg/ngày)
CTYT nguy hại

10
* Chất thải phóng xạ
Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phất
sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đóng dấu dùng trong chẩn đoán
và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ - BYT ngày 24
tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Y tế.
* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO
2
, bình ga, bình khí dung.
Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
* Chất thải thông thường:
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm,
hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh
cách ly)
- Chất thải phát sinh từ hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy
tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín.
Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật
liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.
Theo kết quả nghiên cứu 80 bệnh viện trung ương, địa phương trên phạm vi
cả nước về thành phần trung bình chất thải y tế được thống kê như sau:
Bảng 2.3. Thành phần trung bình của rác thải bệnh viện ở Việt Nam
Stt Thành phần Tỷ lệ(%)
1 Giấy các loại và carton 2,9
2 Kim loại, vỏ hộp 0,7
3 Đồ thủy tinh đồ nhựa (ống kim tiêm, bơm tiêm, lọ
thuốc…)

quanh. Nhưng xử dụng biện phát lò đốt cũngxuất hiện nhiều bất cập như một
số lò đốt không đáp ứng nhu cầu kỹ thuật, khí thải lò vượt quá giới hạn cho
phép. Theo khuyên cáo của tổ chức y tế thế giới cần triển khai áp dụng công
nghệ không đốt, thân thiện với môi trường chi phí vận hành rẻ và tăng cao khả
năng tái chế của chất thải.
*Về nước thải.
Hầu hết các bệnh viện hiện nay chưa quan tâm đúng mức đến việc xử lý
chất thải lỏng. hầunhư tất cả các chất thải lỏng đều đươcdẫn ra theo cùng một
đường cống và tập trung tại bể chứa.
Đồng thời các đường ống cống sau thời gian sử dụng đã xuống cấp trầm
trọng sảy ra hiện tượng rò rỉ gây nguylớn đến môi trưởng. hầu hết các bệnh
viện đều không đủ ngân sách hoặc cơ sở vật chất để xử lý loại chất thải lỏng
lây nhiễm và nước thải bệnh viện này làm ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường.

12
Theo kết quả kiểm tra của bộ y tế năm 2011 lượng chất thải lỏng phát
sinh tại các bệnh viện hiện nay là khoảng 150.000m
3
/ ngày đêm chưa kể các
trung tâm y tế dư phòng và các trạm ytế các cơ sởđào tạo y dược. dự đoán đến
năm 2015 lương nước thải y tế sẽ lên đến 300.000m
3
/ ngày đêm.
* Xử lý khí thải bệnh viện
Chỉ có các bệnh viện lớn mới trang bị hệ thống xử lý khí thải hoặc
cóhotte hút hơi, khí độc tại các khoa, phòng xét nghiệm, xquang còn đa số các
bệnh viện không có hệ thống xử lý khí thải
2.2.4. biện pháp xử lý chất thải y tế
* Xử lý rác thải y tế
Hiện naytheo báo cáo thống kê tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh từ

* Xử lý nước thải bệnh viện.
Thực tế cho thấycác cơ sỏ y tếhầu như vẫn chưa xử lý triệt để đươc
nước thảichỉ có một số bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải theo công nghệ
lọc lắng.
Một số bệnh viện như bệnh viện c, bệnh viện lao phổi Thai nguyên
dang áp dụng công nghệxử lý nước thải theo phương pháp lọc sinh học nhỏ
giọt. Còn đa số các bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước chư yếu là xử lý sơ
bộ bằng hóa chất, bể tự hoại.
2.3.Hiện trạng quản lý chất thải y tế tại tỉnh Cao Bằng.
Theo cục bảo vệ môi trường tỉnh Cao Bằng, trên địa bàn tỉnh có15 bệnh
viện đa khoa,199 trạm y tế xã phường và 80 cơ sỏ khám chữa bệnhmỗi ngày
thải ra khoảng nửa tấn rác thải y tế và 500m
3
nước thải.
Thế nhưng công tác xử lý chất thải y tế vẫn chưa được thực hiện chặt
chẽ theo đúng quy định về vệ sinh môi trường
Theo Sở Y tế Cao Bằng, chất thải rắn y tế nguy hại ở các bệnh viện tuyến
huyện (kể cả bệnh viện tư nhân) được xử lý tập trung tại lò đốt công suất 400 đến
500 kg/giờ của Bệnh viện đa khoa Cao Bằng. Tuy nhiên, từ tháng 09/2010 đến
nay, lò đốt rác này xuống cấp, không đảm bảo vệ sinh môi trường, do đó chất thải
rắn y tế nguy hại của nhiều cơ sở y tế tuyến tỉnh phải đốt tại các bệnh viện huyện
Hoà An Quảng Uyên, Thạch An; trong khi các lò đốt ở các bệnh viện này có công
suất nhỏ (khoảng 40 kg/ngày) nên gây quá tải.
Việc xử lý chất thải rắn y tế nguy hại của các cơ sở y tế trên địa bàn
Cao Bằngnhư hiện nay phần lớn được thực hiện bằng phương pháp thủ công,
chôn lấp không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường; một số bệnh viện xử lý

14
bằng công nghệ lò đốt (lò đốt không có hệ thống xử lý khí thải) nên đã tạo ra
khói bụi, các chất độc hại.


15
không thể tự tiện nâng giá khám bệnh để bù vào chi phíxử lý chất thải của
mình. Vì vậy các bệnh viện tuy đã trang bị lò đốt rác y tế nhưng vẫn không
vận hành vì không đủ kinh phí.
Việc khoán chi ở bệnh viện khiến phần lớn các bệnh viện chỉ quan tâm
tới việc đầu tư máy móc thiết bị phục vụ công tác chuyên môn mà bỏ qua việc
quản lý, xử lý chất thải. Đó là nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc hạn chế trong
công tác quản lý, xử lý chất thải y tế tai các bệnh viện.
Trong quyết định 43/2007/QĐ - BYT có quy định về màu sắc, bao bì,
chất liệu… của túi, thùng rác nhưng chưa nhà sản xuất nào đáp ứng được đầy
đủ yêu cầu đã đề ra.
2.5. Tác động của chất thải y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
Chất thải y tế không được xử lý đúng cách thì dẫn đến tình trạng ô
nhiễm môi trường đất, nước, không khí và gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khỏe con người, hệ sinh thái.
Chất thải rắn tại nơi tập trung nếu không được bảo quản tốt sẽ sinh ra
mùi gây ô nhiễm môi trường xung quanh, các vi khuẩn lây nhiễm có hại trong
rác thải sẽ phát tán ra không khí gây các bệnh về đường hô hấp. Nước mưa
hòa tan các chất độc hại và vi trùng có trong rác từ đó ảnh hưởng đến đất đai
và nguồn nước mặt cũng như nước ngầm.
Quá trình đốt chất thải y tế sẽ sinh ra các khí độc hại như đioxin,
furan…gây ô nhiễm môi trường.
Các phương tiện giao thông của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân ra vào
bệnh viện cũng sẽ phất sinh một lượng khí thải như: SO
2
, NO
2
, Pb, bụi…
Cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưacó công trình nghiên cứu nào phản

(Nguồn: Môi trường nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải
TS Phạm Ngọc Châu, Cục Bảo vệ Môi Trường)
2.5.3. Tác động và hóa chất thải và dược phẩm
Nhiều hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong cơ sở y tế gây ảnh
hưởng đến sức khỏe con người các chất gây độc gen, chất độc tế bào, chất ăn
mòn, chất dễ cháy, chất gây phản ứng, gây nổ.Có thể có các loại thuốc quá
hạn, hết tác dụng cần vứt bỏ.
Bác sĩ hay dược sĩ gây mê có thể mắc các bệnh về đường hô hấp hoặc
viêm da khi pha chế dược liệu để gây mê cho bệnh nhân. Chúng có thể gây

17
độc cho người tiếp xúc lần đầu tiên hoặc thường xuyên tiếp xúc với chúng
như tổn thương qua da hoặc bị bỏng…
Các hóa chất khử khuẩn được sử dụng với một lượng lớn và thường gây
ăn mòn. Các chất thải hóa học thải bỏ vào hệ thống cống rảnh cũng gây ảnh
hưởng vì chúng chứa kháng sinh, một số kim loại nặng như thủy ngân,
phenol, chất sát khuẩn hoặc khử khuẩn khác.
2.5.4. Tác động của chất thải phóng xạ
Phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, điều trị, nghiên cứu…của khoa
y học hạt nhân. Trong quá trình làm việc nếu không cẩn thận những người tiếp
xúc với chúng có thể bi nhiễm xạ. Trên thế giới có rất nhiều trường hợp bi
nhiễm xạ từ chất thải bệnh viện, tai Brazil năm 1988 có 4 người chết vì hội
chứng nhiễm xạ cấp tính và 28 người bị bỏng phóng xạ nặng, một trường hợp
bi ung thư do dò rỉ phóng xạ trong bệnh viện.
Ngoài biến cố có thể xảy ra bởi các chất thải có tính hoạt thấp do lớp bề
mặt bên ngoài của các thùng chứa bi ô nhiễm hoặc do bảo quản không đúng
cách. Mọi nhân viên y tế tiếp xúc với chất thải phóng xạ đều có nguy cơ mắc
bệnh cao.
2.6. Tài liệu tham khảo
+ Báo cáo sửdụng tài liệu tham khảo từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status