BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TĂNG THỊ THANH LOAN
CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TĂNG THỊ THANH LOAN
CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM
Chuyên ngành
: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS TRẦN NGỌC THƠ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Quý Thầy, Cô
trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh, Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp đã hết
lòng truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi học tại trường, đặc
biệt là GS.TS Trần Ngọc Thơ – Giảng viên Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp đã
hướng dẫn tận tình phương pháp khoa học và nội dung đề tài.
Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè lớp cao học khóa 19 của
trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh đã hỗ trợ, động viên khích lệ tôi trong suốt
quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Bảng 1: Tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu
Bảng 2: Tổng hợp các biến của mô hình hồi quy qua phân tích cấu trúc vốn và hiệu
quả hoạt động các công ty niêm yết trên sàn HOSE
Bảng 3: Tóm tắt thống kê mô tả các biến trong mẫu nghiên cứu
Bảng 4: Ma trận tương quan giữa các biến
Bảng 5: Kết quả kiểm định mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là ROE
Bảng 6: Kết quả kiểm định mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là ROA
Bảng 7: Tóm tắt kết quả nghiên cứu
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 1: Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Đồ thị 2: Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA)
Đồ thị 3: Tỷ số nợ ngắn hạn (STD), nợ dài hạn (LTD) và tổng nợ (TD)
Đồ thị 4: Quy mô công ty (SIZE)
Đồ thị 5: Tăng trưởng tài sản (SG), tăng trưởng doanh thu (SG)
Đồ thị 6: Tỷ số doanh thu trên tổng tài sản (EFF)
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
CÁCH TRÌNH BÀY SỐ LIỆU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC ĐỒ THỊ
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 2
1.1 Giới thiệu 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Kết cấu đề tài nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6
1
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động
doanh nghiệp bằng cách phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp được đo bằng tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất
sinh lợi trên tài sản (ROA) với ba biến cấu trúc vốn được đo bằng tỷ số nợ ngắn hạn
trên tổng tài sản (STD), tỷ số nợ dài hạn trên tổng tài sản (LTD) và tỷ số tổng nợ
trên tổng tài sản (TD). Bốn biến được tìm thấy bởi hầu hết các nghiên cứu có ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, đó là quy mô công ty (SIZE), tăng
trưởng tài sản (AG), tăng trưởng doanh thu (SG) và chỉ số doanh thu trên tổng tài
sản (EFF), được sử dụng như là các biến kiểm soát.
Phương pháp phân tích dữ liệu bảng được thực hiện trên mẫu dữ liệu gồm 90 công
ty niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh được tập hợp từ
báo cáo tài chính đã được kiểm toán từ năm 2008 đến năm 2012. Đặc biệt, giá trị trễ
của các biến cấu trúc vốn cũng được sử dụng trong nghiên cứu để đảm bảo rằng tác
động mở rộng của cấu trúc vốn đối với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cũng được
xem xét.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chỉ có tỷ số nợ dài hạn (LTD) có mối quan hệ
ngược chiều với ROE, trong khi đó tất cả các tỷ số nợ (STD, LTD, TD) có mối
quan hệ ngược chiều với ROA. Hơn nữa, các phân tích với các giá trị trễ của cấu
trúc vốn cho thấy rằng tỷ số nợ ngắn hạn năm t-1 (STD
t-1
), tỷ số tổng nợ năm t-1
(TD
t-1
) có mối quan hệ cùng chiều với ROE năm t (ROE
t
). Trong khi đó, tỷ số nợ
dài hạn năm t-1 (LTD
t-1
trúc vốn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp, vì cấu trúc vốn có thể ảnh hưởng
đến sự giàu có của cổ đông. Modigliani và Miller (1963) khi xem xét sự tồn tại của
thuế thu nhập doanh nghiệp và cho rằng các công ty nên sử dụng vốn vay càng
nhiều càng tốt để tối đa hóa giá trị công ty bằng cách tối đa hóa lá chắn thuế. Ngoài
ra, các nghiên cứu lý thuyết khác cũng đã giải thích sâu hơn về cấu trúc vốn như lý
thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết chi phí đại diện.
3
Hơn nữa, theo Gleason và cộng sự (2000), việc sử dụng các mức độ khác nhau của
nợ và vốn chủ sở hữu là một trong những chiến lược đặc biệt được sử dụng bởi các
nhà quản lý để cải thiện hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Do đó, hầu hết các công ty
đã cố gắng đạt được cấu trúc vốn tối ưu để giảm thiểu chi phí vốn hoặc để tối đa hóa
giá trị công ty, từ đó nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình trên thị trường. Vì vậy,
việc lựa chọn loại nợ hợp lý là vấn đề quan trọng khi lựa chọn tỷ lệ nợ trên vốn chủ
sở hữu phù hợp. Tuy nhiên, như ghi nhận của Myer (2001), mỗi công trình lý thuyết
dưới các giả định và mệnh đề riêng, do đó, không có lý thuyết nào trong số các lý
thuyết có thể cung cấp một bức tranh toàn cảnh về việc lựa chọn cấu trúc vốn.
Hơn nữa, Ross (1977) và Noe (1988) cho rằng đòn bẩy tài chính tăng, bởi việc gia
tăng nợ sẽ tác động cùng chiều đến giá trị công ty và hiệu quả hoạt động. Kết luận
này cũng được hỗ trợ bởi Hadlock và James (2002), khi cho thấy rằng các công ty
thích vay nợ hơn vì họ dự đoán lợi nhuận cao hơn.
Một số nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện ở các nước châu Âu và Hoa Kỳ cho
thấy kết quả trái ngược nhau như Gleason (2000) đã tìm thấy tác động ngược chiều
của đòn bẩy lên hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, trái lại Roden và Lewellen
(1995) đã tìm thấy mối liên hệ thuận chiều giữa lợi nhuận và tổng nợ.
Như vậy, không có lý thuyết tổng quát về sự lựa chọn giữa nợ và vốn chủ sở hữu và
có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến việc lựa chọn cấu trúc vốn. Do sự thiếu
đồng thuận về những điều kiện để có cấu trúc vốn tối ưu, thật là cần thiết để kiểm tra
tác động của cấu trúc vốn đối với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Sự đóng góp của
nghiên cứu này giúp các nhà quản lý công ty đưa ra quyết định đúng đắn về tỷ lệ cấu
trúc vốn. Nếu họ sử dụng nợ quá nhiều, điều này có thể gây nguy hiểm trong tương
Chương 1: Tổng quan đề tài.
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Nội dung, kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận của luận văn và gợi ý hướng nghiên cứu xa hơn.
6
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Các nghiên cứu lý thuyết
Công trình nghiên cứu lý thuyết về cấu trúc vốn được thực hiện đầu tiên là của
Modigliani và Miller (1958). M&M phát hiện ra rằng giá trị doanh nghiệp không
bị tác động bởi các khoản nợ vay. M&M đã kết luận đối với lý thuyết "cấu trúc vốn
không liên quan" được biết đến rộng rãi, đó là đòn bẩy tài chính không ảnh hưởng
đến giá trị doanh nghiệp trong điều kiện thị trường hoàn hảo.
M&M đã chứng minh rằng nếu chính sách đầu tư của công ty được thực hiện như
đã đưa ra, khi đó trong một thế giới hoàn hảo, tức là không có thuế và chi phí giao
dịch và thông tin đáng tin cậy, cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị doanh
nghiệp. Tuy nhiên, lý thuyết không liên quan của M&M dựa trên các giả định hạn
chế và không phù hợp với thế giới thực đã bị phản đối vì rằng lý thuyết này giả định
thông tin cân xứng và điều kiện thị trường hoàn hảo, theo Chaganti và cộng sự
(1995), điều này chỉ có tính ứng dụng hạn chế đối với các công ty nhỏ.
Sau công trình đầu tiên của M&M cho rằng cấu trúc vốn không liên quan đến giá trị
doanh nghiệp, Modigliani và Miller (1963) đã xem xét lại nghiên cứu của mình
bằng cách kết hợp lợi ích của thuế như là yếu tố quyết định cấu trúc vốn. Trong
chiều hướng mới này, đặc tính thiết yếu của thuế là việc công nhận lãi suất là chi
phí khấu trừ thuế. Củng cố lập luận này, M&M giải thích rằng công ty có lợi ích từ
nghĩa vụ nộp thuế là phần lãi suất được gọi là lá chắn thuế. Vì vậy, các công ty có
thể tối đa hóa giá trị bằng cách sử dụng nợ nhiều hơn do những lợi ích của lá chắn
thuế. Lãi suất của nợ vay được xem là một khoản chi phí giảm thuế. Theo Miller
(1977), giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào từng loại thuế suất liên quan.
Lý thuyết M&M đã bị phản đối vì một số điểm yếu và các giả định không thích hợp
đông. Bởi vì, các nhà quản lý có thể thông qua các khoản đầu tư phi lợi nhuận, mặc
8
dù kết quả có thể thiệt hại cho các cổ đông. Họ có xu hướng sử dụng dòng tiền tự
do có sẵn để thực hiện lợi ích cá nhân của họ thay vì đầu tư vào các dự án mang lại
lợi ích cho các cổ đông. Để giảm thiểu xung đột đại diện này, Pinegar và Wilbricht
(1989) lập luận rằng cấu trúc vốn có thể được lựa chọn thông qua sự gia tăng mức
độ nợ và không gia tăng chi phí đại diện. Điều này sẽ buộc các nhà quản lý đầu tư
đem lại lợi nhuận có ích cho các cổ đông. Nếu họ quyết định đầu tư vào các dự án
phi lợi nhuận và họ không thể trả lãi cho chủ nợ, chủ nợ có thể buộc công ty thanh
lý và các nhà quản lý sẽ bị mất quyền quyết định hoặc có thể bị mất việc.
Như vậy, theo lý thuyết chi phí đại diện thì các công ty vay nợ thì tốt hơn cho cổ
đông, vay nợ để giám sát các nhà quản lý. Do đó, đòn bẩy tài chính tăng kỳ vọng sẽ
làm giảm chi phí đại diện, giảm các hoạt động thiếu hiệu quả và do đó tăng hiệu
quả hoạt động doanh nghiệp.
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm
2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài
Majumdar và Chibber (1999) khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và
hiệu quả hoạt động trên khía cạnh quản lý doanh nghiệp ở Ấn Độ cho thấy rằng cấu
trúc vốn được đo bằng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu có mối quan hệ ngược chiều
đáng kể với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu với mối quan hệ
ngược chiều này không phù hợp với lý thuyết đại diện như thường được chấp nhận
trong các nền kinh tế phương Tây. Ngoài ra, quy mô công ty được tìm thấy có mối
quan hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt động. Ở Ấn Độ, các nhà tài trợ nợ là các định
chế tài chính thuộc sở hữu chính phủ, do đó việc áp dụng lý thuyết đại diện, cũng
như áp dụng các vấn đề quản trị hiện đại ở phương Tây, sẽ không thực hện được
trong bối cảnh Ấn Độ trừ việc cung cấp vốn vay được tư nhân hóa. Như vậy, tư
nhân hóa các định chế tài chính nhà nước ở Ấn Độ được cho là sự thay đổi chính
sách cơ bản, để có thể đảm bảo rằng các chủ nợ có thể thực hiện hình thức kỷ luật
đối với các nhà quản lý và đảm bảo hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cao.
9
minh rõ ràng là từ số liệu thống kê mô tả của mẫu bao gồm các công ty với mức nợ
tương đối cao, thì không liên quan với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cao. Kết
quả này trái ngược với nghiên cứu của Modigliani và Miller (1963). Phân tích này
cho thấy rằng các công ty với mức nợ cao hơn trong cấu trúc vốn thì hiệu quả hoạt
động không tốt hơn so với các công ty có mức nợ thấp hơn.
Abor (2005) đã nghiên cứu thực nghiệm trên mẫu 22 công ty niêm yết tại sàn giao
dịch chứng khoán ở Ghana trong khoảng thời gian 5 năm (1998-2002). Abor đã
phát hiện ra rằng tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (STD) có mối quan hệ cùng
chiều đáng kể với tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE). Ông lập luận rằng nợ
ngắn hạn ít tốn chi phí hơn, do đó dẫn đến sự gia tăng lợi nhuận doanh nghiệp. Tuy
nhiên, đối với tỷ số nợ dài hạn trên tổng tài sản (LTD), kết quả nghiên cứu cho thấy
có mối quan hệ ngược chiều đáng kể với ROE. Điều này cho thấy rằng sự gia tăng
các khoản nợ dài hạn có liên quan đến việc giảm lợi nhuận do chi phí nợ dài hạn
nhiều hơn và ngược lại. Đối với tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản (TD), kết quả cho
thấy mối quan hệ cùng chiều đáng kể với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Điều
này cho thấy rằng sự gia tăng số nợ có liên quan với sự gia tăng lợi nhuận, do đó
các công ty với khoản nợ cao hơn sẽ có lợi nhuận cao hơn. Kết quả nghiên cứu
cũng cho thấy lợi nhuận tăng theo quy mô và tăng trưởng doanh thu. Kết quả
nghiên cứu này tương tự kết quả nghiên cứu của Hadlock và James (2002) khi cho
thấy rằng các công ty có lợi nhuận đều sử dụng nợ nhiều hơn.
Trái lại, Carpentier (2006) khi nghiên cứu 243 công ty ở Pháp từ 1987-1996 đã tìm
thấy kết quả trái ngược khi nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc vốn trong dài hạn tác
động đến sự thay đổi giá trị doanh nghiệp. Nghiên cứu này cho thấy không có bằng
chứng về mối quan hệ giữa sự thay đổi của nợ và sự thay đổi giá trị doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, chỉ có hệ số có ý nghĩa là lợi nhuận và quy mô doanh nghiệp, nghĩa là
quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều với sự thay đổi giá trị doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng không có ý nghĩa với sự thay đổi giá trị doanh
nghiệp. Tuy nhiên, Abor (2007) đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều đáng kể giữa
11
cấu trúc vốn và tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) trong trường hợp các công ty vừa
công ty đang niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman ở Jordan trong
khoảng thời gian 1989 – 2003, đã cho thấy rằng cấu trúc vốn có ý nghĩa và tác động
ngược chiều đến ROA. Trong khi đó, qui mô công ty có tác động cùng chiều đến
hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Jermias (2008) khi xem xét ảnh hưởng của xu thế cạnh tranh và
chiến lược kinh doanh lên mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt
động của các công sản xuất ở Mỹ, đã cho thấy rằng đòn bẩy tài chính và hiệu quả
hoạt động có mối quan hệ ngược chiều đáng kể, và quy mô công ty cũng có mối
quan hệ ngược chiều đáng kể với hiệu quả hoạt động. Kết quả nghiên cứu cho thấy
xu thế cạnh tranh và chiến lược kinh doanh ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa đòn
bảy tài chính và hiệu quả kinh doanh. Kết quả này cho thấy sự phù hợp với quan
điểm cho rằng vay nợ và hợp đồng vay không chỉ cung cấp cho nhà quản lý lợi ích
về chi phí thuế, mà còn gia tăng hiệu quả hoạt động do bị áp đặt bởi các chủ nợ.
Min Tsung Cheng (2009) nghiên cứu tác động của tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu lên
hiệu quả hoạt động đo bằng dòng tiền trên doanh thu của các công ty ở Đài Loan từ
1995-2004. Phát hiện trong nghiên cứu này cho thấy nợ có ảnh hưởng ngược chiều
đáng kể với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Do đó, phát hiện này cho thấy rằng
sẽ nguy hiểm cho các công ty chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào nợ hoặc vốn cổ phần để
tăng vốn, nhưng sẽ an toàn hơn và tốt hơn khi tăng vốn bằng cả hai biện pháp, với
việc kết hợp nợ vay và vốn cổ phần cùng nhau, trong cùng một thời điểm. Vì vậy,
các công ty cố gắng gia tăng tài chính bằng cách sử dụng cả hai biện pháp là vay nợ
và phát hành cổ phần cùng một lúc, với những lợi thế của biện pháp này để bù đắp
những khó khăn của biện pháp kia và ngược lại. Phát hiện này cũng phù hợp với
nghiên cứu của Ebaid (2009) khi nghiên cứu tác động của việc lựa chọn cấu trúc
vốn lên hiệu quả doanh nghiệp của các công ty ở Ai Cập từ 1997-2005 đã cho thấy
13
rằng tỷ số nợ ngắn hạn (STD) và tỷ số tổng nợ (TD) tác động ngược chiều đến hiệu
quả hoạt động được đo bằng ROA. Trong khi đó, các tỷ số nợ STD, LTD, TD không
có ý nghĩa với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đo bằng ROE.
Theo Wang và cộng sự (2010), nghiên cứu trên 60 công ty niêm yết bất động sản
Zuraidah Ahmad và cộng sự (2012) nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn lên
hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ở hai ngành là ngành công nghiệp và ngành tiêu
dùng của 58 công ty Malaysia từ 2005-2010. Bài nghiên cứu phân tích mối quan hệ
giữa hiệu quả hoạt động của các công ty được đo bằng lợi nhuận trên tài sản (ROA)
và lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE) với ba biến cấu trúc vốn gồm tỷ số nợ ngắn
hạn trên tổng tài sản (STD), nợ dài hạn trên tổng tài sản (LTD) và tổng nợ trên tổng
tài sản (TD). Bốn biến kiểm soát gồm quy mô công ty (SIZE), tăng trưởng tài sản
(AG), tăng trưởng doanh thu (SG) và tỷ lệ doanh thu trên tổng tài sản (EFF). Kết
quả nghiên cứu cho thấy rằng STD, TD có mối quan hệ ngược chiều với ROE; LTD
có mối quan hệ cùng chiều với ROE. Trong khi đó, ROA có mối quan hệ ngược
chiều có ý nghĩa đối với STD và TD, riêng LTD thì không có ý nghĩa với ROA. Hơn
nữa, các phân tích với các giá trị trễ của cấu trúc vốn cho thấy rằng STD, LTD, TD
năm t-1 và t-2 không có ý nghĩa với ROE và ROA năm t. Các biến kiểm soát gồm
tăng trưởng tài sản (AG) và tỷ số doanh thu trên tổng tài sản (EFF) có mối quan hệ
cùng chiều với ROE và ROA, trong khi đó tăng trưởng doanh thu (SG) không có ý
nghĩa với ROE và ROA, quy mô công ty (SIZE) thì không có ý nghĩa với ROE
nhưng có mối quan hệ cùng chiều với ROA.
Imad Zeyah Ramadan (2013) điều tra mối quan hệ giữa nợ và hiệu quả hoạt động
doanh nghiệp của 77 công ty ở Jordan trong giai đoạn từ 2000-2011, bằng cách sử
dụng hai thước đo tỷ suất sinh lời, gồm ROA và ROE và ba thước đo cấu trúc vốn,
đó là LTD, STD và TD, cùng với ba biến kiểm soát gồm quy mô công ty (SIZE),
tăng trưởng doanh thu (SGR) và tỷ lệ doanh thu trên tổng tài sản (EFFI). Kết quả
nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn có mối quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa với
15
ROA. Ngoài ra, STD và TD có mối quan hệ ngược chiều đáng kể với ROE, nhưng
LTD không có ý nghĩa với ROE. Quy mô công ty (SIZE), tỷ lệ doanh thu trên tổng
tài sản (EFFI) có mối quan hệ cùng chiều với ROE, ROA; tăng trưởng doanh thu
(SGR) không có ý nghĩa với ROE, ROA.
2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam
Trần Hùng Sơn và Trần Viết Hoàng (2008) trong bài nghiên cứu “Cơ cấu vốn và