18 Tạp chí Y tế Công cộng, 10.2011, Số 21 (21)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) chiếm khoảng 0,3 - 1% dân
số, thường gặp ở tuổi trẻ từ 15-35. Hiện nay, điều trò người bệnh (NB) TTPL tại cộng đồng phối hợp
liệu pháp hoá dược với liệu pháp lao động phục hồi chức năng tâm lý xã hội (PHCNTLXH) là những
liệu pháp chủ đạo để thực hiện mục tiêu tái hoà nhập NB với gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, liệu
pháp này đòi hỏi gia đình NB phải có kiến thức và kỹ năng trong việc chăm sóc người bệnh (CSNB)
tại nhà. Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề này lại chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu. Mục tiêu của
nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thực trạng kiến thức - thái độ - thực hành của người chăm sóc chính
người bệnh tâm thần phân liệt tại nhà và một số yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc ở 3 xã, thò
trấn huyện Bình Xuyên,Vónh Phúc. Đây là nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp đònh lượng
(phỏng vấn toàn bộ 100 người chăm sóc chính NBTTPL đang được quản lý) với đònh tính (phỏng vấn
sâu 3 cán bộ Y tế phụ trách chương trình Chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng và 3 cuộc thảo luận
nhóm với 18 người chăm sóc chính NBTTPL). Sử dụng phân tích hồi quy logistic để dự đoán một số
yếu tố liên quan đến thực hành CSNB TTPL tại nhà. Kết quả cho thấy người chăm sóc chính (NCSC)
có kiến thức, thái độ và thực hành đạt về chăm sóc NBTTPL tại nhà chỉ lần lượt là 44%, 53% và
45%. Sau khi kiểm soát nhiễu có mối liên quan có ý nghóa thống kê giữa kiến thức chăm sóc với thực
hành chăm sóc. Nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường nâng cao công tác chăm
sóc NBTTPL tại nhà ở 3 xã, thò trấn huyện Bình Xuyên.
Knowledge, attitude and practice of people
taking care of schizophrenia patients at home
and other related factors in 3 communes in Binh
Xuyen district, Vinh Phuc province in 2010
Dinh Quoc Khanh (*), Tran Huu Binh(**), Nguyen Thanh Huong(***)
According to the World Health Organization (WHO) recent reports, schizophrenia is about 0.3 - 1
percent of the population. It is common in young aged from 15 - 35. Currently, treatment of
Kiến thức - thái độ - thực hành của người chăm
sóc chính người bệnh tâm thần phân liệt tại
nhà và một số yếu tố liên quan ở huyện Bình
Xuyên,Vónh Phúc, năm 2010
Đinh Quốc Khánh (*), Trần Hữu Bình(**), Nguyễn Thanh Hương(***)
về kiến thức, thái độ và thực hành của người chăm
sóc NBTTPL tại nhà còn rất ít.
schizophrenia in the community with the method of chemical- pharmaceutical therapy in conjunction
with the rehabilitation method of working and socio-mentality is a major methodology for helping
the patient to re-enter family and community.
In supporting to this method, their family is required to have knowledge and capacity of looking after
patients at their home. However, this method was not reviewed and researched correct way.
The purpose of this study is to survey the status of knowledge- attitude- practice of caregivers of
schizophrenia patients at their families and other related factors to the caring practice in 3 communes
of Binh Xuyen district, Vinh Phuc province. This is a retrospective study, qualitative analysis (100
caregivers who looked after managed schizophrenia patients were interviewed, qualitative analysis
(3 healthcare staffs managing the program of community mental health were interviewed. Three
group discussions with the participation of 18 caregivers to schizophrenia patients). Logistic
regression analysis was used to forecast the factors of caring practice for schizophrenia patients at
home.
The results show that the percentage of caregivers who have knowledge, attitude and practice are
44%, 51% and 45 % respectively. It is noted on the statistic value between the knowledge and
practice of caregivers. The study suggests the solutions to increasing the capacity of caregivers at
home in 3 communes of Binh Xuyen district.
Tác giả:
(*) ThS. Đinh Quốc Khánh, Trưởng phòng Quản lý Học sinh-sinh viên, Phó trưởng bộ môn Điều dưỡng Truyền
nhiễm, Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội. Đòa chỉ: Số 35 Đoàn Thò Điểm- Quận Đống Đa- Hà Nội. Email:
(**) PGS.TS. Trần Hữu Bình, Viện trưởng Viện Sức khỏe Tâm thần Trung ương, Phó trưởng bộ môn Tâm thần-
Trường Đại học Y Hà Nội.
(***) TS. Nguyễn Thanh Hương, Phó trưởng khoa các Khoa học xã hội, hành vi và Giáo dục sức khỏe
20 Tạp chí Y tế Công cộng, 10.2011, Số 21 (21)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Bình Xuyên là một huyện của tỉnh Vónh Phúc.
Từ năm 2001 đến nay, chương trình CSSKTTCĐ đã
tổng số có 100 NCSC và 3 cán bộ phụ trách chương
trình CSSKTTCĐ tham gia.
Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi thu thập số
liệu đònh lượng (phỏng vấn) bao gồm 4 phần chính
đó là các thông tin chung, kiến thức, thái độ, thực
hành của người chăm sóc chính và mối liên quan
đến thực hành chăm sóc NBTTPL tại nhà; Hướng
dẫn phỏng vấn cán bộ y tế (3 cuộc); và hướng dẫn
thảo luận nhóm NCSC (3 cuộc với tổng cộng 18
người tham gia)
Cơ sở để đánh giá kiến thức, thái độ thực hành
là dựa trên tài liệu hướng dẫn của tác giả Nguyễn
Viết Thiêm [4]. Tiêu chuẩn đánh giá đạt yêu cầu:
Bằng cách tính điểm lấy giá trò trên trung bình của
quần thể.
Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu:
- Người chăm sóc chính: là người thường xuyên
trực tiếp đưa NB đi khám bệnh đònh kỳ, trực tiếp đi
lónh thuốc, cho NB uống thuốc hàng ngày; có thời
gian giúp NB làm vệ sinh cá nhân hàng ngày, trên
18 tuổi, sống cùng với NB.
- NBTTPL được điều trò tại nhà là những người
bệnh đã ổn đònh nhưng vẫn cần phải điều trò duy trì
(được bệnh viện cho về điều trò tại nhà).
Phân tích số liệu: Số liệu đònh lượng được nhập
bằng phần mềm EpiData 3.1 và xử lý bằng phần
mềm SPSS16.0. Sử dụng các test thống kê
χ
2
để
NCSC chỉ nêu ra được một số công việc như: Cho
người bệnh uống thuốc đều và đúng theo chỉ dẫn;
Giúp cho người bệnh ăn uống hàng ngày. Qua thảo
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 10.2011, Số 21 (21) 21
luận nhóm NCSC cũng cho kết quả tương tự, NCSC
chỉ đề cập đến việc cho NB uống thuốc đều, theo
chỉ dẫn và cho NB ăn uống hàng ngày.
Do vậy, tỷ lệ NCSC có kiến thức về bệnh và nội
dung cần chăm sóc NBTTPL tại nhà đạt chỉ chiếm
44%.
3.3. Thái độ của người chăm sóc chính về
bệnh và CSNBTTPL tại nhà
Hình 1 cho thấy quan điểm "NBTTPL cần được
hiểu rõ bệnh của mình" lại thấp hơn nhiều, tỷ lệ
đồng ý và rất đồng ý chỉ chiếm 46%.
Tỷ lệ đồng ý và rất đồng ý với quan điểm
NBTTPL cần được khám và lónh thuốc đònh kỳ, cần
được uống thuốc theo chỉ dẫn rất cao, lần lượt là
97% và 96%. Trong khi đó, quan điểm về giúp đỡ
NBTTPL làm vệ sinh cá nhân hàng ngày, hòa nhập
xã hội qua lao động và sinh hoạt lại có tỷ lệ đồng ý
thấp hơn đáng kể, chỉ trên 60%.
Phỏng vấn sâu CBYT phụ trách chương trình
CSSKTT tại xã cho thấy NCSC chưa chú trọng đến
việc cho NBTTPL hòa nhập cộng đồng. Họ cho
rằng NBTTPL không đảm bảo hiệu quả của công
việc, thậm chí còn gây phiền toái.
Tỷ lệ NCSC có thái độ về bệnh và quan điểm
chăm sóc NBTTPL tại nhà đúng chỉ chiếm 51%.
Hình 1. Thái độ của NCSC về bệnh TTPL
Hình 2. Thái độ của NCSC về chăm sóc
Hình 3. Kết quả thực hành của NCSC về chăm sóc
NBTTPL tại nhà
22 Tạp chí Y tế Công cộng, 10.2011, Số 21 (21)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Kiến thức về chăm sóc của người chăm sóc
chính NBTTPL đóng vai trò quan trọng đối với việc
thực hiện các nội dung CSNBTTPL tại nhà, NCSC
có kiến thức tốt về chăm sóc thì mới đưa NB đi
khám và lónh thuốc đònh kỳ, cho NB uống thuốc đều
và đúng theo chỉ dẫn, giúp NB vệ sinh cá nhân hàng
ngày, giúp NB tham gia lao động và sinh hoạt xã hội
hòa nhập cộng đồng. Từ đó, NB sẽ hòa nhập cộng
đồng và giảm tái phát bệnh. Trong nghiên cứu này
chỉ ra rằng: tỷ lệ NCSC biết được NBTTPL cần
được giúp vệ sinh cá nhân hàng ngày và giúp NB
tham gia sinh hoạt xã hội để hòa nhập cộng đồng là
rất thấp. NCSC chỉ quan tâm đến việc cho NBTTPL
uống thuốc đều và theo chỉ dẫn. Do đó, tuyên truyền
và hướng dẫn nhằm nâng cao hiểu biết toàn diện về
các nội dung CSNBTTPL là hết sức quan trọng.
NCSC hiểu đặc điểm của bệnh TTPL, đồng thời
có thái độ đúng thì sẽ thông cảm và CSNB tốt hơn.
Qua nghiên cứu, tỷ lệ NCSC có thái độ đúng chỉ là
51%. Quan điểm ủng hộ cần cho NBTTPL hiểu rõ
bệnh của mình, NBTTPL cần được giúp đỡ vệ sinh
hàng ngày, tham gia lao động, sinh hoạt xã hội hòa
nhập cộng đồng lại thấp. Đây cũng là vấn đề mà y
tế đòa phương cần lưu ý, vì khi NBTTPL hiểu rõ
tiếp tục duy trì và tăng cường để đảm bảo 100%
NBTTPL được đi khám và lónh thuốc, uống thuốc.
Tỷ lệ giúp NB vệ sinh cá nhân hàng ngày theo
NC của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Hồ
Xuân nói trên (67% so với 74,5%) [1]. Khác biệt
này có thể do sự khác nhau về điều kiện kinh tế mà
những NCSC tại đòa bàn NC của chúng tôi ngoài
công việc CSNB ra thì có thể họ còn phải đi làm
nhiều hơn. Vì vậy, điều kiện giúp NB làm vệ sinh
cá nhân NBTTPL ít hơn.
So sánh với nghiên cứu của Hồ Xuân nói trên
thì tỷ lệ giúp NB hòa nhập cộng đồng như tham gia
lao động của NC chúng tôi cao hơn (60% so với
47,1%) nhưng tỷ lệ sinh hoạt xã hội thấp hơn (39%
Bảng 3. Mô hình hồi qui đa biến dự đoán một số
yếu tố liên quan đến thực hành
CSNBTTPL tại nhà
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 10.2011, Số 21 (21) 23
so với 43,1%) [1]. Qua kết quả NC đònh tính cho
thấy CSNBTTPL hết sức vất vả, nhiều việc phải
làm khi chăm sóc và hoạt động này của NCSC vẫn
mang tính chất "kinh nghiệm". Dựa vào các phát
hiện của NC, chúng tôi cho rằng các hoạt động hỗ
trợ cần được chú trọng hơn nữa để giúp NBTTPL
hòa nhập cộng đồng, tham gia sinh hoạt xã hội.
Tỷ lệ NCSC thực hành đạt trong NC của chúng
tôi chiếm 45% (hình 3). So sánh với nghiên cứu của
Hồ Xuân nói trên thì tỷ lệ NCSC thực hành đạt của
NC chúng tôi thấp hơn (45% so với 80,4%) [1]. Sự
tại cộng đồng cho các bệnh loạn thần nặng mãn tính, Ngành
tâm thần học Việt Nam, Hà Nội.
4. Nguyễn Viết Thiêm (2000), Bệnh Tâm thần phân liệt
những hiểu biết cơ bản về điều tri, chăm sóc, quản lý và phục
hồi chức năng dựa vào cộng đồng, Chương trình quốc gia về
chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng, Hà Nội.
5. Phòng Y tế huyện Bình Xuyên (2009), Báo cáo kết quả
thực hiện công tác Y tế năm 2009 và phương hướng kế hoạch
năm 2010.