báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở nam định - Pdf 26

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH
TÂM THẦN PHÂN LIỆT TẠI GIA ĐÌNH Ở NAM ĐỊNH
Chủ nhiệm đề tài: CN. Nguyễn Thị Dung
Đơn vị chủ trì: Bộ môn Tâm – Thần kinh.
Mã số: …
NAM ĐỊNH 2014
BỘ Y TẾ
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH
TÂM THẦN PHÂN LIỆT TẠI GIA ĐÌNH Ở NAM ĐỊNH

Chủ nhiệm đề tài: CN. Nguyễn Thị Dung
Những người tham gia: CN Nguyễn Thị Lý
CN. Đỗ Thị Hiền
CN. Vũ Thị Nhung
Người hướng dẫn: TS. Trương Tuấn Anh
Đơn vị chủ trì: Bộ môn Tâm – Thần kinh
Cơ quan quản lý: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Thời gian thực hiện: Từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014
Tổng kinh phí thực hiện đề tài

NAM ĐỊNH 2014
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TTPL Tâm thần phân liệt
NB Người bệnh

Phản ứng phụ khi dùng thuôc
27
9 Người chăm sóc nhận thuốc cấp điều trị cho NB hàng tháng 27
10 NCS cho NB uống thuốc hàng ngày. 28
11
NCS cho NB uống thuốc đúng liều theo chỉ định BS. 28
12 Cách NCS cho NB uống thuốc 28
13
Xử trí NCS khi người bệnh gặp phản ứng phụ
29
14 Thực trạng chăm sóc về vệ sinh cho người bệnh 29
15
Thực trạng chăm sóc về dinh dưỡng cho người bệnh
30
16 Thực trạng hướng dẫn người bệnh lao động 30
17
Thực trạng chăm sóc giúp người bệnh giao tiếp
31
18
Thực trạng đưa người bệnh đi khám bệnh định kỳ
31
19 Điểm trung bình chăm sóc NB của NCS trong gia đình 32
20 Liên quan giữa tổng điểm trung bình và số lần tái phát người bệnh 32
21
Liên quan giữa tổng điểm trung bình chăm sóc và một số đặ điểm
của đối tượng nghiên cứu
33
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG ĐỀ TÀI
Số Tên biểu đồ Trang
1.1 Tỷ lệ người bệnh theo tuổi và giới 28

nguyên, bệnh sinh của bệnh vẫn chưa được rõ ràng.
Tâm thần phân liệt là một bệnh khá phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, tỷ
lệ mắc bệnh khoảng 0, 3 – 1,5% dân số[9]. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện nay
trên thế giới đang có khoảng 45 triệu người mắc bệnh tâm thần phân liệt và mỗi năm
có khoảng 1 triệu người tự sát vì tâm thần phân liệt [11].
8
Theo thống kê của Chương trình Quốc gia năm 2012, ở Việt Nam tỷ lệ mắc tâm
thần phân liệt là 0,47% dân số, bệnh khởi phát ở lứa tuổi 18 đến 40[7]. Theo Trần Viết
Nghị tỷ lệ này là 0,3 - 1%[9] .
Theo bộ lao động thương binh xã hội năm 2011 tại Việt Nam hiện nay đang có
khoảng hơn 200.000 người bệnh tâm thần phân liệt. Trong khi đó, cả nước chỉ có
khoảng 100.000 người bệnh đang được chăm sóc và phục hồi chức năng tại 26 cơ sở
bảo trợ xã hội[11]. Như vậy, còn lượng rất lớn người bệnh tâm thần đang sống ở cộng
đồng, không ít người trong số đó do gia đình không kiểm soát được đã bỏ nhà đi lang
thang. Chính vì thế, các mô hình chăm sóc người bệnh tâm thần dựa vào cộng đồng
được coi là một giải pháp tốt, là xu hướng mà thế giới đang đi theo.
Năm 1999, Chính phủ Việt Nam đưa vào Chương trình mục tiêu Quốc gia dự
án bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng[2]. Bệnh tâm thần phân liệt là môt trong ba
bệnh chính được đưa vào chương trình. Mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần được
nhân rộng từ tuyến trung ương, tuyến tỉnh, đến các trung tâm Y tế dự phòng quận,
huyện và trung tâm Y tế xã, phường, thị trấn. Với phần lớn người bệnh tâm thần đang
được quản lý tại gia đình và được theo dõi quản lý theo sổ tại trạm y tế xã, phường.
Việc điều trị bệnh tâm thần phân liệt ngày nay chủ yếu là dựa vào cộng đồng
nghĩa là người bệnh không cần phải nằm trong bệnh viện lâu dài mà có thể sinh hoạt
bình thường tại gia đình và xã hội nhưng phải được tái khám định kỳ và dùng thuốc
duy trì theo hướng dẫn của thầy thuốc. Vì vậy vai chò của người chăm sóc trong gia
đình là rất quan trọng. Nếu tại gia đình, người thân chỉ biết sử dụng thuốc cho người
bệnh uống đều đặn hàng ngày mà không quan tâm đến việc phục hồi các chức năng
tâm lý thì vẫn chưa đủ bởi vì mục tiêu là vừa điều trị vừa giúp cho người bệnh tái hòa
nhập cộng đồng.

chưng của bênh tâm thần phân liệt gồm 4 chữ A (rối loạn sự liên tưởng: Association,
rối loạn loại cảm xúc: Affect, tự kỷ: Autism, tính hai chiều trái ngược : Ambevalence)
Năm 1939 Schneider mô tả một số triệu chứng hàng đầu, được ông coi là đặc
trưng cho tâm thần phân liệt (TTPL): là một bệnh tâm thần nặng, có tính chất tiến
triển, căn nguyên chưa rõ ràng, làm biến đổi nhân cách của bệnh nhân theo kiểu phân
liệt, biểu hiện bằng sự mất thống nhất trong các hoạt động tâm thần. Bằng mất dần liên
hệ với thực tại xung quanh, bằng cảm xúc ngày càng khô lạnh, tác phong ngày càng kỳ
dị khó hiểu, tư duy ngày càng lệch lạc trầm trọng cả về hình thức lẫn nội dung.
Như vậy, các tác giả đều thống nhất rằng: Bệnh TTPL làm mất tính thống nhất,
chia cắt các hoạt động tâm thần, bệnh có xu hướng tiến triển mãn tính, làm biến đổi
nhân cách của nguời bệnh theo hướng thiếu hoà hợp và tự kỷ, cùn mòn cảm xúc, tác
phong kỳ dị khó hiểu.
1.2. Triệu chứng và phân loại bệnh tâm thần phân liệt
Các triệu chứng của bệnh TTPL vô cùng phong phú, vô cùng phức tạp và luôn
biến đổi. Tuy nhiên đại đa số các nhà tâm thần học đều thống nhất chia các triệu chứng
của bệnh TTPL thành 2 nhóm:
- Triệu chứng âm tính: là các triệu chứng biểu hiện sự tiêu hao mất mát trong
các hoạt động tâm thần, sự mất tính toàn vẹn, tính thống nhất trong các hoạt động tâm
11
thần. Triệu chứng âm tính là nền tảng của quá trình phân liệt và bao gồm hai biểu hiện
chính:
+ Tính thiếu hoà hợp và tự kỷ.
+ Sự giảm sút thế năng tâm thần.
- Triệu chứng dương tính: là biến đổi rất đa dạng phong phú của các hoạt động
tâm thần xuất hiện trong quá trình bị bệnh: như hoang tưởng, ảo giác, ám ảnh, tâm
thần tự động, cơn hưng cảm, cơn trầm cảm….
Với sự phức tạp trong bệnh cảnh lâm sàng của bệnh TTPL, cho đến nay đã có
rất nhiều quan điểm khác nhau về phân loại bệnh TTPL, nhưng có hai bảng phân loại
được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và thực hành lâm sàng tâm thần:
1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt

có từ 2 triệu chứng trở lên trong nhóm các triệu chứng từ (5) đến (9).
Tiêu chuẩn về thời gian: các triệu chứng trên phải tồn tại từ một tháng trở lên
dù được điều trị hay không.
1.4. Đặc điểm tiến triển lâm sàng của bệnh
Theo R. Murray (2000) [9], TTPL có 4 nhóm tiến triển như sau:
- Bệnh nhân có một thời kỳ bị bệnh duy nhất sau đó bệnh ổn định hoàn toàn.
Kiểu tiến triển này chiếm 20% tổng số bệnh nhân tâm thần phân liệt.
- Bệnh có nhiều đợt tái phát, giữa các đợt tái phát bệnh hầu như ổn định (chiếm
35%).
- Bệnh có nhiều đợt tái phát, giữa các đợt tái phát có biểu hiện thiếu sót hành vi
tâm thần rõ ràng (8%).
- Bệnh tái phát, sau mỗi đợt tái phát các di chứng tâm thần nặng nề dần lên
giống như kiểu tiến triển liên tục nặng (chiếm 35%).
- Tỷ lệ tái phát, sau 2 năm, chiếm khoảng 40% và tỷ lệ này tăng lên đến 80%
nếu người bệnh không được điều trị liên tục.
Do vậy bên cạnh sự can thiệp điều trị của thầy thuốc thì gia đình và cộng đồng
đóng vai trò rất lớn trong việc giám sát, duy trì điều trị cho người bệnh để góp phần
làm giảm tỷ lệ tái phát của bệnh.
1.5. Chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt.
Bệnh tâm thần phân liệt ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống người bệnh và làm cho
họ mất đi nhiều khả năng sinh hoạt bình thường. Mặt khác, phần lớn người bệnh bắt
13
đầu bị bệnh khi còn trẻ và bệnh tâm thần phân liệt được coi như một bệnh mạn tính
làm cho họ mất đi hoặc suy yếu những khả năng sinh hoạt như: suy nghĩ, học hỏi, giao
tiếp xã hội, làm việc, tình cảm, các mối quan hệ cá nhân cũng như quan hệ xã hội.
Phần khó khăn nhất trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt là làm sao giúp người
bệnh giảm bớt mức độ tàn phế và có thể sống một cuộc sống tương đối bình thường
trong thời gian sau cơn bệnh.
Trái với những thay đổi mau chóng và rõ rệt trong việc dùng thuốc điều trị và
kìm chế những triệu chứng nổi, việc phục hồi sinh hoạt cho người bệnh chỉ mang lại

và nhận thức của người bệnh). Một số người bệnh đã từng nằm điều trị trong các bệnh
viện tâm thần nhiều năm và đã quen với lối sống phụ thuộc vào sự giúp đỡ, chỉ dẫn và
chăm sóc của các bác sỹ, điều dưỡng và các nhân viên y tế khác trong mọi chuyện; họ
thường không phải lo lắng đến việc ăn ở cho bản thân cũng như không phải lo cho gia
đình. Sau nhiều năm sống như vậy, nghị lực, tinh thần, óc sáng tạo, khả năng tháo vát,
ứng biến với cuộc sống ngoài xã hội của họ bị ảnh hưởng nặng nề, cho đến khi họ phải
trở về sống với gia đình thì họ trở thành gánh nặng cho gia đình. Nếu họ không được
có cơ hội để làm lại cuộc đời thì họ sẽ tiếp tục là gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Chương trình phục hoạt chính là cơ hội để họ có thể làm lại cuộc đời. Người bệnh
Tâm thần phân liệt ổn định chủ yếu là sống tại gia đình vì vậy để người bệnh được
chăm sóc tốt nhất thì gia đình người bệnh cần có kiến thức về bệnh, kiến thức chăm
sóc đúng để người bệnh có thể tái hòa nhập cộng đồng một cách tốt nhất.
1.6. Gia đình với người bệnh tâm thần phân liệt
- Gia đình phải thực sự là tổ ấm của mọi thành viên. Tạo không khí tình cảm
thoải mái hài hoà trong gia đình, mọi người phải thực sự thông cảm hiểu biết nhau.
Tránh gây căng thẳng, xích mích, to tiếng, tranh luận hoặc cãi nhau, hiểu lầm nhau
đó đều là những yếu tố thuận lợi (stress) để bệnh phát triển, tái phát.
- Khi gia đình phát hiện các biểu hiện bất thường của một người trong gia đình
cần phải đưa đi khám bệnh các thầy thuốc, tư vấn tâm lý đặc biệt các bác sĩ chuyên
khoa. Phát hiện sớm, điều trị tích cực là phương châm chính của công tác chăm sóc
sức khoẻ tâm thần tại cộng đồng.
- Gia đình quản lý thuốc và cho bệnh nhân uống theo đúng qui định của bác sĩ
chuyên khoa để tránh tái phát bệnh và duy trì cuộc sống bình thường của bệnh nhân.
Không tự ý ngừng thuốc.
15
- Gia đình thường xuyên thông tin chính xác, đúng sự thật cho các bác sĩ về
biểu hiện bất thường của bệnh nhân và những tiến triển tốt.
- Gia đình cần có thái độ xem bệnh nhân như những thành viên khác, không
phân biệt đối xử.
- Gia đình cần chấp nhận những hành vi kỳ dị của người bệnh, cần tỏ rõ tình

bảo NB uống thuốc trước mặt nhằm hạn chế vấn đề NB tự ý bỏ thuốc hoặc dấu thuốc.
• Vệ sinh
o Người chăm sóc cần khuyến khích và đôn đốc để NB tham gia vệ sinh cá
nhân hàng ngày, bên cạnh đó NCS nên hướng dẫn tỷ mỷ và kiên nhẫn, khích lệ họ để
họ cảm thấy vui, tích cực tham gia.
o Hỗ trợ của gia đình: Nếu người bệnh có thể tự tắm và gội, giặt quần áo
được được thì để cho NB tự vệ sinh và tắm rửa. Gia đình có thể hỗ trợ NB trong một
chừng mực nào đó nếu NB cần hỗ trợ ( vd: NB có thể tự tắm được thì gia đình giặt
quần áo giúp)
o Người chăm sóc cần phải giữ vệ sinh sạch sẽ cho người bệnh: Dù người
bệnh có thể tự làm hay gia đình phải hỗ trợ thì hàng ngày NB cần phải được vệ sinh cá
nhân, quần áo, đầu tóc phải gọn gàng. Không nên để cho NB bẩn thỉu và lôi thôi. Có
như vậy NB mới cảm thấy không tự ti, và bớt ánh mắt kỳ thị từ người khác. Hơn nữa
việc cơ thể được sạch sẽ có thể hạn chế được các bệnh nhiễm khuẩn hoặc viêm nhiễm
khác. Vì vậy người chăm sóc cần phải giúp đỡ để người bệnh luôn được sạch sẽ.
• Dinh dưỡng
o Người bệnh tâm thần cũng cần phải được ăn uống đầy đủ ít nhất 3
bữa/ngày một ngày và ít nhất 2 bát/ bữa, đủ dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu của cơ
thể.
o Hỗ trợ gia đình: Trong một chừng mực nào đó gia đình có thể hỗ trợ NB
như đi chợ giúp hoặc nấu cơm giúp. Tuy nhiên gia đình cũng nên khuyến khích người
bệnh tham gia tự giác chủ động nấu cơm và tự lấy cơm để ăn. NB tâm thần phân liệt ở
giai đoạn ổn định hoàn toàn có thể tham gia cùng gia đình thực hiện các công việc
như nấu cơm hoặc rửa bát. Gia đình không nên để người bệnh thụ động, không tham
gia hoặc hỗ trợ hoàn toàn giúp NB.
• Lao động và phục hồi chức năng tâm lý cho NB.
17
o Lao động: Gia đình cần khuyến khích và đôn đốc NB tham gia lao động.
Khi người bênh làm được việc gì dù là nhỏ nhất thì gia đình cũng nên khuyến khích
động viên. Làm việc giúp cho người bệnh cảm thấy mình có ích, thoả mãn vì mình đã

Chúng tôi cho rằng tỉ lệ NB được phát hiện thấp hơn so với tỉ lệ chung là do có
một số NB giấu bệnh do tâm lý nặng nề về các bệnh tâm thần vẫn còn tồn tại và có
một số không nhỏ bệnh nhân đi điều trị theo yêu cầu riêng của gia đình.
20
Hiện nay ở Nam Định, người bệnh TTPL được quản lý theo danh sách ở cả 2
chương trình: chương trình Quốc gia và chương trình tỉnh. Cho tới nay, chương trình
đã được triển khai tại khắp 229 xã phường, thị trấn trong toàn tỉnh .
1.10. Một số nghiên cứu về chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt tại
cộng đồng trong và ngoài nước
- Nghiên cứu của Peuter (1985) đã chứng minh rằng khi các triệu chứng báo
hiệu bệnh tâm thần phân liệt được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, khẩn trương (ngoại
trú tại nhà) thì chỉ có 6% người bệnh phải nhập viện lại.
- Theo nghiên cứu của Nguyên Minh Hải tỷ lệ người bệnh TTPL uống thuốc
đều tại thị trấn Vĩnh An chiếm 75%, tuy nhiên vẫn có khoảng 20,4% người bệnh uống
thuốc không đều, và 4,06% NB bỏ điều trị [2].
- Theo Đinh Quốc Thắng và Trần Hữu Bình đánh giá thực hành chăm sóc NB
TTPL ở Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Tỷ lệ gia đình đưa người bệnh đi khám và lĩnh thuốc
đều tại trạm là 91%, cho người bệnh uống thuốc cách là 90%, cho NB uống đúng liều
là 85%, giúp NB hòa nhập cộng đồng chiếm tỷ lệ thấp hơn là 60%[3]. Kết quả này
cho thấy cần phải chú trọng hơn rất nhiều về công tác giúp người bệnh tái hòa nhập
cộng đồng,
- Theo nghiên cứu của Phạm Thanh Hải, tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Đánh giá kiến thức của gia đình khi chăm sóc người bệnh TTPL Kết quả cho thấy cho
thấy có tới 10,2 % số gia đình cho rằng điều trị bệnh TTPL chỉ cần uống thuốc một
thời gian khi bị bệnh, 6,2 % không biết câu trả lời. Như vậy có thể thấy kiến thức
chăm sóc NB TTPL vẫn còn thấp [2].
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
64 người chăm sóc chính người bệnh TTPL tại gia đình ở Nam Định
21

22
- Phần 1: Bao gồm 8 câu hỏi để đánh giá một số thông tin về đối tượng nghiên
cứu như: Quan hệ với người bệnh, tuổi, giới, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thu nhập
bình quân.
- Phần 2: Bao gồm 7 câu hỏi để thu thập một số thông tin về người được chăm
sóc như: Tuổi, giới, lần tái phát, tiền sử gia đình, phản ứng phụ thuốc người bệnh đã
gặp…
- Phần 3: Gồm 17 câu hỏi để khảo sát thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần
phân liệt tại gia đình ở Nam Định: Thực trạng dùng thuốc, thực trạng vệ sinh, dinh
dưỡng, lao động, giao tiếp, khám bệnh định kỳ.
2.6. Các biến số
Thông tin cá nhân người bệnh: tuổi, giới, năm mắc bệnh, số lần tái phát bệnh,
tiền sử gia đình NB.
Thông tin người chăm sóc chính: Tuổi, giới, quan hệ với người bệnh, trình độ
văn hóa, nghề nghiệp, thu nhập bình quân/tháng, Tiếp cận thông tin hướng dẫn cách
chăm sóc NB.
Thực trạng chăm sóc NB tại gia đình: Dùng thuốc, vệ sinh, dinh dưỡng. lao
động và phục hồi chức năng tâm lý, tái khám định kỳ.
Một số yếu tố liên quan tới thực trạng chăm sóc người bệnh TTPL tại gia đình:
tuổi, giới, hoàn cảnh kinh tế gia đình, trình độ văn hóa NCS…
2.7. Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá.
- Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng căn nguyên chưa rõ, bệnh tiến
triển với những rối loạn đặc trưng về tư duy tri giác cảm xúc dẫn đến những rối loạn
cơ bản về tâm lý và nhân cách theo kiểu phân liệt nghĩa là mất dần tính hài hòa, thống
nhất gây ra chia các hoạt động Tâm thần[9].
- Người chăm sóc chính: Là người thường xuyên trực tiếp đưa người bệnh đi khám
bệnh định kỳ, trực tiếp đi lĩnh thuốc, cho NB uống thuốc hàng ngày, đôn đốc, giúp NB làm
vệ sinh cá nhân hàng ngày, trên 18 tuổi và sống cùng NB. [3]
- Cho người bệnh uống thuốc đúng cách là cho người bệnh uống thuốc trước mặt
NCS, kiểm tra xem người bệnh có uống hết thuốc không. thuốc có vào dạ dày không.

24
Giới
Tuổi
Nam Nữ

P
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
18 – 40 1 1,6 5 7,8
> 0,05
41 – 59 15 23,4 26 40,6
≥ 60 8 12,5 9 14,1
Tổng cộng 24 37,5 40 62,5
Nhận xét: Người chăm sóc chủ yếu là nữ giới tỷ lệ cao nhất 62,5%; có 14,1% người
chăm sóc trên 60 tuổi vẫn phải chăm sóc người bệnh.
Bảng 2. Quan hệ của người chăm sóc chính với người bệnh.
TT Quan hệ với NB Số lượng
Tỷ lệ ( %)
1 Bố, mẹ đẻ 20 31,2
2 Anh chị em ruột 11 17,2
3 Con 2 3,1
4 Vợ hoặc chồng 31 48,4
5 Tổng cộng 64 100
Nhận xét: Đối tượng chăm sóc người bệnh TTPL là chính những người thân trong gia
đình sống cùng người bệnh. Vợ hoặc chồng (48,4%), bố mẹ đẻ là 31,2%, Số còn lại là
anh chị em ruột trong gia đình hoặc con của NB,
Bảng 3. Nghề nghiệp người chăm sóc chính.
TT Nghề nghiệp Số lượng Tỷ lệ ( %)
1 Nông dân 42 65,6
2 Công nhân 7 10,9
3 Cán bộ viên chức 4 6,2

thu nhập trên 3 triệu.
Bảng 6. Người chăm sóc được tiếp cận các thông tin hướng dẫn cách chăm sóc
Nội dung Số lượng Tỉ lệ (%) (n=64)
NCS nhận thông tin
hướng dẫn CS NB
Có 47 73,4
Không 17 26,6
Nguồn thông tin
người chăm sóc tiếp
cận được
Nhân viên y tế 42 65,6
Loa phát thanh 25 39,1
Ti vi báo đài 7 10,9
Khác 5 7,8%

Trích đoạn Thực trạng về lao động và phục hồi chức năng tâm lý của người bệnh tại gia đình. Chăm sóc người bệnh tại gia đình * Dùng thuốc và quản lý thuốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status