BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-o0o- Vũ Thị Như Quỳnh NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN
CỦA TỶ GIÁ ĐẾN LẠM PHÁT TẠI
VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh- Năm 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-o0o-
3.2.2. Chênh lệch sản lượng (GAP). 16
3.2.3. Cung tiền (M2), lãi suất (R) 17
3.2.4. Tỷ giá hiệu lực danh nghĩa (NEER) 17
3.2.5. Chỉ số giá nhập khẩu (IMP), Chỉ số giá nhà sản xuất (PPI), Chỉ số giá tiêu
dùng (CPI). 18
3.3. Các bước thực hiện. 18
3.3.1. Kiểm định tính dừng. 18
3.3.2. Ước lượng các hệ số của mô hình và lựa chọn độ trễ. 19
3.3.3. Phản ứng xung 19
3.3.4. Phân rã phương sai 19
Chương 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 20
4.1. Kiểm định tính dừng 20
4.2. Ước lượng mô hình hồi quy VAR. 21
4.3. Hàm phản ứng đẩy 22
4.3.1. Một cú sốc giá dầu 22
4.3.2. Một cú sốc về phía cầu. 23
4.3.3. Cú sốc đến từ chính sách tiền tệ 25
4.3.4. Cú sốc từ biến đổi tỷ giá 27
4.4. Kiểm định Robustness 279
4.5. Phân rã phương sai 30
Chương 5: KẾT LUẬN 32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Tài Liệu Tiếng Việt: 34
Tài liệu tiếng Anh 34
PHỤ LỤC 1. KIỂM ĐỊNH TÍNH DỪNG 35
PHỤ LỤC 2. KẾT QUẢ HỒI QUY VAR VÀ PHẢN ỨNG XUNG 44
mối quan hệ mật thiết với nhau, hình thành nên các khu vực tài chính, một nền kinh
tế toàn cầu. Trong quá trình hội nhập và phát triển tất cả các quốc gia tham gia, bao
gồm cả Việt Nam, tất yếu chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi các biến động về tỷ giá.
Tỷ giá vừa là công cụ điều tiết vĩ mô, vừa là mối đe dọa cho các nền kinh tế. Nó
trực tiếp hay gián tiếp gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính. Bài nghiên cứu này
sẽ tập trung vào phân tích tác động truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát, được biết
với tên gọi Exchange Rate Pass-through (ERPT). Xác định thời điểm và mức độ
truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát trong khoảng thời gian 2000-2012. Từ đó đưa ra
một số khuyến nghị phù hợp dựa trên kết quả nghiên cứu.
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành chương trình cao học tại trường Đại Học Kinh Tế
Thành Phố Hồ Chí Minh, tôi đã nhận được rất nhiều kiến thức cũng như kỹ năng nghiên
cứu từ các thầy cô và bạn bè. Cùng với sự hỗ trợ từ phía gia đình và cơ quan công tác.
Trước tiên, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến TS Lê Thị Khoa Nguyên- người
đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin gởi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô đã tận tình giảng dạy ba
năm học cao học. Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng hộ , giúp đỡ và tạo
- SVAR: Structural vector autoregression- mô hình tự hồi quy vector dạng cấu trúc
- VAR: vector autoregression-mô hình tự hồi quy vector
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các hệ số truyền dẫn
Bảng 4.1 Kết quả kiểm ADF
Bảng 4.2 Lựa chọn độ trễ
Bảng 4.3 Hệ số tác động truyền dẫn của tỷ giá lên các chỉ số giá lạm phát
Bảng 4.4 Phân rã phương sai của chỉ số giá tiêu dùng 1
Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1. Tổng quan bài nghiên cứu.
Các quốc gia với lịch sử riêng của mình đã hình thành cho mình những bản sắc
riêng, trong đó có đồng tiền quốc gia. Khi nền kinh tế ngày càng quốc tế hóa, giao
thương giữa các nước ngày càng phát triển và mở rộng thì vấn đề tỷ giá ngày càng
quan trọng. Nó thể hiện sự kết nối của kinh tế trong nước với kinh tế thế giới. Thông
qua đó những biến đổi trong kinh tế thế giới có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế nội địa
và ngược lại. Biến động về tỷ giá có thể ảnh hưởng đến giá cả hàng nhập khẩu, đến
hoạt động của các nhà xuất khẩu nước ngoài và cũng tác động không nhỏ đến hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nước thông qua giá cả nguyên vật liệu nhập khẩu,
hàng hóa nhập khẩu và dòng vốn đầu tư nước ngoài. Và tác động quan trọng của tỷ giá
đó là tác động truyền dẫn lên lạm phát (ERPT).
Trong một nền kinh tế, khi giải đáp được câu hỏi ERPT có tồn tại hay không và
nó ở mức độ nào thì sẽ phần nào dự báo được lạm phát trong tương lai khi có biến
động tỷ giá và thiết lập chính sách tiền tệ phù hợp trước biến động đó để giữ lạm phát
trong phạm vi mục tiêu đã đề ra.
Kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế còn non trẻ, được hình thành sau chiến
tranh, đã có những khó khăn nhất định về cơ sở vật chất lẫn trình độ quản lý. Tuy
nhiên, vì là một quốc gia phát triển sau nên cũng có được một số lợi thế nhất định như
việc thừa hưởng những thành quả về công nghệ, khoa học, cách quản trị đã rất phát
triển trên thế giới. Đấy là lý do Việt Nam không thể nằm ngoài khối kinh tế toàn cầu.
Bên cạnh những thành tựu đạt được khi thực hiện hội nhập thì chúng ta cũng gặp phải
những vấn đề kinh tế khó giải quyết như: lạm phát cao, mất cân bằng thương mại, đô
la hóa… Nhận ra được vai trò ngày càng quan trọng của tỷ giá nên các nhà hoạch định
1. Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát tại Việt Nam như thế nào?
2. Khi tỷ giá biến động 1% thì các chỉ số giá tại Việt Nam, đặc biệt là lạm
phát thay đổi bao nhiêu? So với các nước trong khu vực và so với các bài nghiên cứu
khác tại Việt Nam thì mức này là cao hay thấp?
3. Với 1% biến động của lạm phát thì tác động của tỷ giá chiếm bao nhiêu
phần trăm trong đó?
1.2. Giới thiệu vấn đề nghiên cứu.
Tùy theo đối tượng nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác
nhau về ERPT. Theo nghiên cứu của Goldberg và Knetter năm 1996 thì ERPT được
hiểu là phần trăm thay đổi của giá nhập khẩu tính bằng đồng tiền nước sở tại do 1%
3
thay đổi của tỷ giá giữa các nước xuất khẩu và nhập nhẩu. Goldberg và Knetter (1996)
đã chỉ ra rằng có 2 kênh truyền dẫn tỷ giá: trực tiếp và gián tiếp. Bài nghiên cứu này
tập trung theo hướng trực tiếp, tức là khi tỷ giá tăng (hay đồng tiền nước sở tại mất
giá) sẽ trực tiếp khiến giá nhập khẩu tính bằng đồng nội tệ tăng. Kênh truyền dẫn gián
tiếp liên quan tới tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước trên thị trường quốc tế. Cụ
thể là khi tỷ giá tăng, hàng trong nước rẻ tương đối hơn so với hàng nước ngoài dẫn
đến xuất khẩu tăng kéo theo cầu lao động và tiền lương tăng, từ đó giá tiêu dùng tăng
theo. Mặt khác, hàng nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn thì cầu mặt hàng thay thế cho nó
cũng có thể tăng cả về số lượng lẫn giá cả đẩy giá tiêu dùng tăng.
Còn McCarthy (2000) dưới góc độ vĩ mô hơn thì ERPT là tác động của tỷ giá và
giá nhập khẩu đến lạm phát. Theo chúng tôi, ERPT là tác động truyền dẫn của tỷ giá
đến các chỉ số giá trong nước, bao gồm chỉ số giá nhập khẩu IMP, chỉ số giá sản xuất
PPI và chỉ số giá tiêu dùng CPI, trong đó bao gồm cả tác động trực tiếp đến từng các
mức chỉ số giá và tác động gián tiếp theo chu trình giá. Có nghĩa là tác động trực tiếp
của tỷ giá đến IMP, đến PPI và đến CPI. Còn về mặt gián tiếp, khi tỷ giá biến đổi thì
IMP sẽ chịu tác động trước tiên, biến động trong IMP sẽ kéo theo biến động đến PPI
và cuối cùng là tác động của PPI lên chỉ số giá tiêu dùng CPI. Cơ chế này có thể được
tóm tắt theo mô hình sau:
Nguồn: Laflèche (1996)
Tỷ giá tăng
(VND giảm giá)
Tác động trực
Tác động gián
Giá tiêu dùng tăng
Đầu vào nhập
khẩu đắt hơn
Chi phí sản
xuất tăng
Hàng hóa nhập
khẩu đắt hơn
Cầu nội địa
hàng Việt thay
Cầu xuất khẩu
tăng
Hàng Việt thay
thế và xuất
Thứ hai, Dornbusch sử dụng các mô hình tổ chức công nghiệp để giải thích cho
việc điều chỉnh giá theo mức độ tập trung của thị trường, mức độ đồng nhất và có thể
thay thế của hàng hóa và thị phần của các doanh nghiệp trong và ngoài nước có liên
quan. Nếu thị trường càng tập trung nhiều hàng hoá và nhiều doanh nghiệp hoạt động
sản xuất kinh doanh cùng 1 mặt hàng thì giá sẽ phản ứng càng nhạy với sự thay đổi
của tỷ giá nên với cùng một mức tăng của đồng USD thì giá sẽ giảm càng lớn. Trường
hợp hàng hóa có tính đồng nhất thì các doanh nghiệp trong nước sẽ giảm giá hoàn
6
toàn. Nếu sản phẩm có tính riêng biệt, khi tỷ giá tăng thì hàng nhập khẩu sẽ chịu tác
động trước và giảm nhiều hơn so với hàng trong nước. Mức độ giảm sẽ phụ thuộc vào
mức độ cạnh tranh và số lượng các doanh nghiệp nước ngoài và trong nước trong
ngành. Nếu thị trường càng cạnh tranh và càng nhiều doanh nghiệp tham gia thì mức
độ giảm càng tăng và càng nhanh hơn.
Tuy nhiên, do nghiên cứu trong khoảng thời gian ngắn nên các giả định có vẻ là
phù hợp. Nhưng trong dài hạn thì các giả định này có thể không còn phù hợp nữa. Giả
định đó là mức lương là không phản ứng lại với những biến đổi trong đầu ra và lợi
nhuận, và số lượng và vị trí của doanh nghiệp trong 1 ngành không bị ảnh hưởng.
Nhưng trong dài hạn thì doanh nghiệp sẽ tìm cách giảm chi phí nhân công bằng cách
chuyển sang các lĩnh vực có chi phí này rẻ hơn và do đó vị thế của doanh nghiệp trong
ngành đó cũng thay đổi.
Kết luận là ERPT là có tồn tại và mức độ ERPT sẽ khác nhau ở các thị trường
khác nhau. Các bài nghiên cứu sau đây sẽ giải thích rõ hơn nguyên nhân hay các nhân
tố ảnh hưởng đến sự khác biệt về ERPT này.
2.2. Định giá theo thị trường (Pricing to market).
“Pricing to market when the exchange rate changes”-Paul Krugman (1986) là
một bài nghiên cứu tìm hiểu sơ lược về mức độ thực tế của việc định giá theo thị
trường (Pricing to market) và nguyên nhân của hiện tượng này bằng một số mô hình ở
thị trường Mỹ, các nước Châu Âu. Định giá theo thị trường ở đây được hiểu là việc
các doanh nghiệp xuất khẩu phản ứng với biến động tỷ giá thông qua việc điều chỉnh
truyền dẫn của tỷ giá, tức là một môi trường lạm phát thấp có xu hướng hỗ trợ cho tác
động truyền dẫn của tỷ giá thấp. Vì lạm phát có quán tính, mức lạm phát thấp ở hiện
tại có thể dẫn đến lạm phát thấp ở tương lai và lạm phát cao thường dự đoán lạm phát
cao ở tương lai.
Nguyên nhân tiếp theo là lạm phát có độ biến động càng nhỏ và ổn định thì
doanh nghiệp càng khó chuyển việc tăng chi phí sang giá bán của sản phẩm khi tỷ giá
biến động hay do các nhân tố khác, do đó ERPT càng thấp. Còn trong môi trường lạm
phát cao và kéo dài thì kỳ vọng lạm phát cao do tác động của 1 cú sốc tỷ giá sẽ khiến
cho giá nhập khẩu thay đổi và ERPT cao.
Tác động của tỷ giá giảm dần theo mô hình định giá trong chuỗi sản xuất đó là
giá nhập khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng. Ngoài ra Taylor cho rằng sự ổn định
8
tương đối của chính sách tiền tệ có tác động nhất định đến ERPT. Chính sách tiền tệ
càng ổn định kết hợp với lạm phát thấp sẽ làm giảm đáng kể mức độ truyền dẫn.
Vậy Taylor đã cho ta thấy thêm 3 yếu tố ảnh hưởng đến ERPT: năng lực định giá
của doanh nghiệp, lạm phát ở hiện tại và chính sách tiền tệ.
2.3. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng ở các thị
trường phát triển.
“Pass-Through of Exchange Rates and Import Prices to Domestic Inflation in
Some Industrialized Economies”- Jonathan McCarthy (2000) là bài nghiên cứu chính
mà chúng tôi sử dụng. Bài này nghiên cứu tác động của tỷ giá và giá nhập khẩu đến
lạm phát trong nước tại 9 nền kinh tế phát triển: Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Bỉ,
Hà Lan, Thụy Điển và Thụy sỹ từ 1976 đến 1998. Tác giả phân tích những khác biệt
về ERPT giữa các nước và giữa các khoảng thời gian khác nhau bằng cách sử dụng mô
hình véctơ tự hồi quy cấu trúc (SVAR) với 8 biến ở từng thị trường. Giá dầu đại diện
cho cú sốc phía cung từ bên ngoài, chênh lệch sản lượng đặc trưng cho cú sốc từ phía
cầu. Lãi suất ngắn hạn và cung tiền đại diện cho các yếu tố vĩ mô. Và cuối cùng là các
biến về tỷ giá và giá cả trong nước. Xem xét tác động qua lại giữa các biến và giữa giá
trị trong quá khứ và hiện tại của các biến. Dựa trên giả định biến đổi của 1 yếu tố
các thị trường mới nổi với đặc trưng năng động hơn của thị trường cũng như những
non yếu trong quản lý vĩ mô sẽ cho ta thấy ERPT ở mức độ và phạm vi khác đi. Tháng
3 năm 2007, Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn và Marcelo Sánchez với bài “Exchange
rate passthrough in emerging markets” nghiên cứu ở 12 thị trường mới nổi: Châu Á,
Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu.
Tương tự Mc Carthy (2000), bài nghiên cứu này cũng sử dụng phương pháp
VAR với 6 biến (giá dầu, sản lượng, tỷ giả, chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng
và lãi suất) để đi đến các kết luận sau:
- Tác động truyền dẫn giảm dần theo chu trình giá, tác động lên giá nhập khẩu
lớn hơn lên giá tiêu dùng. Một năm sau cú sốc tỷ giá, tác động truyền dẫn lến giá nhập
khẩu ở Argentina, Chile, Hungary, Mexico, Phần Lan và Thổ nhỉ kỳ quanh giá trị 1. Ở
Cộng Hoà Séc và Nhật Bản thấp hơn. Và thấp nhất là ở các nước Châu Á.
- Không phải lúc nào ERPT ở các thị trường mới nổi đều lớn hơn ở các nước
phát triển. Nhất là trong môi trường lạm phát thấp (điển hình là ở các nước Châu Á)
thì tác động truyền dẫn lên giá tiêu dùng khá nhỏ.
- Có bằng chứng cho mối liên hệ cùng chiều giữa mức độ ERPT và lạm phát. Kết
quả này ủng hộ cho quan điểm của Taylor về mối quan hệ giữa ERPT và lạm phát.
10
2.5. Bài nghiên cứu ở Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích tổng quan chính sách kinh tế và tiền tệ của Việt Nam sau
chiến tranh, “Exchange rate pass-through and its implications for imflation of Viet
Nam” của tác giả Võ Văn Minh (2009) cho ta thấy cái nhìn tổng thể về lịch sử và quá
trình thay đổi của kinh tế Việt Nam. ERPT trong nghiên cứu này được định nghĩa là
phần trăm thay đổi trong giá nhập khẩu do một phần trăm thay đổi trong tỷ giá.
Phương pháp VAR được sử dụng để tìm mức độ ERPT vào giá cả trong nước với các
biến: tỷ giá NEER, chênh lệch sản lượng GAP, chỉ số giá tiêu dùng CPI, chỉ số giá
nhập khẩu IMP và khối lượng tiền lưu thông M2. Hàm phản ứng của các biến có liên
quan được trình bày bên dưới được dự đoán qua một thời gian phạm vi 24 tháng. Sử
dụng phương pháp Cholesky để tìm tác động của một nhân tố lên một nhân tố khác tùy
Nam-Võ Văn Minh (2009)
Như vậy mức độ tác động của ERPT đến Việt Nam được đánh giá là ở mức vừa
phải do đó tác giả đã khuyến nghị nên áp dụng một chính sách tiền tệ nới lỏng hơn để
đối phó với các biến động của thị trường.
Bài nghiên cứu về Việt Nam gần đây và cũng được đánh giá cao là bài nghiên
cứu của tác giả Bạch Thị Phương Thảo: Truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá
tại Việt Nam giai đoạn 2001-2011. Tác giả sử dụng phương pháp VAR kết hợp với
phương pháp phân rã phương sai và hàm phản ứng đẩy để đưa ra một số kết luận:
- Tỷ trọng hàng lương thực thực phẩm trong rổ hàng hoá tính CPI không phải là
nguyên nhân khiến lạm phát ở Việt Nam cao.
12
- Khẳng định vai trò của cung tiền trong việc làm tăng lạm phát.
- Nhập siêu cũng không phải là nguyên nhân chính khiến lạm phát cao.
- Kỳ vọng lạm phát cao và việc sử dụng đồng vốn không hiệu quả cũng là
nguyên nhân khiến lạm phát cao.
Gần đây có thêm bài “Sự chuyển dịch tỷ giá hối đoái vào các mức giá tại Việt
Nam” của PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang và ThS. Lục Văn Cường, tập trung
xem xét tính bất cân xứng của sự chuyển dịch này. Các tác giả sử dụng mô hình
điều chỉnh sai số cho sự chuyển dịch của tỷ giá vào giá nhập khẩu (giai đoạn 1) và
phương pháp VAR cho sự dịch chuyển của tỷ giá và giá nhập khẩu vào giá nội địa
(giai đoạn 2). Bài nghiên cứu này đưa ra các kết luận sau:
- Phân tích sự chuyển dịch giai đoạn 1 cho thấy: Có sự chuyển dịch tỷ giá hoàn
toàn vào giá nhập khẩu trong dài hạn. Chi phí sản xuất nước ngoài cũng được
dịch chuyển hoàn toàn trong dài hạn. Sự chuyển dịch lớn vào giá nhập khẩu
trong giai đoạn những thay đổi của tỷ giá nhỏ và sự chuyển dịch nhỏ trong
những giai đoạn thay đổi tỷ giá lớn. Và không có sự chuyển dịch bất cân xứng
trong dài hạn đối với sự thay đổi tỷ giá lớn và sự thay đổi tỷ giá nhỏ.
- Kết quả kiểm định giai đoạn 2 cho thấy mức độ chuyển dịch giảm dần từ giá
nhập khẩu đến giá tiêu dùng. Cuối cùng là tác động của chỉ số giá sản xuất là có
Y
1,t
= a
1,0
+ a
1,1
Y
1,t-1
+…+ a
1,p
Y
1,t-p
+ a
1,p+1
Y
2,t
+…+ a
1,2p
Y
2,t-p
+…+ a
1,p+k-1
Y
k,t
+…+
a
1,kp
Y
k,t-p
+ ε
t
= A
0
+ A
1
Y
t-1
+…+ A
p
Y
t-p
+ E
t
(2)
Với Y
t
=
, E
t
= được gọi là vector các cú sốc cấu trúc , A
0
=
A là ma trận hiệp phương sai của các tham số mô tả quan hệ của các biến ở thời
điểm t
A=
,
A
1
là ma trận hiệp phương sai của các tham số mô tả quan hệ của các biến ở thời
t
U
t
là ma trận vector các cú sốc mới, là sự kết hợp các cú sốc của tất cả các biến.
Do đó, sau khi ước lượng mô hình VAR rút gọn thì chúng tôi sử dụng hàm phản ứng
đẩy theo phương pháp Cholesky để nhìn thấy được ảnh hưởng của từng cú sốc riêng
biệt. Các bước xử lý dữ liệu và ước lượng cũng như kiểm định mô hình được thực hiện
bằng Eview 6.0.
Phương pháp Cholesky
15
Phương pháp này dùng để phân tích một ma trận thành tích của hai ma trận: ma
trận tam giác dưới và ma trận chuyển vị của nó. Điều này hàm ý rằng với cùng một
thời kỳ thì các biến được xếp bên dưới không có ảnh hưởng đến các biến ở trên mà chỉ
có các biến ở trên ảnh hưởng đến các biến ở phía dưới. Nói cách khác, biến động của
các biến được xếp ở phía trên không bị phụ thuộc vào các biến ở phía sau trong cùng
một kỳ.
Do đó việc lựa chọn thứ tự sắp xếp của các biến sẽ có ảnh hưởng nhiều đến kết
quả nghiên cứu. Như đã đề cập ở phần trên, trong bài nghiên cứu này chúng tôi ứng
dụng thứ tự mà McCarthy (2000) đã sử dụng. Cụ thể như sau:
Biến giá dầu: do Việt Nam là một quốc gia nhỏ, cũng không phải là nguồn cung
cấp dầu chính cho thế giới nên xét cả về phía cung hay cầu thì Việt Nam vẫn là nước
nhận mức giá của sản phẩm này. Do đó giá dầu không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ các
biến nào ở cùng thời kỳ.
Biến sản lượng được đặt sau giá dầu cũng vì lý do tương tự. Biến sản lượng được
đặt trước cung tiền M2 và lãi suất R thể hiện các chính sách tiền tệ thường được điều
chỉnh theo sau thị trường. Tuy nhiên M2 và R lại được đứng trước tỷ giá, thể hiện cho
ảnh hưởng của chính sách tiền tệ lên tỷ giá và lạm phát.
Các biến đại diện cho lạm phát (IMP, PPI, CPI) được đặt cuối cùng theo chu
trình giá để cho thấy được ảnh hưởng của các biến khác lên giá cả trong nước. Bài
yếu tố mùa vụ bằng phương pháp Census X12. Là một phương pháp được được Tổng
cục thống kê Hoa Kỳ xây dựng và phát triển, được sử dụng ngày càng rộng rãi trong
việc tách yếu tố mùa vụ khỏi dữ liệu chuỗi thời gian. Công cụ này được tích hợp sẵn
trong phần mềm Eview mà chúng tôi sử dụng.
3.2.2. Chênh lệch sản lượng (GAP).
GAP là chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng. Sản lượng
tiềm năng là sản lượng ở mức toàn dụng của nền kinh tế. Do đó GAP đại diện cho áp
lực từ phía cầu của nền kinh tế. GDP thực của Việt Nam được thu thập từ Datastream
và thực hiện đối chiếu với số liệu theo năm của tổng cục thống kê Việt Nam (GSO).
GDP tiềm năng được tính toán bằng cách sử dụng bộ lọc Hodrick-Prescott. Công cụ
này tách GDP thực tế thành 2 thành phần: thành phần xu hướng (Trend) và thành phần
chu kỳ (Cycle). Thành phần xu hướng được coi là GDP tiềm năng. Thành phần còn lại
là GAP được thể hiện ở đường bên dưới trong hình sau: